Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về năng lực cạnh tranh ngành vận tải biển. Chương 2: Cơ sở khoa học của việc nâng cao năng lực cạnh tranh ngành vận tải biển. Chương 3: Thực trạng năng lực cạnh tranh và những yếu tố tác động đến năng lực cạnh tranh của ngành vận tải biển Việt Nam. Chương 4: Định hướng và giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh ngành vận tải biển Việt Nam đến năm 2030.
TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH NGÀNH VẬN TẢI BIỂN 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố trong và ngoài nước về năng lực cạnh tranh ngành vận tải biển NLCT về VTB đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước nghiên cứu, tiếp cận theo các cách khác nhau và phạm vi khác nhau. Những nghiên cứu này sử dụng các phương pháp khác nhau và tiếp cận theo các cấp độ cạnh tranh khác nhau, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT của ngành, đưa ra các khuyến nghị về chính sách và các giải pháp nhằm nâng cao NLCT của ngành, của DN và của quốc gia về VTB. Điển hình phải kể đến các công trình sau: 1.1 Tổng quan các công trình nghiên cứu ngoài nước - Công trình nghiên cứu [58]“The competitive Advantage of Nations” của M.Porter, Macmillan (1990) về lý thuyết NLCT, đã đề cập đến NLCT của một ngành công nghiệp.Porter đã đưa ra mô hình cho phép phân tích và giải thích nguồn gốc lợi thế cạnh tranh của một quốc gia trong một ngành công nghiệp nhất định, từ đó giải thích vì sao một quốc gia có thể thành công với ngành công nghiệp đó. Trong nghiên cứu của mình, khi đặt câu hỏi "Tại sao một quốc gia gặt hái được thành công quốc tế trong một ngành công nghiệp nhất định?", M.Porter đã cho rằng câu trả lời nằm trong bốn thuộc tính lớn của một quốc gia.
Bốn thuộc tính đó định hình môi trường cạnh tranh cho DN trong nước, thúc đẩy hay kìm hãm việc tạo lập lợi thế cạnh tranh. Bốn thuộc tính này, tạo thành một hệ thống "hình thoi" tự củng cố lẫn nhau, bao gồm: các điều kiện về yếu tố sản xuất (factor conditions); các điều kiện về cầu (demand conditions); các ngành hỗ trợ và liên quan có tính cạnh tranh quốc tế (related and supporting industries); chiến lược DN, cấu trúc và đặc tính của môi trường cạnh tranh trong nước (firm strategy and rivalry). - Công trình nghiên cứu [55] “Innovation and competitiveness” của J.Nelson, Oxford University Press (2003) nghiên cứu về lý thuyết NLCT, nhấn mạnh tầm quan trọng của đổi mới công nghệ trong các cấp độ cạnh tranh. Khi phân tích so sánh NLCT giữa các quốc gia, 7 giữa các ngành và giữa các DN lớn dạng tập đoàn quốc tế, NLCT có nguồn gốc từ việc tạo ra những khác biệt cần thiết cho việc duy trì sự tăng trưởng trong một môi trường cạnh tranh quốc tế.
Trong nghiên cứu này, tác giả đã tiếp cận NLCT ngành dưới góc độ tổng thể, tức là NLCT của toàn ngành trong tương quan ngành của quốc gia này với ngành của quốc gia khác. Tác giả nhấn mạnh vai trò của yếu tố lợi thế quốc gia trong việc tạo dựng và củng cố NLCT của ngành. Cách tiếp cận này mang lại nhiều kết quả và ý nghĩa hơn trong việc định hướng tổng thể và hiệu quả chính sách phát triển ngành. - Công trình nghiên cứu [61]“Factors Influencing Freight Service Choice for Shippers and Freight Suppliers”của tác giả Sheelagh Matear và Richard Gray, International Journal of Physical Distribution & Logistics Management, Vol.25-35 (1993) nghiên cứu về hành vi của các chủ hàng và các nhà cung cấp hàng hoá lựa chọn dịch vụ vận chuyển hàng hoá nói chung và lựa chọn phương tiện vận tải nói riêng.
Tác giả đã chỉ ra các yếu tố rất quan trọng trong việc lựa chọn các dịch vụ vận chuyển hàng hóa bằng đường biển và lựa chọn phương tiện vận tải. Hành vi lựa chọn phương tiện vận tải (tàu) dựa trên hai nhóm yếu tố khác nhau: nhóm thứ nhất quyết đinh thời gian vận chuyển (công nghệ tàu, chủng loại tàu, tốc độ vận tải, cảng bốc xếp, khai thác tàu…); nhóm thứ hai quyết định giá cước vận tải (trọng tải tàu, tàu chuyên dụng, khai thác hàng hóa, loại hàng hoá vận tải…). Thông qua kết quả điều tra, tác giả chứng minh rằng: yếu tố “giá cước vận tải” hay “khả năng vận doanh của tàu” là quan trọng nhất đối với các chủ hàng, trong khi yếu tố “thời gian vận chuyển” lại được các nhà cung cấp hàng hóa đánh giá quan trọng hơn. Vì vậy để cải thiện khả năng cạnh tranh và giành giật thị phần vận tải, các chủ tàu phải cải thiện được hai nhóm yếu tố này: giảm giá cước vận tải và tăng thời gian vận chuyển.
Tác giả nhấn mạnh đến yếu tố quyết định trong cạnh tranh VTB của các chủ tàu để giảm giá cước và tăng thời gian vận chuyển là phải có đội tàu mạnh và quản lý khai thác tàu tốt. - Công trình nghiên cứu [57] “Service quality and customer satisfaction in liner shipping” của tác giả Kum Fai Yuen và Vinh Van Thai, Nanyang Technological University, Singapore (2015) đã dựa trên kết quả khảo sát hiệu 8 ứng về sự hài lòng của 183 chủ hàng ở Singapore, tác giả đưa ra cách đánh giá NLCT trong VTB. Theo nghiên cứu của tác giả, NLCT trong VTB được đánh giá bằng chất lượng VTB (service quality - SQ). Tác giả xây dựng bốn tiêu chí đánh giá chất lượng VTB (xếp theo thứ tự giảm dần tác động đối với sự hài lòng của khách hàng) bao gồm: mức độ tin cậy (về năng lực vận tải); thời gian vận tải (về tốc độ tàu và xếp dỡ hàng hoá); khả năng đáp ứng (về rào cản kỹ thuật); giá trị vận tải (về doanh thu và giá cước vận tải).
Tác giả quan điểm về cạnh tranh chất lượng VTB: giảm thời gian VTB sẽ đem lại sự hài lòng của khách hàng lớn hơn so với vấn đề chi phí VTB. Vì vậy, vấn đề cạnh tranh VTB là phải cải thiện được chất lượng VTB. Tác giả cũng xây dựng mô hình đo lường SQ giúp cho các DN tự đánh giá chất lượng VTB của họ, đồng thời biết cách phân bổ nguồn lực để phát triển SQ trong các DN VTB. - Công trình nghiên cứu [47] “Teekay Shipping Corporation case analysis” của tác giả Angela Poulakidas, Journal of Business Strategy, Vol.
35 Iss: 2, page 26-35 (2014) đề cập đến cạnh tranh ngành VTB theo NLCT cấp độ DN và cho rằng nguyên nhân gốc của NLCT ngành VTB là do chiến lược kinh doanh của DN. Tác giả chứng minh: trong những năm vừa qua, khi áp lực cạnh tranh và cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới bắt đầu từ 2008 đến nay, hầu hết các chủ tàu chở dầu và các nhà khai thác vận tải đều rơi vào khó khăn tài chính, tuy nhiên trường hợp thành công của hãng vận tải quốc tế Teekay Shipping lại là một trường hợp ngoại lệ. Teekay Shipping là một trong những hãng tàu vận tải dầu lớn trên thế giới hiện nay vẫn phát triển bền vững VTB và gặt hái lợi nhuận cao. Đó là vì chiến lược kinh doanh của hãng biết khai thác các lợi thế cụ thể kiểu đặc trưng mẫu Teekay và thay đổi nhanh chóng các điều kiện cạnh tranh để tạo lợi riêng biệt Teekay.
Bằng phân tích của mình, tác giả cho rằng chiến lược kinh doanh của DN quyết định NLCT giữa các DN vận tải. Phân tích về chiến lược của Teekay chú trọng vào các yếu tố: công nghệ vận tải hiện đại, đội tàu trọng tải siêu lớn và khai thác tàu hiệu quả. Khi điều kiện cạnh tranh bất lợi, hiệu quả với đội tàu hiện tại giảm thì Teekay đã thay đổi chiến lược, chuyển từ khai thác đội tàu hiện tại không hiệu quả sang khai thác đội tàu vận tải có trọng tải siêu lớn, chạy tuyến xa và khai thác thị trường hàng hoá mới 9 có hiệu quả vận tải cao hơn, nghĩa là phải thay đổi chiến lược kinh doanh phù hợp với xu hướng cạnh tranh vận tải hiện hành. - Công trình nghiên cứu [53] “Measuring the competitiveness of container ports: logisticians' perspectives”của tác giả Gi Tae Yeo, University of Incheon, South Korea (2011) tiến hành đo lường khả năng cạnh tranh VTB thông qua kết quả khảo sát các cảng chuyên dụng container khu vực Đông Bắc Á bao gồm: cảng Hongkong, Busan, Shanghai, Kaohsuing, Shenzhen, Qingdao và Tokyo.
Kết quả là cảng Hongkong được xếp hạng số điểm cao nhất, sau đó là cảng Shanghai và thấp nhất là cảng Busan. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến NLCT cảng container ở Đông Bắc Á, tác giả xây dựng phương pháp để đo lường và đánh giá khả năng cạnh tranh các cảng container dựa trên các yếu tố: điều kiện tự nhiên sẵn có, hạ tầng cảng biển, các yếu tố thuận lợi cho xếp dỡ hàng, thủ tục và chi phí dịch vụ. Từ nghiên cứu mẫu các cảng Đông Bắc Á, tác giả cho rằng có thể áp dụng đánh giá khả năng cạnh tranh VTB container các quốc gia trên thế giới theo các yếu tố trên, gồm: khả năng tự nhiên về VTB, cơ sở vật chất VTB, tính chuyên nghiệp và chuyên dụng của VTB, môi trường VTB và giá cước vận tải. - Công trình nghiên cứu [45] “Managing variability in ocean shipping” của tác giả Alan Harrison, Cranfield Bedford of University, UK (2013) cho rằng NLCT VTB và hiệu quả khai thác VTB nằm ở chỗ hạn chế tối đa sự thay đổi về kích thước hàng hóa từ trong kho ra cầu cảng, xuống tàu, VTB đến cảng và ngược lại.
Vì vậy, tác giả xây dựng mô hình xếp dỡ dựa trên các công nghệ bố trí xếp dỡ hàng và tính toán so sánh hiệu quả vận tải giữa hàng chuyên dụng quy chuẩn về kích thước với hàng hoá thông thường khác. Từ đó, tác giả đưa ra kết luận quan trọng: kinh tế và hiệu quả tối ưu nhất trong VTB các quốc gia phụ thuộc vào tính chuyên dụng hóa tất cả các công đoạn từ: hàng đóng chuẩn (như container), tàu chuyên dụng chở hàng (như tàu container), dây chuyền bốc xếp chuyên dụng và cảng chuyên dụng (như cảng container). Đồng thời tác giả nhấn mạnh rằng: yếu tố chuyên dụng và yếu tố công nghệ kỹ thuật chuyên dụng là lợi thế cạnh tranh lớn nhất trong VTB hiện nay, quyết định NLCT giữa các hãng VTB quốc tế, đem lại hiệu quả vận tải và hiệu quả quản lý khai thác tàu cao nhất.