LỜI MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Ngành thép là một ngành công nghiệp nặng then chốt trong nền kinh tế quốc dân, là đầu vào cho rất nhiều các ngành công nghiệp khác. Tuy nhiên, thực tế những năm gần đây ngành thép Việt Nam luôn phải đối mặt với một loạt những khó khăn trong tiêu thụ sản phẩm, công nghệ, đầu vào. Đứng trƣớc thực trạng này, vấn đề làm thế nào để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành thép Việt Nam, đƣa công nghiệp sản xuất thép lên một tầm cao mới đủ sức cạnh tranh với các sản phẩm cùng loại nhập từ ngƣớc ngoài đồng thời có thể hƣớng mạnh ra xuất khẩu đã trở thành yêu cầu lớn cần có lời giải đáp.
Mục tiêu nghiên cứu Đề tài tập trung nghiên cứu, xây dựng khung lý thuyết để đánh giá năng lực cạnh tranh ngành thép xây dựng của Việt Nam. Nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh của ngành thép xây dựng Việt Nam thông qua các chỉ tiêu đánh giá và các nhân tố ảnh hƣởng. Từ đó đề xuất các giải pháp góp phần tăng sức cạnh tranh của ngành thép Việt Nam ở thị trƣờng trong nƣớc, từng bƣớc hƣớng ra xuất khẩu. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Phân tích những cơ sở làm tiền đề cho sự phát triển của ngành thép Việt Nam.
Qua đó tìm ra những hạn chế đang tồn tại trong năng lực cạnh tranh của ngành này và đƣa ra những giải pháp khắc phục để khắc phục vấn đề. Phƣơng pháp nghiên cứu: - Phƣơng pháp nghiên cứu tổng hợp: phân tích xu thế, so sánh chéo - Phƣơng pháp phân tích, thống kê 5. Tình hình nghiên cứu Việc nghiên cứu năng lực cạnh tranh của một ngành công nghiệp đã đƣợc rất nhiều tác giả trong và ngoài nƣớc nghiên cứu, theo các cách tiếp cận khác nhau và trên phạm vi khác nhau. - Nghiên cứu của M.Porter - Chƣơng II cuốn “Competitiveness: Theory and Methodology” của Jordan ii - Báo cáo về Năng lực cạnh tranh Việt Nam 2009 – 2010 do CIEM phối hợp với Viện Năng lực cạnh tranh Châu Á của GS M.Porter - “Báo cáo nghiên cứu thị trƣờng thép xây dựng tại Việt Nam” của Công ty tƣ vấn thiết kế dịch vụ đầu tƣ (INFISCO) – Bộ công nghiệp Trong chừng mực nhất định, các công trình nghiên cứu nói trên đã đề cập đến cơ sở lý luận và thực tiễn của ngành thép Việt Nam ở một số khía cạnh và mức độ khác nhau.
Tuy nhiên việc nhìn nhận năng lực cạnh tranh ngành thép dƣới một hệ thống thƣớc đo các thành tích kinh tế một cách đầy đủ đồng thời đánh giá các nhân tố ảnh hƣởng tới năng lực cạnh tranh của ngành thông qua các yếu tố thuộc lợi thế cạnh tranh quốc gia và các yếu tố quốc tế vẫn chƣa đƣợc nhiều nghiên cứu đề cập tới một cách triệt để. CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH 1. Các khái niệm cơ bản về cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của ngành 1. Năng lực cạnh tranh 1.
Các cấp năng lực cạnh tranh 1.1 Năng lực cạnh tranh sản phẩm 1.2 Năng lực cạnh tranh doanh nghiệp 1.3 Năng lực cạnh tranh ngành 1.4 Năng lực cạnh tranh quốc gia 1. Các yếu tố ảnh hƣởng đến năng lực cạnh tranh của ngành Trong quá trình nghiên cứu về lợi thế cạnh tranh quốc gia cũng nhƣ năng lực cạnh tranh của một quốc gia, Michael Porter đã đƣa ra một mô hình có thể sử dụng nhƣ là khuôn khổ phân tích các yếu tố tác động tới năng lực cạnh tranh của một ngành. Theo lý thuyết này, lợi thế cạnh tranh quốc gia đƣợc thể hiện ở sự liên kết của bốn nhóm yếu tố. Bao gồm: * Điều kiện các yếu tố sản xuất * Điều kiện về cầu * Các ngành công nghiệp hỗ trợ và có liên quan iii * Chiến lƣợc cơ cấu và mức độ cạnh tranh của ngành Ngoài ra còn có hai yếu tố tác động tới cả bốn yếu tố cơ bản trên là chính sách của Chính phủ và vai trò của cơ hội.
Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của ngành thép xây dựng 1. Năng suất lao động 1. Các chỉ số về đầu tư trực tiếp nước ngoài 1. Thị phần xuất khẩu 1.
Thị phần nhập khẩu 1. Các phƣơng pháp đánh giá năng lực cạnh tranh ngành thép xây dựng - Phƣơng pháp định lƣợng: sử dụng các tiêu chí để đánh giá - Phƣơng pháp định tính: phân tích các yếu tố ảnh hƣởng thông qua mô hình kim cƣơng CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA NGÀNH THÉP XÂY DỰNG VIỆT NAM 2. Tổng quan về ngành thép xây dựng Việt Nam Thép xây dựng có thể nói là sản phẩm chính của ngành thép Việt Nam do đầu tƣ vào sản phẩm này cần ít vốn, thời gian xây dựng nhà máy ngắn, hiệu quả tƣơng đối cao. Hiện nay, sản phẩm thép xây dựng sản xuất trong nƣớc mới chỉ đáp ứng đƣợc nhu cầu thông dụng, còn lại hầu hết phải nhập khẩu.
Sản xuất trong nƣớc chủ yếu ở khâu hạ nguồn, giá trị gia tăng thấp. Cầu thép xây dựng: Trong thời gian qua, nhu cầu sử dụng thép xây dựng đƣợc gia tăng không ngừng cả về số lƣợng và chất lƣợng. Bảng 1: Sản lƣợng tiêu thụ, tốc độ tăng trƣởng về tiêu thụ của thép xây dựng Tiêu thụ (Tấn) Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 2.000 Tốc độ tăng trƣởng tiêu thụ Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm 2004/2004 2005/2004 2006/2005 2007/2006 2008/2007 2009/2008 2010/2009 10,47% 12,45% 17,1% -2,77% 31,3% 22,2% Nguồn: Tính toán từ số liệu của Bộ công thương iv Nhƣ vậy, sản lƣợng sử dụng thép xây dựng của Việt Nam trong những năm gần đây gia tăng không ngừng, năm sau cao hơn năm trƣớc, tuy nhiên tổng cầu thép xây dựng của Việt Nam lại có quy mô nhỏ. Cung thép xây dựng: Quy trình sản xuất thép xây dựng hoàn chỉnh có thể mô tả thông qua các công đoạn sau: Xét về cơ cấu năng lực sản xuất thép theo các công đoạn này thì hoạt động sản xuất thép ở Việt Nam tập trung nhiều ở công đoạn hạ nguồn, chủ yếu ở khâu cán thép.
Xét về sản lƣợng sản xuất, trong thời gian qua tốc độ sản xuất thép xây dựng không ngừng tăng cao: Bảng 2: Sản lƣợng sản xuất và tốc độ tăng trƣởng của thép xây dựng Sản xuất (Tấn) Năm 2004 Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010 2.000 Tốc độ tăng trƣởng cung ứng Năm Năm Năm Năm Năm Năm Năm 2004/2004 2005/2004 2006/2005 2007/2006 2008/2007 2009/2008 2010/2009 12,6% 3,5% 12,4% 5,5% 44,5% 26,06% Nguồn: Tính toán từ số liệu của Bộ công thương v Từ bảng trên có thể thấy sản xuất thép có sự tăng trƣởng tƣơng đối đều hàng năm từ 2004-2010 với lƣợng thép sản xuất hàng năm tăng dần từ 2,3 triệu tấn năm 2004 lên tới 5,9 triệu tấn năm 2010. Hiện nay, phần lớn các doanh nghiệp sản xuất thép của Việt Nam mới khai thác đƣợc 50% công suất thiết kế. Về mặt công nghệ và thiết bị của ngành còn ở quy mô nhỏ bé và lạc hậu, công suất nhỏ hơn rất nhiều so với các dây chuyền trên thế giới. Phân tích các yếu tố ảnh hƣởng tới ngành thép xây dựngViệt Nam 2.
Các yếu tố sản xuất Đối với Việt Nam, các điều kiện về yếu tố sản xuất bao gồm các điều kiện về nguyên liệu đầu vào, nguồn lực lao động và năng lực về công nghệ. Nguyên liệu đầu vào Sau đây là bảng đánh giá về trữ lƣợng và chất lƣợng quặng hiện có trong các mỏ quặng ở Việt Nam: Bảng 3: Tiềm năng quặng sắt các mỏ sắt chính ở Việt Nam Loại Hàm lƣợng Trữ lƣợng địa Trữ lƣợng khai STT Tên mỏ quặng Fe (%) chất (Tr.T) Thạch Manhetit 1 61 544 320 Khê Mactit 2 Quý Xa Limonit 53 120 98 Manhetit 61-62 3 Trại Cau 11.4 9 Limonit <55 4 Tiến Bộ Limonit 40 22 16 5 Cao Bằng Manhetit 60 60 Không có số liệu Manhetit 6 Hà Giang <40 185.3 Không có số liệu Hematit Nguồn: Báo cáo khả thi/tiền khả thi – Tổng công ty Thép Việt Nam Nhƣ vậy tham chiếu bảng trên chúng ta có thể thấy Việt Nam là một quốc gia đƣợc thiên nhiên ƣu đãi, có nguồn quặng sắt tƣơng đối dồi dào. Xét theo khu vực địa lý thì Việt Nam là một quốc gia có trữ lƣợng quặng sắt dồi dào tại Châu Á. Sau đây là bảng trữ lƣợng quặng sắt tại một số khu vực trên thế giới.
vi Bảng 4: Trữ lƣợng quặng sắt tại một số khu vực trên thế giới Trữ lƣợng Chất lƣợng quặng (%) Khu vực (Triệu tấn) Fe SiO2 Al2O3 P S Châu Á 6.030 Châu Đại Dƣơng 9.088 Nguồn: Báo cáo khả thi/tiền khả thi – Tổng công ty Thép Việt Nam Với trữ lƣợng địa chất vào khoảng 1.000 triệu tấn, Việt Nam chiếm khoảng trên 10% trữ lƣợng quặng sắt của Châu Á. Tuy trữ lƣợng quặng sắt dồi dào nhƣng Việt Nam vẫn là một trong các quốc gia phải nhập khẩu quặng sắt để phục vụ cho ngành công nghiệp sản xuất thép trong nƣớc. Ở Việt Nam phần lớn sử dụng thép phế để sản xuất phôi và hoàn toàn là phôi vuông để sản xuất thép xây dựng. Phôi vuông sản xuất trong nƣớc chỉ đáp ứngđƣợc khoảng 50% nhu cầu cán thép, 50% còn lại là từ nguồn nhập khẩu.
Đây là điểm bất lợi lớn của hoạt động cán thép Việt nam do sự phụ thuộc vào nguồn phôi thép nhập khẩu. Nguồn lực lao động Hiện tại, trình độ của lao động trong ngành thép xây dựng còn hạn chế, đặc biệt là đội ngũ lao động có khả năng làm chủ công nghệ. Về cơ sở đào tạo, hiện tại chỉ có một số ít các trƣờng đại học có khoa đào tạo về luyện kim nhƣ trƣờng Đại học Bách khoa Hà Nội, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh, Trƣờng Đại học Hà Hoa Tiên (Hà Nam), Trƣờng Cao đẳng Cơ khí luyện kim (Thái Nguyên), Đại học Công nghiệp… Một bất cập thực tế khác dễ nhân thấy đó là nguồn nhân lực mới ra trƣờng (có trình độ cao đẳng trở lên) ở nƣớc ta hầu hết không thể bắt đầu với đúng trình độ và chuyên ngành đã đƣợc đào tạo của mình.
vii Ngoài ra, phần đông lao động của ngành thép là từ nông thôn, trình độ chuyên môn không cao. Điều này dẫn tới kết quả là năng suất lao động của ngành thép tuy có tăng qua các năm, nhƣng vẫn ở mức trung bình của nền kinh tế.