phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Phụ lục, luận án đƣợc cấu trúc làm 4 chƣơng. Chƣơng 1: Tổng quan các nghiên cƣ́u về VHDN và VHDN Việt Nam. Chƣơng 2: Các yếu tố ảnh hƣởng đến VHDN Việt Nam và h ệ giá trị VHDN Việt Nam. Chƣơng 3: Khảo sát kiểm định hệ giá trị VHDN Việt Nam và đánh giá thƣ̣c trạng, xu hƣớng biến đổi VHDN Việt Nam.
Chƣơng 4: Các quan điểm đị nh hƣớng và giải pháp xây dƣ̣ng VHDN Việt Nam trong bối cảnh HNQT. 7 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CƢ́U VỀ VĂN HÓA DOANH NHÂN VÀ VĂN HÓA DOANH NHÂN VIỆT NAM 1. Về khái niệm doanh nhân Xét theo nghĩa doanh nhân là những ngƣời làm nghề buôn bán, sản xuất và trao đổi hàng hóa thì khái niệm doanh nhân xuất hiện từ rất sớm trong lịch sử loài ngƣời. Ở phƣơng Tây, từ "doanh nhân" dịch sang tiếng Anh là "enterpreneur" xuất hiện từ thời kỳ chiếm hữu nô lệ.
Vào thời trung cổ, "enterpreneur" đƣợc cho là những ngƣời quản lý các dự án sản xuất lớn. Đến đầu thế kỷ XVII, công nghiệp và thƣơng nghiệp phát triển mạnh ở các nƣớc , đặc biệt ở Châu Âu (nhƣ Anh , Pháp, Đức.) các hợp đồng của chính phủ giao cho các doanh nhân thực hiện ngày càng nhiều kéo theo sự phát triển của tầng lớp những ông chủ - những doanh nhân. Đến cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, cùng với sự phát triển vƣợt bậc của khoa học công nghệ và quá trình mở rộng giao thƣơng quốc tế, lúc này mô hình doanh nghiệp, tập đoàn trở thành hình thức tổ chức SXKD phổ biến thì khái niệm "doanh nhân" đã có nhiều thay đổi. Từ điển tiếng Anh kinh doanh của Longman [116,tr.83] định nghĩa phân biệt ba khái niệm: thƣơng gia (businessman), nhà quản lý kinh doanh (business manager) và doanh nhân (entrepreneur) nhƣ sau: (1) Thương gia là ngƣời thực hiện việc buôn bán, trao đổi hàng hóa để kiếm lời; (2) Nhà quản lý kinh doanh là: i) ngƣời đƣợc thuê để quản lý hoạt động kinh doanh có tính chuyên nghiệp; ii) ngƣời làm trong lĩnh vực thƣơng mại và công nghiệp, có trách nhiệm về vấn đề hành chính và tài chính và (3) Doanh nhân: i) ngƣời tổ chức các yếu tố sản xuất, đất đai, lao động, vốn để sản xuất và bán hàng hóa nhằm thu lợi nhuận.
Doanh nhân là một khái niệm cơ bản trong kinh tế học, với đặc tính chấp nhận rủi ro, và đối với hầu hết các nhà kinh tế học, doanh nhân là yếu tố thứ tư của 8 z quá trình sản xuất mà nếu không có nó thì ba yếu tố kia (vốn, công nghệ, nhân lực) không thể hoạt động có hiệu quả đƣợc; ii) Doanh nhân thông thƣờng là ngƣời chủ, ngƣời tổ chức, ngƣời cung cấp tài chính và quản lý tổ chức thƣơng mại hay công nghiệp để tạo ra lợi nhuận; iii) Doanh nhân là ngƣời mà thông qua hoạt động kinh doanh làm cho mình trở thành lãnh đạo trong thế giới kinh tế. Các định nghĩa trên có sự phân biệt nghề nghiệp giữa doanh nhân, thƣơng gia và nhà quản lý kinh doanh. Trong đó doanh nhân đòi hỏi phải có những điều kiện về tố chất, năng lực. cao hơn so với những ngƣời khác cùng nghề.
Sau đây là quan điểm của một số nhà nghiên cứu tiêu biểu về doanh nhân. - Theo Mark Casson,3 doanh nhân (entrepreneur) có sự khác biệt căn bản với nhà quản trị (manager). Casson cho rằng, xét về bản chất của kinh doanh, trong khi nhà quản trị là ngƣời điều hành doanh nghiệp trong điều kiện ổn định và thiên về chức năng quản lý thì doanh nhân đƣợc coi là ngƣời có khả năng khám phá, khai thác cơ hội đang tồn tại hay sẽ xuất hiện của thị trường; phối hợp sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp một cách sáng tạo - các yếu tố sản xuất một cách hiệu quả nhất; là những ngƣời (1) dám chấp nhận rủi ro và (2) có đầu óc sáng tạo để thành lập những doanh nghiệp mới, tạo dựng lĩnh vực kinh doanh mới, tung ra những sản phẩm mới, tìm ra qui trình công nghệ mới nhằm (3) theo đuổi khát vọng tìm kiếm lợi nhuận. - Theo Josheph Schumpeter, [98,tr.13-14] một "doanh nhân" đúng nghĩa không chỉ là một nhà doanh nghiệp (businessman) mà trƣớc hết là một ngƣời làm giàu thông qua các (1) sáng kiến và (2) chấp nhận đối phó với những rủi ro.
Schumpeter quan niệm rằng kinh doanh không chỉ là một nghề, nhà kinh doanh - doanh nhân có thể là một tầng lớp hay một nhóm xã hội có một số đặc trƣng nhất định. Song theo Ông, các nhà kinh doanh không phải là một giai cấp hiểu theo nghĩa là một tầng lớp xã hội. Và những ngƣời sản xuất, các kỹ nghệ gia, các thƣơng nhân, các cổ đông của một công ty hay kể cả các nhà tƣ bản 3 Mark Casson (ed.), Entrepereneurship, Vermont, 1990, trang XIII, dẫn theo Trần Hƣ̃u Quang [81]. 9 z (capitalist) không nhất thiết đều là doanh nhân; doanh nhân tạo ra việc làm, còn nhà tƣ bản thì sử dụng việc làm.
- Max Weber (nhà xã hội học người Đức)4 cho rằng, khắp thế giới, đâu cũng có thƣơng nhân, những ngƣời cho vay, những ông chủ đồn điền, "những kẻ đầu cơ chuyên đi săn các cơ hội để kiếm tiền", "những kẻ phiêu lƣu tƣ bản" nhƣng phần lớn hoạt động của những loại ngƣời này "đều mang tính chất thuần túy phi lý tính và đầu cơ, hoặc thiên về chiếm hữu bằng bạo lực". Theo Weber thì "những doanh nhân có nét đặc trƣng không chỉ nằm ở chỗ ham muốn doanh lợi, mà còn ở chỗ nung nấu ham muốn tích lũy không ngừng ngày càng nhiều và do vậy ý chí sản xuất của ông ta trở nên không giới hạn" [81,tr. Formaini, trong bài "Động cơ của quá trình tư bản chủ nghĩa: Doanh nhân trong lý luận kinh tế" (The Engine of Capitalist Process: Entrepreneurs in Economic Theory) [125], đã phân tích: doanh nhân là ngƣời am hiểu và có khả năng nắm bắt cơ hội thị trường, khai thác chúng; Là người dám chấp nhận rủi ro, là người sáng tạo, là người dám từ bỏ cái đang ổn định để tìm kiếm cái mới. Doanh nhân không phải là ngƣời lên kế hoạch kinh doanh cụ thể, ra các quyết định quản lý mà họ là ngƣời có khả năng phán đoán, có tầm nhìn xa mang tính cá nhân, dám chịu rủi ro mà những ngƣời khác không có hoặc không dám.
Ông cũng phân tích lịch sử của khái niệm doanh nhân nhƣ sau: doanh nhân đƣợc các nhà kinh tế học tiền bối gọi là celui qui entreprend, có nghĩa là ngƣời chủ động và sáng tạo. Từ này bắt nguồn từ entreprendre, với ý nghĩa tƣơng tự là "khiến cho mọi thứ đƣợc thực hiện". Đến thế kỷ XVI, entrepreneur xuất hiện và mang nghĩa (1) hiểu, nắm giữ (saisir), (2) khiến cho ngạc nhiên, khám phá (surprender). Dẫn theo Trần Hƣ̃u Quang [81].
10 z "ngƣời tiến hành việc biến những cảm nhận nhạy bén về kinh doanh, tài chính và sự đổi mới, sáng tạo thành những sản phẩm hàng hóa mang tính kinh tế. Kết quả của những hành động này là tạo nên những tổ chức mới hoặc góp phần tái tạo lại những tổ chức đã "già cỗi""[78,tr. Cùng quan điểm với Schumpeter, Peter Drucker quan niệm sáng tạo - đổi mới là một trong nhƣ̃ng đặc trƣng cốt lõi của doanh nhân - đó là hành vi gắn cho các tài nguyên năng lực mới nhằm tạo ra của cải. Doanh nhân luôn coi sự thay đổi là chuẩn mực của hoạt động và luôn suy nghĩ kỹ lƣỡng về sự thay đổi, ứng phó với sự thay đổi và khai thác sự thay đổi nhƣ là một cơ hội.
Đồng thời Drucker cho rằng, doanh nhân phải là ngƣời có thiên hƣớng mạo hiểm (propensity for risk-taking), song họ lại là những ngƣời thận trọng (convervative). Họ không phải là ngƣời tìm kiếm sự rủi ro (risk- focused) mà thực ra là kẻ đi tìm cơ hội (opportunity-focused) và luôn tìm cách giảm thiểu rủi ro. Ông đúc kết, doanh nhân giỏi là ngƣời luôn nhận diện, phân tích và tận dụng đƣợc cơ hội có thể có trong một môi trƣờng ngày càng thay đổi nhanh chóng. Tóm lại, các nhà nghiên cứu nƣớc ngoài, nhất là các nhà nghiên cứu phƣơng Tây có quan điểm thống nhất rằng, khái niệm doanh nhân đƣợc gắn với doanh nghiệp (bởi doanh nghiệp là hình thức tổ chức SXKD chủ yếu và phổ biến ở các nƣớc phát triển).
Do vậy, doanh nhân đƣợc nhận diện và phân biệt với những ngƣời làm nghề kinh doanh khác nhƣ nhà quản trị, thƣơng gia. bởi các yếu tố: Khả năng nắm bắt cơ hội kinh doanh, sự khởi nghiệp (new venture startup), thái độ dám chấp nhận rủi ro (risk), sự đổi mới và sáng tạo (innovation - creative), đến những thành quả (hay phần thƣởng) có tính bền vững (reward). Những yếu tố này đƣợc cho là nhƣ̃ng đặc trƣng cơ bản nhất của ngƣời nghề kinh doanh (xem thêm hộp 1. Một số định nghĩa của nƣớc ngoài về doanh nhân - Trong từ điển Oxford của Anh, nhà kinh doanh hay doanh nhân (entrepreneur) là "ngƣời kiếm tiền bằng cách lập doanh nghiệp hoặc điều khiển doanh nghiệp, đặc biệt là khi việc này bao hàm sự chấp nhận những rủi ro về mặt tài chính".17] - Bách khoa thư Anh ngữ Collin thì định nghĩa: "Doanh nhân là ngƣời sở hữu hay điều hành một doanh nghiệp, họ phấn đấu làm ra lợi nhuận bằng cách chấp nhận rủi ro và đƣa ra những sáng kiến mới".
Về văn hóa doanh nhân Các nghiên cứu nƣớc ngoài thƣờng có hai hƣớng tiếp cận khi nghiên cứu về VHDN (entrepreneur culture). Cách tiếp cận thứ nhất, qua khảo sát thƣ̣c tiễn, tìm ra các mẫu doanh nhân điển hình , các yếu tố đặc trƣng của doanh nhân rồi mô tả các nét đặc trƣng đó ; khái quát hóa thành văn hóa của cộng đồng doanh nhân. Cách tiếp cận thứ hai, nghiên cứu đƣa ra những đặc trƣng đƣợc cho là mong đợi có ở doanh nhân từ đó định hình nên VHDN (hệ giá trị VHDN ). Sau đây là nội dung của một số nghiên cứu theo cả hai cách tiếp cận nêu trên.
- Napoleon Hill [70], tiến hành phân tích sự nghiệp, điều tra phỏng vấn sâu 500 doanh nhân thành đạt và giàu có đã đƣa ra 13 yếu tố tạo dựng nên thành công của họ là: (1) Ước muốn, (2) Lòng tin, (3) Tự ám thị, (4) Kiến thức chuyên ngành, (5) Trí tưởng tượng, (6) Lập kế hoạch hữu hiệu, (7) Tính quả quyết, (8) Tính bền bỉ, (9) Sức mạnh của ban tham mưu, (10) Bí ẩn của sự chuyển hóa cảm xúc, (11) Trí tuệ tiềm thức, (12) Trí não, (13) Giác quan thứ sáu.