CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LIÊN KẾT DỌC CỦA TẬP ĐOÀN ĐA QUỐC GIA VÀ DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC Trong chương này, luận văn đã làm rõ các nội dung lớn của cơ sở lý luận về liên kết dọc giữa các tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp trong nước và đưa ra kinh nghiệm liên kết giữa Panasonic và doanh nghiệp trong nước ở Malaysia và kinh nghiệm liên kết giữa Canon và doanh nghiệp trong nước ở Việt Nam. Nội dung thứ nhất: tác giả khái quát hóa khái niệm tập đoàn đa quốc gia và tác động của tập đoàn đa quốc gia đối với nền kinh tế nước sở tại. Nội dung thứ hai: tác giả đưa ra khái niệm về liên kết dọc và phân loại liên kết dọc giữa các tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp trong nước. iv Nội dung thứ 3: luận văn đa đưa ra được các chỉ tiêu đo lường các mối liên kết dọc giữa các tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp trong nước.
Nội dung thứ 4: tác giả lựa chọn mô hình “viên kim cương” của M.Porter để đánh giá các nhân tố tác động đến liên kết dọc giữa tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp trong nước. Nội dung thứ 5: tác giả đưa ra tình hình liên kết giữa Panasonics và doanh nghiệp trong nước ở Malaysia và liên kết giữa Canon và doanh nghiệp trong nước ở Việt Nam để từ đó rút ra kinh nghiệm liên kết đối với các tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp trong nước ở Việt Nam. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG LIÊN KẾT DỌC CỦA TẬP ĐOÀN ĐA QUỐC GIA VÀ DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC Ở VIỆT NAM Trong chương này, tác giả trình bày tổng quan về liên kết dọc giữa các tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp trong nước ở Việt Nam và đi sâu vào nghiên cứu liên kết dọc giữa SamSung và doanh nghiệp trong nước ở Việt Nam. Thực trạng liên kết giữa SamSung và doanh nghiệp trong nước được tác giả phân tích trên các nội dung sau: Thứ nhất, liên kết dọc ngược chiều giữa tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp trong nước.
Thứ hai, liên kết dọc xuôi chiều giữa tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp trong nước. Thứ ba, các nhân tố tác động đến liên kết giữa SamSung và doanh nghiệp trong nước ở Việt Nam. Liên kết dọc giữa SamSung và doanh nghiệp trong nước ở Việt Nam được phân tích qua các khía cạnh: Tỷ lệ nội địa hóa : tỷ lệ nội địa hóa của SamSung có sự gia tăng qua các năm, từ mức 10% năm 2010 lên 20% năm 2013. Tuy nhiên mức tăng tỷ lệ nội địa hóa v còn chậm và mức tăng này chủ yếu là do tăng đầu vào trung gian mua từ các doanh nghiệp FDI.
Tỷ lệ đầu vào nhập khẩu và tỷ lệ đầu vào do các nhà chế tạo nước ngoài đóng tại nước sở tại cung cấp: hiện nay SamSung chỉ có 5 nhàh cung ứng là doanh nghiệp trong nước và chỉ cung ứng chưa đến 0,5% giá trị đầu vào. Trong khi đó SamSung nhập khẩu đến 80% giá trị đầu vào. Từ đó cho thấy doanh nghiệp Việt Nam mới chỉ cung ứng được cho SamSung những đầu vào có giá trị nhỏ nhưng cong kềnh như thùng carton, hộp xốp… Tỷ lệ hàng hóa được bán tại nước sở tại trực tiếp hay xuất khẩu gián tiếp: SamSung bán tại thị trường trong nước chưa đến 5% giá trị sản xuất và xuất khẩu lên đến hơn 95% Thành phần khách hàng với thị phần tương ứng của họ: sản phẩm của SamSung chủ yếu thực hiện xuất khẩu sang các thị trường khó tính. Trong đó SamSung xuất nhiều nhất sang thị trường Châu Âu.
Đối với thị trường trong nước, SamSung thực hiện bán sản phẩm cho 2 nhà phân phối chính là Viettel và tập đoàn Phú Thái. Do vậy, liên kết xuôi chiều của SamSung với doanh nghiệp trong nước rất hạn chế. Từ phân tích thực trạng, tác giả đánh giá những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế trong liên kết dọc giữa SamSung và doanh nghiệp trong nước ở Việt Nam. Ưu điểm: tỷ lệ nội địa hóa của SamSung tăng và vẫn tiếp tục có xu hướng tăng tạo cơ hội để tăng cường liên kết giữa SamSung và doanh nghiệp trong nước ở Việt Nam.
Tồn tại chủ yếu: - Số lượng các doanh nghiệp Việt Nam tham gia liên kết dọc với SEV còn rất hạn chế. - Tỷ trọng giá trị đầu vào SEV mua từ các doanh nghiệp trong nước rất nhỏ bé, chưa đến 1%. vi - Liên kết về phía hạ nguồn của SEV với doanh nghiệp trong nước cũng hạn chế. Hầu hết sản phẩm của SEV đều được xuất khẩu.
Nguyên nhân của các tồn tại: 3 nhóm nguyên nhân chủ yếu là: Nhóm nguyên nhân từ cơ chế chính sách của Chính Phủ: Một là, thiếu chính sách trong hỗ trợ phát triển doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ và thiếu cơ chế để chính sách đi vào thực tiễn; Hai là, do mặt trái trong chính sách thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đã tác động tiêu cực đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước; Ba là, chính sách giáo dục còn nhiều bất cập, đào tạo chưa phù hợp với yêu cầu thực tế.; Bốn là, khả năng cung cấp thông tin và dự báo kinh tế, khoa học công nghệ của Chính phủ còn hạn chế. Nhóm các nguyên nhân từ phía doanh nghiệp trong nước: Một là, tư duy quản lý của các nhà quản lý và trình độ,nhận thức của người lao động trong các doanh nghiệp Việt Nam chưa theo kịp yêu cầu trong điều kiện kinh tế hiện nay; Hai là, chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp trong nước còn thấp, chưa đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật của SEV; Ba là, các doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu là doanh nghiệp vừa và nhỏ, có quy mô sản xuất nhỏ, không đủ khả năng đáp ứng đơn đặt hàng lớn từ phía SamSung về cả số lượng và thời gian giao hàng. Nhóm các nguyên nhân từ phía SEV: Một là, chiến lược mua hàng từ phía SEV đang có sự ưu đãi lớn đối với các đối tác truyền thống của họ, đặc biệt là các đối tác đến từ Hàn Quốc; Hai là, SEV chưa thực sự tích cực, chủ động trong việc tìm kiếm và xây dựng mạng lưới các nhà cung cấp địa phương; Ba là, do phần lớn các linh kiện có giá trị cao trong sản xuất điện thoại và máy tính bảng của SamSung đều được SamSung chủ động sản xuất được. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM TĂNG CƯỜNG LIÊN KẾT DỌC CỦA TẬP ĐOÀN ĐA QUỐC GIA VỚI DOANH NGHIỆP TRONG NƯỚC Ở VIỆT NAM Trên cơ sở phân tích ma trận SWOT để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức để doanh nghiệp trong nước liên kết với MNCs.
Bên cạnh đó căn cứ vii vào quan điểm, nguyên nhân của những tồn tại chủ yếu tác giả đã đưa ra 3 nhóm giải pháp nhằm tăng cường liên kết dọc giữa MNCs và doanh nghiệp trong nước ở Việt Nam như sau: Nhóm các giải pháp từ phía Chính phủ Giải pháp đối với nhà nước: Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn sản phẩm quốc gia; Thứ hai, xây dựng và hoàn thiện các chính sách hỗ trợ sự phát triển của ngành công nghiệp hỗ trợ; Thứ ba, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trong nước, đảm bảo nhân lực trong nước có khả năng học hỏi và tiếp thu công nghệ để tăng năng lực sản xuất cho các doanh nghiệp trong nước; Thứ tư, Chính phủ cần rà soát và hoàn thiện các chính sách thu hút FDI, đặc biệt là thu hút vốn đầu tư của MNCs; Thứ năm, Chính phủ cần tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước trong việc đảm bảo năng lực tài chính; Thứ sáu, đẩy mạnh xúc tiến đầu tư và xây dựng cơ sở hạ tầng; Thứ bảy, tăng cường cung cấp thông tin và dự báo kinh tế cũng như dự báo tiến bộ khoa học công nghệ, Thứ tám, chính phủ giúp đỡ trong việc thành lập các hiệp hội, chẳng hạn như hiệp hội các nhà cung ứng địa phương. Giải pháp đối với chính quyền địa phương: Thứ nhất, chính quyền địa phương cần đóng vai trò “bà mối” để bắt mối các doanh nghiệp địa phương với MNCs; Thứ hai, chính quyền địa phương cần có các ưu đãi về đất đai, tài chính… phù hợp nhằm thu hút MNCs đồng thời kích thích doanh nghiệp trong nước đổi mới công nghệ, tham gia vào ngành công nghiệp hỗ trợ; Thứ ba, xây dựng phát triển các cụm liên kết ngành. Nhóm các giải pháp từ phía các doanh nghiệp trong nước: Một là, phải thay đổi nhận thức của các nhà quản lý cũng như nhân viên của các doanh nghiệp trong nước; Thứ hai, chủ động lựa chọn và tạo ra mối liên kết với các doanh nghiệp khác; Thứ ba, đào tạo và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; Thứ tư, chú trọng đầu tư cho nghiên cứu và đổi mới công nghệ. viii Nhóm các giải pháp từ phía các tập đoàn đa quốc gia: Thứ nhất, MNCs cần chủ động tìm kiếm các doanh nghiệp trong nước để thực hiện liên kết; Thứ hai, các tập đoàn đa quốc gia cần tích cực chuyển giao công nghệ cho các doanh nghiệp nội địa; Thứ ba, xây dựng các trung tâm nghiên cứu và phát triển nhằm đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu và triển khai công nghệ ở nước sở tại; Thứ tư, phối hợp với Chính phủ Việt Nam trong việc phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam nhằm phát triển các nhà cung ứng trong nước; Thứ năm, tích cực tham gia đối thoại với doanh nghiệp trong nước để hiểu được doanh nghiệp trong nước và tiến tới thành công trong liên kết với doanh nghiệp Việt Nam.
Tính cấp thiết của đề tài Sau 25 năm thực hiện mở cửa nền kinh tế và thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam đã có những đóng góp tích cực trong tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam thời gian qua. Khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài luôn là khu vực có mức tăng trưởng GDP cao nhất cả nước và đóng góp tới 18,97% vào GDP cả nước (năm 2011). Đầu tư trực tiếp nước ngoài còn là khu vực phát triển năng động của nền kinh tế khi đóng góp tới 11,9% thu ngân sách của cả nước và chiếm tới 64% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước (năm 2012) và góp phần tạo ra tới 45% giá trị sản xuất của ngành công nghiệp. Bên cạnh đó, sau 25 năm thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, cơ cấu kinh tế Việt Nam cũng có những chuyển dịch tích cực theo hướng ngày càng hiện đại và bền vững.