Chương 1: Những lý luận chung về văn hóa công sở và giới thiệu khái quát về Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Chương 2: Thực trạng về văn hóa công sở tại Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. Chương 3: Một số biện pháp nhằm nâng cao văn hóa công sở tại Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam. 5 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ VÀ GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT VỀ PHÕNG THƢƠNG MẠI VÀ CÔNG NGHIỆP VIỆT NAM.
Lý luận chung về văn hóa công sở.1 Một số khái niệm.Khái niệm văn hóa Văn hóa là một phạm trù rất rộng, phản ánh mọi mặt của đời sống xã hội của con người. Văn hóa vừa là sản phẩm sáng tạo của loài người, vừa là giá trị tạo nên cuộc sống của con người và sự tiến bộ của nhân loại. Có nhiều cách tiếp cận về văn hóa và vai trò của văn hóa đối với đời sống của con người. Bởi vậy có rất nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau, phản ánh phương pháp nghiên cứu khác nhau.
Các quan điểm về văn hóa rất phong phú và sâu rộng, ở mỗi đất nước, mỗi thời kỳ và ngành nghề thì lại có cách lý giải khác nhau về văn hóa. Ngay từ năm 1952, hai nhà nhân loại học Mỹ là Alfred Kroeber và Clyde Kluckhohn đã từng thống kê có tới 164 định nghĩa khác nhau về văn hóa trong các công trình nổi tiếng thế giới. [10; 322] Văn hóa được đề cập đến trong nhiều lĩnh vực nghiên cứu như: dân tộc học, dân gian học, văn hóa học, xã hội học, kinh tế học,. và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa cũng khác nhau.
Từ văn hóa có rất nhiều nghĩa, trong tiếng Việt văn hóa được dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức, lối sống; theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn; trong khi theo nghĩa rộng thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại, cho đến tín ngưỡng, phong tục, lối sống. Theo Đại từ điển tiếng Việt của Trung tâm Ngôn ngữ và Văn hóa Việt Nam do Nguyễn Như Ý chủ biên, NXB Văn hóa -Thông tin, xuất bản năm 1998, thì: “Văn hóa là những giá trị vật chất, tinh thần do con người sáng tạo ra trong 6 lịch sử”.[25] Nguyên Tổng thư ký UNESCO, ông Federio Mayor đưa ra định nghĩa về văn hóa trong lễ phát động thập kỷ quốc tế phát triển văn hóa (1988-1997): “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo của các cá nhân và cộng đồng trong quá khứ và hiện tại. Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên các giá trị, các truyền thống và các thị hiếu - những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc”[26; 23]. Như vậy, chúng ta có thể thấy văn hóa tồn tại và phát triển song song cùng con người, và có mặt trong bất cứ hoạt động nào của con người, dù là hoạt động sản xuất vật chất, hoạt động sản xuất tinh thần hay trong các quan hệ giao tiếp ứng xử… Tháng 8/1943, khi còn trong nhà tù Tưởng Giới Thạch, lần đầu tiên Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa của mình về văn hoá.
Và định nghĩa của Người có rất nhiều điểm gần với quan niệm hiện đại về văn hoá. Người viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá. Văn hoá là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”[11; 431].
Như vậy Hồ Chí Minh đã thấy văn hóa là cơ chế tổng hợp để hình thành và phát triển con người xã hội.Và chính Người với tầm nhìn xa đã thực sự coi trọng và khẳng định vai trò to lớn của văn hóa đối với sự nghiệp cách mạng, sự phát triển của con người và xã hội. Cũng dựa trên quan điểm và kế thừa lý luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (1993) đã xác định: " Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội, một động 7 lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời là một mục tiêu của chủ nghĩa xã hội". Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII (1998) tiếp tục khẳng định: " Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội (. Xây dựng và phát triển kinh tế phải nhằm mục tiêu văn hóa, vì xã hội công bằng văn minh, con người phát triển toàn diện” Đây là sự nhận thức sâu sắc của Đảng về văn hoá, là bước phát triển mới trong quan điểm của Đảng về vai trò to lớn, sâu sắc của văn hoá trong phát triển bền vững và toàn diện của đất nước.
Đây là sự năng động của nhận thức trong việc nắm bắt các vấn đề thời đại, cũng là sự xác định chính xác định hướng phát triển văn hoá và xã hội ở Việt Nam theo tư tưởng Hồ Chí Minh.TS Trần Ngọc Thêm “Văn hóa là một hệ thống các giá trị và tinh thần do con người sáng tạo ra, tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người và xã hội“[19; 10]. Theo tác giả, cách định nghĩa này không những có khả năng bao quát được khá nhiều cách tiếp cận khác nhau, cách hiểu khác nhau về văn hóa mà còn được sử dụng rất nhiều trong các công trình nhiên cứu. Khái niệm công sở. Các tài liệu nghiên cứu về công sở đều cho thấy công sở là một thiết chế xã hội.
Công sở trong xã hội tồn tại như một hiện tượng văn hóa, đồng thời là một chủ thể văn hóa gắn liền với các yếu tố tổ chức quyền lực và tâm lý, tình cảm của con người. Xét về hình thức tổ chức: Công sở là một tập hợp có cơ cấu tổ chức, phương tiện vật chất và con người được nhà nước bảo trợ để thực hiện nhiệm vụ của mình. Hình thức tổ chức của công sở do nhà nước quy định và lệ thuộc vào phương thức điều hành của bộ máy nhà nước. Hiện nay ở nước ta có các loại công sở như công sở hành chính, công sở sự nghiệp.[17; 4] Xét về nội dung công việc: hoạt đọng công sở nhằm thỏa mãn các lợi 8 ích chung cuả cộng đồng do vậy cần được sự bảo vệ và kiểm tra của nhà nước và chỉ có nhà nước mới thỏa mãn được nhu cầu này.[17; 4] Xét về ý nghĩa tổ chức nhà nước: công sở là trụ sở làm việc của các cơ quan hành chính nhà nước, do nhà nước lập ra và để giải quyết công vụ [17; 4] Như vậy, ta có thể hiểu công sở là một tổ chức đặt dưới sự quản lí trực tiếp của nhà nước, để tiến hành một công việc chuyên nghành của nhà nước.
Là tổ chức của hệ thống bộ máy nhà nước hoặc tổ chức công ích được Nhà nước công nhận, bao gồm cán bộ, công chức tuyển dụng, bỏ nhiệm theo quy chế công chức hoặc theo thể thức hợp đồng để thực hiện công vụ nhà nước. Công sở có vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và có cơ cấu tổ chức do pháp luật quy định, được sử dụng công quyền để tổ chức công việc Nhà nước hoặc dịch vụ công vì lợi ích chung của xã hội, của cộng đồng. Công sở là một tổ chức thực hiện cơ chế điều hành, kiểm soát công việc hành chính, là nơi soạn thảo văn bản để thực hiện công vụ, đảm bảo thông tin cho hoat động của bộ máy quản lí nhà nước, nơi phối hợp hoạt động thực hiện nhiệm vụ được nhà nước giao. Là nơi tiếp nhận yêu cầu, đề nghị, khiếu nại của công dân.
Do đó, công sở là một bộ phận hợp thành tất yếu của thiết chế bộ máy quản lí nhà nước. Tuy nhiên, hiểu theo các khái niệm trên vẫn chưa đày đủ và chỉ hiểu theo một khía cạnh đó là công sở hành chính đặt dưới quyền quản lý của Nhà nước. Trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa cùng với sự phát triển của xã hội đã hình thành nên rất nhiều tổ chức và doanh nhiệp trong nước. Các tổ chức doanh nghiệp trên cũng có trụ sở làm việc riêng tùy vào quy mô lớn hay nhỏ, có văn phòng để làm các công tác quản lý hành chính, quản lý các mặt đời sống xã hội của toàn thể cán bộ nhân viên.
Theo các cách hiểu ở trên ta có thể định nghĩa về công sở như sau: “ Công sở là nơi để làm việc, là nơi tổ chức các hoạt động lãnh đạo, hoạch 9 định, điều hành, kiểm tra, giám sát công việc của một cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp để đạt được mục tiêu chung” 1.Khái niệm văn hóa công sở. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về văn hóa công sở. Mỗi nhà nghiên cứu lại hiểu nó theo một khía cạnh và mức độ không giống nhau. TS Vũ Thị Phụng “văn hóa công sở chính là tổng hòa những giá trị vô hình hoặc hữu hình, bao gồm trình độ nhận thức, phương pháp tổ chức, quản lý, môi trường – Cảnh quan, phương tiện làm việc, đạo đức nghề nghiệp và phong cách giao tiếp ứng xử của cán bộ công chức nhằm xây dựng một công sở văn minh, lịch sự, hoạt động đúng Pháp luật và hiệu quả cao” [16; 38] Theo GS.
Nguyễn Văn Thâm “Văn hóa công sở là một hệ thống giá trị được hình thành trong quá trình hoạt động của công sở tạo nên niềm tin, giá trị về thái độ của các nhân viên làm việc trong công sở, ảnh hưởng cách làm việc của công sở và hiệu quả hoạt động của nó trong thực tế”[17; 12] Theo tác giả Minh Phúc đưa ra khái niệm về văn hóa công sở như sau: “Văn hoá nơi công sở, nói một cách khái quát, là một loạt hành vi và quy ước mà con người dựa vào đó để điều khiển các mối quan hệ tương tác của mình với những người khác.