Lời mở đầu và Kết luận, thì nội dung của Khóa luận đƣợc chia làm 04 chƣơng: Chƣơng I: Lý luận chung về văn hóa doanh nghiệp Chƣơng II: Phƣơng pháp và mô hình nghiên cứu của đề tài Chƣơng III: Văn hóa doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam - Chi nhánh Nghệ An Chƣơng IV: Giải pháp phát triển văn hóa doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại thƣơng Việt Nam – Chi nhánh Nghệ An SVTH: Bùi Ngọc Diệp 3 *Khóa luận tốt nghiệp CHƢƠNG I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ VĂN HÓA DOANH NGHIỆP 1. Tổng quan các công trình liên quan đến đề tài nghiên cứu 1. Nghiên cứu nước ngoài Thuật ngữ ―văn hóa tổ chức‖ xuất hiện lần đầu tiên trên báo chí Mỹ vào khoảng thập niên 1960.
Thuật ngữ tƣơng đƣơng là ―văn hóa doanh nghiệp‖ xuất hiện muộn hơn, khoảng thập niên 1970. Nhƣng đến đầu những năm 1980 và 1990 của thế kỷ XX mới bắt đầu nhận đƣợc nhiều sự chú ý, sau khi chứng kiến sự thành công vang dội của các công ty Nhật Bản đƣợc bắt nguồn từ việc nhà lãnh đạo rất chú trọng xây dựng văn hóa doanh nghiệp riêng cho tổ chức. Kể từ đó đã có nhiều công trình nghiên cứu khác nhau đƣợc thực hiện, tạo ra sự phát triển mới về lý luận Văn hóa doanh nghiệp. Trong số các công trình nổi bật tạo cơ sở nghiên cứu sâu về văn hóa doanh nghiệp có thể kể đến G.Hofstede (1994); John Kotter (1992); về đạo đức kinh doanh (Farrell, O.
2002) nhƣ là những nền tảng lý luận vững chắc để nghiên cứu sâu về văn hóa doanh nghiệp. Nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của các nhân tố văn hóa nhƣ lễ hội, tập quán, truyền thống, hệ thống các giá trị của công ty, văn hóa của ngƣời lãnh đạo doanh nghiệp… trong hoạt động kinh doanh mà điển hình là các nghiên cứu của P. Nghiên cứu của Richard J. Black (2003) chỉ ra rằng từ văn hóa doanh nghiệp có thể tạo ra đƣợc các ảnh hƣởng cần thiết cho thành công chiến lƣợc.
Gabrielle O’Donovan (2006) với―How To Plan, Implement And Measure A Successful Culture Change Programme‖ có thể đƣợc coi là một cuốn cẩm nang thực tiễn và thiết kế, xây dựng văn hóa doanh nghiệp, nó chỉ ra rằng văn hóa doanh nghiệp là tài sản vô hình nhƣng có thể đo lƣờng đƣợc và nêu ra các bƣớc thực hiện. Hay nhƣ Edgar Schein (2004) đã cho rằng: ―Văn hóa doanh nghiệp gắn với văn hóa xã hội, là một bước tiến của văn hóa xã hội, là tầng sâu của văn hóa xã hội‖. Nói rộng ra, nếu toàn bộ nền sản xuất đều đƣợc xây dựng trên một nền văn hóa doanh nghiệp có trình độ cao, nền sản xuất sẽ vừa mang bản sắc dân tộc, vừa thích ứng với thời đại hiện nay. SVTH: Bùi Ngọc Diệp 4 *Khóa luận tốt nghiệp 1.
Nghiên cứu trong nước Trong nƣớc, văn hóa doanh nghiệp không chỉ đƣợc nhắc đến trong các hội nghị hội thảo, các phƣơng tiện thông tin đại chúng, các bài báo mà còn trở thành đề tài để viết sách, nghiên cứu khoa học. Có nhiều nhà nghiên cứu, giảng viên đã có các đề tài nghiên cứu cấp Bộ, cấp Nhà nƣớc, cấp các Trƣờng Đại học về văn hóa doanh nghiệp.TS Đỗ Minh Cƣơng (2009) với đề tài ―Văn hóa doanh nghiệp: Một số vấn đề và giải pháp‖.TS Dƣơng Thị Liễu: ―Nghiên cứu, đề xuất các giải pháp khai thác, phát huy giá trị văn hóa kinh doanh trong các doanh nghiệp trên địa bàn Hà Nội‖.TS Phùng Xuân Nhạ (2011) với đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nƣớc về ―Nhân cách doanh nhân và văn hóa doanh nghiệp‖. Các nghiên cứu trong nƣớc hiện nay chủ yếu đề cập đến các vấn đề nhƣ: lý luận về văn hóa doanh nghiệp, nghiên cứu về văn hóa doanh nghiệp của một số tập đoàn tiêu biểu, doanh nghiệp lớn. Một số nghiên cứu khác có đƣa ra những giải pháp, gợi ý chính sách xây dựng văn hóa doanh nghiệp ở Việt Nam nhƣ của các tác giả: Nguyễn Hoàng Ánh (2004), Trần Quốc Dân (2008)… Một số nghiên cứu khác cũng đã phân tích ảnh hƣởng của việc xây dựng và phát triển văn hóa doanh nghiệp tới đạo đức kinh doanh và hoạt động kinh doanh nhƣ của tác giả Nguyễn Mạnh Quân (2003, 2007)… Theo các tài liệu nghiên cứu và giảng dạy ở nƣớc ta, văn hóa doanh nghiệp đƣợc quan niệm là trạng thái tinh thần và vật chất đặc sắc của một doanh nghiệp đƣợc tạo nên bởi hoạt động quản lý và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một điều kiện lịch sử xã hội nhất định.
Khoảng trống nghiên cứu Văn hóa doanh nghiệp tuy không phải là một vấn đề quá mới, nhƣng lại là vấn đề mà nhiều doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay vẫn chƣa thực sự coi trọng, có nghĩa là chƣa chú trọng xây dựng nền văn hóa doanh nghiệp tốt đẹp, văn minh & bền vững cho tổ chức của mình, dẫn đến nhiều hậu quả nghiêm trọng: Sao chép, đạo nhái bản quyền, thƣơng hiệu; Lừa đảo khách hàng; Công nhân, nhân viên phải ăn thực phẩm bẩn; Ô nhiễm môi trƣờng do xả thải chƣa qua xử lý…và còn nhiều vấn đề chƣa khai thác hết. SVTH: Bùi Ngọc Diệp 5 *Khóa luận tốt nghiệp Bên cạnh đánh giá những mặt tích cực, các công trình nghiên cứu cũng đã chỉ ra rằng: văn hóa công sở và văn hóa doanh nghiệp ở nƣớc ta còn có những mặt hạn chế nhất định. Với sự thay đổi liên tục, cạnh tranh gay gắt của thị trƣờng trong bối cảnh hội nhập quốc tế, còn nhiều nội dung về văn hóa doanh nghiệp chƣa đƣợc nghiên cứu đầy đủ. Các nghiên cứu trƣớc đây còn ít đề cập đến các đặc trƣng riêng của các lĩnh vực khác nhau, chƣa đi sâu vào từng bộ phận doanh nghiệp.
Hơn nữa, khi xây dựng đƣợc văn hóa doanh nghiệp tốt rồi thì làm sao để phát triển đƣợc nền văn hóa đó ngày một mạnh hơn, bền vững và có sức lan tỏa? Cụ thể ở đây là trong môi trƣờng kinh doanh của Ngân hàng Thƣơng mại – ngành kinh doanh đặc thù, tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Do đó, việc phát triển văn hóa doanh nghiệp mạnh trở nên đặc biệt quan trọng đối với Ngân hàng Thƣơng mại, bởi văn hóa doanh nghiệp tốt sẽ khiến nhân viên làm việc hết mình, tránh đƣợc cám dỗ vật chất, hạn chế rủi ro do cố ý làm sai để kiếm lợi cho bản thân mình. Chính vì vậy, em đã lựa chọn đề tài: ―Phát triển văn hóa doanh nghiệp tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Nghệ An‖. Khái niệm công cụ sử dụng trong đề tài nghiên cứu a) Văn hóa Văn hóa là khái niệm mang nội hàm rộng với rất nhiều cách hiểu khác nhau, liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con ngƣời.
Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con ngƣời, và nhƣ vậy, văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: khía cạnh phi vật chất của xã hội nhƣ ngôn ngữ, tƣ tƣởng, giá trị và các khía cạnh vật chất nhƣ nhà cửa, quần áo, các phƣơng tiện,. Cả hai khía cạnh cần thiết để làm ra sản phẩm và đó là một phần của văn hóa. Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau. Định nghĩa về văn hóa đầu tiên đƣợc chấp nhận rộng rãi là định nghĩa của E.
Theo ông, ―Văn hóa là một phức hợp bao gồm tri SVTH: Bùi Ngọc Diệp 6 *Khóa luận tốt nghiệp thức, tín ngƣỡng, nghệ thuật, đạo đức, luật pháp, tập quán, cùng mọi khả năng và thói quen khác mà con ngƣời nhƣ một thành viên của xã hội đã đạt đƣợc‖. Theo quan niệm của UNESCO năm 2002: ―Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin‖. Trong Tiếng Việt, văn hóa đƣợc dùng theo nghĩa thông dụng để chỉ học thức, lối sống. Theo nghĩa chuyên biệt để chỉ trình độ phát triển của một giai đoạn.
Trong khi theo nghĩa rộng, thì văn hóa bao gồm tất cả, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại, cho đến tín ngƣỡng, phong tục, lối sống. Trong Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, NXB Đà Nẵng và Trung tâm Từ điển học năm 2004 đã đƣa ra một loạt khái niệm về văn hóa: - Văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra trong quá trình lịch sử. - Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn, trong sự tƣơng tác giữa con ngƣời với môi trƣờng tự nhiên xã hội - Văn hóa là những hoạt động của con ngƣời nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần - Văn hóa là tri thức, kiến thức khoa học - Văn hóa là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh Tháng 8/1943, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng có đƣa ra khái niệm về văn hóa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như vì mục đích cuộc sống, loài người mới phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương tiện, phương thức sử dụng toàn bộ những sáng tạo văn minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt SVTH: Bùi Ngọc Diệp 7 *Khóa luận tốt nghiệp cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống, và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
Xem xét về nghĩa gốc của từ ―văn hóa‖, dù dƣới góc nhìn của phƣơng Đông hay phƣơng Tây thì đều có một nghĩa chung căn bản là sự giáo hóa, sự vun trồn nhân cách con ngƣời (bao gồm cả cá nhân, tập thể, cộng đồng và xã hội), cũng có nghĩa làm cho con ngƣời và cuộc sống trở nên tốt đẹp hơn. Tóm lại, văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần, là sản phẩm của loài ngƣời, văn hóa đƣợc tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con ngƣời và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con ngƣời, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội. Văn hóa đƣợc truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa.
Văn hóa đƣợc tái tạo và phát triển trong quá trình hành động và tƣơng tác xã hội của con ngƣời.