phần mở đầu, kết luận, danh mục các từ viết tắt, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc kết cấu thành 03 chƣơng, gồm có Chƣơng 1: Cơ sở khoa học về văn hóa công sở tại các trƣờng đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức thuộc các Bộ Chƣơng 2: Thực trạng văn hóa công sở tại các trƣờng đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức thuộc các Bộ Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng, giải pháp xây dựng văn hóa công sở tại các trƣờng đào tạo, bồi dƣỡng cán bộ, công chức thuộc các Bộ. 6 Luan van CHƢƠNG I CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ VĂN HÓA CÔNG SỞ TẠI CÁC TRƢỜNG ĐÀO TẠO, BỒI DƢỠNG CÁN BỘ, CÔNG CHỨC 1. Những vấn đề chung về văn hóa công sở 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là một khái niệm có nội hàm rất rộng lớn, liên quan đến mọi mặt của cuộc sống con ngƣời và do vậy có rất nhiều cách hiểu và có nhiều định nghĩa về văn hóa.
Ở phƣơng Đông, khái niệm văn hóa đã xuất hiện rất sớm. Tác phẩm Chu Dịch, quẻ Bí đã có từ văn và hóa: Xem dáng vẻ con ngƣời, lấy đó mà giáo hóa thiên hạ (Quan hồ nhân văn dĩ hóa thành thiên hạ). Lƣu Hƣớng thời Tây Hán (năm 77-6 trƣớc công nguyên) xem văn hóa nhƣ một phƣơng thức giáo hóa con ngƣởi - văn trị giáo hóa. Nghĩa văn hóa ở đây đƣợc dùng đối lập với vũ lực (phàm dấy việc võ là vì không phục tùng, dùng văn hóa mà không sửa đổi, sau đó mới thêm chém giết).
Ở phƣơng Tây, để chỉ đối tƣợng đƣợc nghiên cứu, ngƣời Pháp, ngƣời Anh có từ culture, ngƣời Đức có từ kultur, ngƣời Nga có từ kultura. Những chữ này có chung gốc La tinh là cultus animi là trồng trọt tinh thần. Cultus là văn hóa tƣơng ứng với ý nghĩa trồng trọt, thích ứng với tự nhiên và giáo dục cá thể, cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên, mà họ có những phẩm chất tốt đẹp.18] Ngày nay, văn hóa thƣờng đƣợc hiểu là văn học, mỹ thuật, nghệ thuật nhƣ thơ ca, sân khấu, phim ảnh, v. Văn hóa còn đƣợc hiểu là cách sống bao gồm phong cách ăn mặc, ăn uống, cƣ xử và cả đức tin, tri thức … Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa, mỗi định nghĩa phản ánh một cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau.
Văn hóa đƣợc đề cập đến trong 7 Luan van nhiều lĩnh vực nghiên cứu và trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu đó định nghĩa về văn hóa khác nhau. Vào năm 2002, trong Tuyên bố chung của UNESCO về tính đa dạng của văn hóa, khái niệm văn hóa đã đƣợc định nghĩa nhƣ sau: “Văn hóa nên được đề cập đến như là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin. Mayor, nguyên Tổng giám đốc UNESCO đƣa ra một khái niệm về văn hóa vừa mang tính khái quát, vừa mang tính đặc thù: “Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục tập quán, lối sống và lao động.798] Chủ tịch Hồ Chí Minh định nghĩa về văn hóa rất sâu sắc: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.21] Nguyên Thủ tƣớng Phạm Văn Đồng viết: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử.
cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hóa với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: Tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh. Từ các định nghĩa nêu trên, chúng ta có thể đƣa ra một số nội dung cơ bản của văn hóa và vai trò của văn hóa nhƣ sau: 8 Luan van Văn hóa là nơi thể hiện rõ nhất tinh thần dân tộc, bản sắc dân tộc, đồng thời cũng là nơi thể hiện ý thức và phƣơng thức tiếp nhận những giá trị của các dân tộc khác theo tinh thần cùng tham dự và cùng chia sẻ. Văn hóa thuộc về nét riêng của con ngƣời và xét từ góc độ của quá trình tiến hóa, của nền văn minh mà con ngƣời đã và đang xây dựng thì văn hóa có thể đƣợc xem là một thành tựu của nhân loại. Có những giá trị văn hóa tồn tại lâu dài theo thời gian, làm nên bản sắc, đặc trƣng riêng của mỗi quốc gia, dân tộc, tổ chức; tuy nhiên cũng có những giá trị văn hóa thay đổi theo sự thay đổi của hệ thống chính trị, nền kinh tế - xã hội, các mối quan hệ giữa con ngƣời với con ngƣời.
Văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt, văn hóa là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra và là chìa khóa của sự phát triển. Văn hóa đƣợc xem là nhân tố quan trọng hình thành thói quen, cách suy nghĩ, phong cách và diện mạo của một con ngƣời hay một nhóm ngƣời, rộng hơn là của một vùng, một dân tộc nhất định. Tóm lại, văn hóa trong luận văn này đƣợc hiểu là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người, một cộng đồng người tạo dựng nên, nhằm mục đích đáp ứng và thoả mãn những nhu cầu của con người và các cộng đồng người nhất định. Khái niệm công sở Khái niệm “công sở” thƣờng đƣợc sử dụng khá phổ biến trong những năm gần đây.Từ điển Pratique du Francais năm 1987 đƣa ra khái niệm:“Công sở(service public) là một tập hợp có tổ chức, có phƣơng tiện và ngƣời đƣợc Nhà nƣớc bổ nhiệm và bổ trợ để thực hiện nhiệm vụ của mình”.
Từ điển Petit Larousee năm 1992 quan niệm: “Công sở (service public) là tổ chức (cơ cấu) có chức năng đảm nhiệm lợi ích công”; hay “công sở (établissement public) là một pháp nhân công quyền có quyền tự về tài chính, nói chung là chịu trách nhiệm đảm bảo một dịch vụ công”;và “công sở là phƣơng thức quản lý các dịch vụ công: Đó là một dịch vụ công đƣợc pháp nhân hóa.” 9 Luan van Theo Gustave Peiser - nhà luật học Cộng hòa Pháp thì thuật ngữ công sở và công sở tự quản là một khái niệm dùng chỉ các pháp nhân công: “Công sở là pháp nhân công quyền, chịu trách nhiệm tiến hành một trong các hoạt động của các đơn vị hành chính địa phương, thay mặt cho Nhà nước, cho tỉnh, cho công xã nhưng chịu sự kiểm tra các cấp đó. 66] Các nhà nghiên cứu ở Việt Nam cho rằng, công sở là một khái niệm thuộc phạm trù khoa học tổ chức và hành chính học. - “Công sở là trụ sở, nơi làm việc của các cơ quan nhà nƣớc nói chung.” - “Công sở, xét về nội dung, là hoạt động thỏa mãn một yêu cầu lợi ích chung, do vậy cần đƣợc sự bảo vệ kiểm tra của bộ máy hành chính nhà nƣớc mới đảm bảo thỏa mãn nhu cầu này; xét về mặt hình thức tổ chức, là một tập hợp có tổ chức, có phƣơng tiện vật chất và ngƣời đƣợc Nhà nƣớc hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ của mình.” - “Công sở là những cơ quan nhà nƣớc hoạt động nhân danh pháp nhân công pháp để thỏa mãn các nhu cầu của nhân dân.” Hiểu theo nghĩa toàn diện, công sở gồm những đặc điểm cơ bản sau: - Công sở chỉ gắn với Nhà nƣớc và chỉ do Nhà nƣớc thành lập và quản lý theo ý chí của Nhà nƣớc, đƣợc điều chỉnh bởi những quy phạm pháp luật. Quy chế hoạt động của công sở tuân thủ theo pháp luật của Nhà nƣớc.
Thẩm quyền, chức năng nhiệm vụ của từng công sở do cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền xác định; - Công sở là một pháp nhân cụ thể có liên quan đến hoạt động công quyền hay dịch vụ công, nói cách khác công sở có tính đặc thù gắn liền với chức năng, nhiệm vụ đƣợc phân giao theo ngành, lĩnh vực hay lãnh thổ, đƣợc Nhà nƣớc bảo đảm về mọi phƣơng tiện để hoạt động đạt kết quả; - Công sở có tài sản độc lập, sử dụng ngân sách nhà nƣớc theo kế hoạch, có trụ sở hoặc các văn phòng đại diện trong phạm vi lãnh thổ; đƣợc tổ chức theo các quy định của pháp luật Việt Nam và các điều ƣớc quốc tế khác; 10 Luan van - Công sở có tên gọi riêng và đƣợc khắc vào con dấu quy định, có quy chế công vụ, thực hiện đúng các bổn phận theo quy định, phải chịu trách nhiệm pháp lý trƣớc cơ quan tài phán hành chính có thẩm quyền; - Công sở có trụ sở giao dịch đặt tại các địa điểm trung tâm thuận tiện cho đi lại, giao tiếp và thực hiện các mối quan hệ bên trong và bên ngoài. 67-68] Có nhiều loại công sở: - Công sở hành chính do Nhà nƣớc, các bộ, các ủy ban nhân dân lập ra để làm chức năng tham mƣu, hay phục vụ cho sự lãnh đạo, quản lý của các nhà chức trách, nó hoàn toàn tuân theo luật công; - Công sở sự nghiệp là một pháp nhân công quyền do nhà nƣớc lập ra có tính tự quản; đó là công sở hành chính đƣợc pháp nhân hoá. Nó là một thực thể đặc thù, nằm trong bộ máy hành chính và tuân theo luật công; - Công sở công ích là tổ chức của công quyền hay của tƣ nhân do tƣ nhân lập ra để làm những dịch vụ công cộng, nếu là tƣ nhân thì cũng đƣợc nhà nƣớc công nhận là công ích và tuân theo luật công; Với định nghĩa và các đặc trƣng của công sở trên đây, không thể hiểu công sở, theo nghĩa hẹp, là trụ sở của các cơ quan hành chính nhà nƣớc.