mở đầu cho truyền thống tiếp cận VHCT trong lịch sử tƣ tƣởng nhân loại. Mệnh đề “Việc chính trị cốt ở chính dã ngƣời trị dân” là mệnh đề bất hủ của Khổng Tử. Khổng Tử rất tin ở sức hấp dẫn và sự tác động của đạo đức. Lòng tin ấy còn biểu hiện rõ ở câu: “Dùng đức là làm chính (Chính trị) cũng ví nhƣ ngôi sao Bắc cực, ở yên trên vị trí của mình mà các tinh tú đều châu vào” [49, tr.
Tiếp nối truyền thống đó, Mạnh Tử đề ra tƣ tƣởng “Văn trị giáo hóa” (Chính trị gắn với giáo dục) “Chính giỏi không thể tranh thủ đƣợc dân bằng giáo giỏi. Chính giỏi thì dân sợ, giáo giỏi thì dân yêu. Chính giỏi thì đƣợc của cải của thiên hạ, của dân; giáo giỏi thì đƣợc lòng dân” [45, tr. Học thuyết chính trị - xã hội (CT – XH) của Platon đặc biệt quan tâm đến vấn đề nhà nƣớc cùng với nó là các nhà triết học với tƣ cách là những ngƣời cầm quyền.
Theo ông, con ngƣời chỉ có thể hoàn thiện nhân cách trong một nhà nƣớc đƣợc tổ chức một cách hợp lý. Mục đích của triết học là xây dựng một nhà nƣớc lý tƣởng và hoàn thiện trong đó những nhà triết học đóng vai trò quan trọng. Theo Platon, đó là những con ngƣời mà lý tính đóng vai trò chủ đạo trong hoạt động. Họ luôn hƣớng tới cảm thụ cái đẹp và trật tự các ý niệm, khát vọng vƣơn tới phúc lợi tối cao, tới sự thật và công lý.
Họ có thể đảm nhận đƣợc vai trò lãnh đạo, trị vì xã hội trong nhà nƣớc lý tƣởng. Arixtot coi con ngƣời là “Động vật chính trị”, muốn nói đến vai trò chính trị trong việc xác định tƣ cách tồn tại của con ngƣời và cũng vì thế mà mục đích cao nhất của chính trị là làm sao để mọi ngƣời có thể sống và sống tốt hơn. Sứ mệnh của nhà nƣớc, của những nhà cầm quyền không chỉ bảo đảm cho mọi ngƣời sống bình thƣờng, mà còn phải làm sao để cho con ngƣời sống hạnh phúc. “Mục đích của nhà nƣớc là cuộc sống phúc lợi …, bản thân nhà nƣớc là sự giao thiệp của các gia tộc và dân cƣ nhằm đạt đƣợc sự tồn tại một cách hoàn thiện và tự lập” [42, tr.207], tức là đạt đƣợc một cuộc sống ƣu việt và theo ông không chỉ về phƣơng diện của cải vật chất mà còn đảm bảo công lý.
LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 14 Việc nghiên cứu VHCT nhƣ một lĩnh vực tƣơng đối độc lập bắt đầu từ những năm 1950 của thế kỷ XX. Thuật ngữ VHCT lần đầu tiên đƣợc sử dụng vào năm 1956. Công lao của việc tách riêng lĩnh vực nghiên cứu này và nâng nó lên sự thừa nhận khoa học thuộc về hai nhà chính trị học ngƣời Mỹ là G. Các ông chú trọng vào việc nghiên cứu hành vi hoạt động chính trị là một phần của hành trình xã hội cho nên khi phân tích hành vi chính trị phải gắn chặt với sự xem xét các nhân tố văn hóa, tâm lý của cá nhân và toàn xã hội.
Xuất phát từ hành vi chính trị của các cá thể, ông định nghĩa: “VHCT là tập hợp các lập trƣờng và xu hƣớng cá nhân của những ngƣời tham gia một hệ thống nào đó, là lĩnh vực chủ quan làm cơ sở hành động chính trị và làm cho hoạt động chính trị có ý nghĩa” [33, tr. Năm 1961, khi biên soạn Bách khoa toàn thƣ khoa học xã hội quốc tế, nhà chính trị học ngƣời Anh L.Pye đã đƣa ra định nghĩa về VHCT: “Văn hóa chính trị là một hệ thống thái độ, niềm tin và tình cảm, nó đem lại ý nghĩa và trật tự cho quá trình chính trị; nó đƣa ra tiền đề cơ bản và quy tắc chế ƣớc hành vi của hệ thống chính trị; nó bao gồm lý tƣởng chính trị và quy phạm vận hành của một chính thể” và theo L.Pye: “Văn hóa chính trị là sản phẩm bao gồm lịch sử tập thể của một hệ thống chính trị và cả lịch sử đời sống của các cá thể trong hệ thống đó, do đó nó bắt rễ sâu xa trong lịch sử các sự kiện chung và lịch sử cá nhân” [33, tr. Nhà nghiên cứu chính trị học Nga, giáo sƣ E.Đôđin không đồng tình với các học giả phƣơng Tây khi quy VHCT về các khuôn mẫu nào đó. Vì theo ông, điều đó thƣờng mang tính chủ quan của nhà nghiên cứu, rất dễ bị nhầm lẫn về bản chất bởi những hiện tƣợng bề mặt.
Theo ông: “Văn hóa chính trị là quá trình xã hội hóa chính trị, suy cho cùng là quá trình phổ cập những giá trị và những quy tắc chính trị nhận định” và “Quá trình xã hội hóa trong chừng mực nào đó đƣa đến ra đời các thiết chế xã hội, các giá trị và những chuẩn mực hành vi phù hợp với tiến trình phát triển” [31, tr. Các nhà nghiên cứu Việt Nam những năm gần đây tích cực vận dụng phƣơng pháp luận văn của chủ nghĩa Mác – Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh để xây dựng LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 15 một quan điểm đầy đủ về VHCT. Đặc biệt, những quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh về xã hội xã hội chủ nghĩa thực sự có ý nghĩa xuất phát điểm cho quá trình tìm tòi, nghiên cứu đó, song cũng cần thấy đây vẫn còn là một vấn đề mới và phức tạp cả về lý luận cũng nhƣ nhận thức. Quan điểm nổi bật nhất và đặc sắc nhất trong tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về VHCT là xã hội mới phải có con ngƣời mới đại diện cho nó: “Muốn có chủ nghĩa xã hội, phải có con ngƣời xã hội chủ nghĩa.
Muốn có con ngƣời xã hội chủ nghĩa, phải có tƣ tƣởng xã hội chủ nghĩa” [64, tr. Xây dựng thành công con ngƣời mới xã hội chủ nghĩa là xác lập cơ sở bền vững của VHCT mới. Đây là một tƣ tƣởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh về VHCT. VHCT cũng là loại hình văn hóa hƣớng con ngƣời làm việc thiện, gắn với các lợi ích kinh tế, chính trị, nhƣng nó phải là sự hài hòa, sự liên hiệp giữa cộng đồng và cá nhân, giữa truyền thống với hiện đại, giữa kinh tế và văn hóa, giữa giá trị vật chất và giá trị phi vật chất, giữa bản sắc văn hóa dân tộc với sự tiếp biến văn hóa quốc tế, trên nền tảng giá trị chân, thiện, mỹ.
Trên cơ sở quan niệm trên, các nhà nghiên cứu Việt Nam đã đƣa ra rất nhiều cách diễn đạt về khái niệm VHCT. Trong đó, một khái niệm về VHCT có tính khái quát chung là: VHCT là một phƣơng diện văn hóa trong xã hội có giai cấp, nói lên tri thức, năng lực sáng tạo trong hoạt động chính trị dựa trên nhận thức sâu sắc quan hệ chính trị hiện thực để thực hiện lợi ích chính trị cơ bản của giai cấp hay của xã hội phù hợp với sự phát triển lịch sử. VHCT đƣợc phản ánh trong hệ ý thức chính trị, trong các thiết chế chính trị và trong các giá trị vật chất cũng nhƣ tinh thần do hoạt động chính trị sáng tạo ra. Tổng hợp các cách tiếp cận khác nhau về VHCT, chúng ta thấy rằng VHCT là một bộ phận của văn hóa nhân loại, phản ánh mối quan hệ biện chứng giữa văn hóa dân tộc và hoạt động chính trị của các giai cấp, nó chỉ ra tác động của một loại hình văn hóa xã hội nhất định đối với HTCT và hành vi chính trị của công dân (bao gồm dân chúng và những ngƣời lãnh đạo nhà nƣớc).
VHCT thể hiện sự hiểu biết chính trị, tình cảm chính trị, giá trị chính trị, niềm tin và thái độ chính trị của các công dân đối với các hiện tƣợng chính trị và HTCT. Tinh thần cốt lõi của VHCT là LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 16 các giá trị nhân văn trong xử lý chính trị. Chính trị có văn hóa hay xử lý chính trị nhân văn là chính trị giải phóng con ngƣời, khỏi sự áp bức bóc lột về phƣơng diện giai cấp, dân tộc và xã hội, phấn đấu để ngày càng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Đó chính là VHCT đƣợc xây dựng trên nền tảng của chủ nghĩa Mác – Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh.
Trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tƣ tƣởng Hồ Chí Minh, cùng với việc kế thừa các giá trị trong quan niệm về VHCT của các nhà nghiên cứu lý luận gần đây, có thể khái quát lại, xét về bản chất, VHCT là tổng hòa những giá trị chính trị (cả giá trị vật chất và tinh thần), hoạt động chính trị thực tiễn của con ngƣời sáng tạo ra trong xã hội có giai cấp. Tóm lại, VHCT là một bộ phận, một phƣơng diện của văn hóa trong xã hội có giai cấp, nói lên chất lƣợng tổng hợp những giá trị vật chất và tinh thần với hạt nhân là các giá trị chính trị nhân văn đƣợc con ngƣời sáng tạo và sử dụng trong thực tiễn chính trị, để thực thi trong quan hệ về quyền lực chính trị, quyền lực nhà nƣớc nhằm thực hiện lợi ích chính trị cơ bản của giai cấp hay của nhân dân phù hợp với sự phát triển lịch sử, VHCT phản ánh trình độ trƣởng thành nhân cách chính trị của các chủ thể chính trị trong đời sống xã hội. * Đặc điểm của văn hóa chính trị VHCT bao giờ cũng mang tính giai cấp: VHCT hình thành trong thực tiễn đấu tranh giai cấp, do đó nó luôn bị chi phối bởi thế giới quan, hệ tƣ tƣởng, những quan điểm chính trị của giai cấp nhất định và phục vụ cho lợi ích của mỗi quốc gia. Tuy rất quan trọng nhƣng tính giai cấp không phải là thuộc tính duy nhất của VHCT.
Tính dân tộc và tính nhân loại luôn tồn tại trong VHCT của từng giai cấp. Đặc biệt trong bối cảnh của thế giới hiện đại, mỗi quan hệ giữa tính giai cấp, tính dân tộc và tinh thần nhân loại càng gắn bó chặt chẽ hữu cơ hơn bao giờ hết. Văn hóa trƣớc hết là vấn đề tồn tại và phát triển của một cộng đồng ngƣời nhất định, cộng đồng trở nên bền vững khi nó trở thành dân tộc. Tính dân tộc luôn gắn liền tính nhân loại, tính giai cấp.
VHCT phản ánh quan hệ quyền lực chính trị. Các giá trị của VHCT thể hiện mối quan hệ quyền lực giữa giai cấp và chính Đảng, tổ chức và thành viên … trong LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.