Chương 1: Văn hoá và nguồn cảm hứng về văn hoá Ấn Độ trong sáng tác của Hồ Anh Thái 1.1 Quan niệm chung về văn hoá 1.1 Định nghĩa về văn hoá Hiện nay có tới hơn 300 định nghĩa về văn hoá. Theo sự phát triển của xã hội quan niệm về văn hoá dường như ngày càng được bổ sung thêm nhiều nhân tố mới. Ở Phương Đông, từ văn hoá đã có trong đời sống ngôn ngữ từ rất sớm. Ban đầu người ta còn đồng nhất khái niệm văn với văn hoá.
Trong Chu dịch (còn gọi là Kinh Dịch là một trong những bộ sách triết lý đồ sộ nhất của Trung Quốc cổ đại, được xếp vào hệ thống Ngũ Kinh của Nho giáo) đã có từ văn và hoá: Quan hồ nhân văn dĩ hoá thành thiên hạ (xem dáng vẻ con người, lấy đó mà giáo hoá thiên hạ). Người sử dụng từ văn hoá sớm nhất có lẽ là Lưu Hướng (năm 77-76 TCN), thời Tây Hán với nghĩa như một phương thức giáo hoá con người – văn trị giáo hoá. Văn hoá ở đây được dùng đối lập với vũ lực. Ở Phương Tây, để chỉ văn hoá, người Anh có từ culture, người Đức có từ kultur, người Nga có từ kultura.
Những chữ này lại có chung gốc Latinh là chữ cultus animi là trồng trọt tinh thần. Vậy chữ cultus là văn hoá với hai khía cạnh: trồng trọt, thích ứng với tự nhiên, khai thác tự nhiên và giáo dục đào tạo cá thể hay cộng đồng để họ không còn là con vật tự nhiên, và họ có những phẩm chất tốt đẹp. Khái niệm văn hoá lần đầu tiên được nhà luật học Putedort, nhà triết học Herder, nhà ngôn ngữ học Adelung ở Đức sử dụng vào giữa thế kỷ XVIII. Thế kỷ XIX, XX, khái niệm văn hoá được làm rõ nghĩa hơn.
Các học giả đều đưa ra quan niệm của mình về văn hoá. Trong đó người ta hay nhắc tới khái niệm văn hoá của E. Hay theo Paulmush “Văn hoá là toàn bộ những hình ảnh đã nắm bắt được, soi sáng và chuyển dịch các hình ảnh ấy và truyền các hình ảnh ấy vào trong tập quán cá nhân và tập thể” [41]. Ở Việt Nam, nhiều học giả cũng đưa ra những quan niệm của mình về văn hoá.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặt ăn, ở, và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hoá” [dẫn theo 37, 21]. Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng viết “Nói tới văn hoá tức là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử… cốt lõi của sức sống dân tộc là văn hoá với nghĩa bao quát và cao đẹp nhất của nó, bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu để bảo vệ mình và không ngừng lớn mạnh” [39,16]. Phan Ngọc đưa ra một định nghĩa văn hoá: “Văn hoá là mối quan hệ giữa thế giới biểu tượng trong óc một cá nhân hay một tộc người với cái thế giới thực tại ít nhiều đã bị cá nhân này hay tộc người này mô hình hoá theo cái mô hình tồn tại trong biểu tượng.
Điều biểu hiện rõ nhất chứng tỏ mối quan hệ này, đó là văn hoá dưới hình thức dễ thấy nhất, biểu hiện thành một kiểu lựa chọn riêng của cá nhân hay tộc người, khác các kiểu lựa chọn của các cá nhân hay các tộc người khác” [28,20]. Trên cơ sở phân tích các định nghĩa về văn hoá Trần Ngọc Thêm đã đưa ra một định nghĩa về văn hoá như sau: “Văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo và tích luỹ qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [34, 25]. Theo Từ điển Tiếng Việt, “văn hoá là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử; là những hoạt động của con người nhằm thoả mãn nhu cầu của đời sống tinh thần (tổng quát); là những kiến thức, tri thức khoa học (nói khái quát); là trình độ cao trong sinh hoạt xã hội, biểu hiện của văn minh; là nền văn hoá của một thời kỳ lịch sử cổ xưa, được xác định trên cơ sở một tổng thể những di vật tìm thấy được có những đặc điểm giống nhau” [33, 1476]. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Và theo định nghĩa của tổ chức văn hoá thế giới UNESCO thì “văn hoá hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay của một nhóm người trong xã hội.
Văn hoá bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống gía trị, những tập tục và những tín ngưỡng. Văn hoá đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân. Chính văn hoá làm cho chúng ta trở thành những sinh vật đặc biệt nhân bản, có lí tính, có óc phê phán và dấn thân một cách đạo lý. Chính nhờ văn hoá mà con người tự thể hiện, tự ý thức được bản thân, tự biết mình là một phương án chưa hoàn thành đặt ra để xem xét những thành tựu của bản thân, tìm tòi không biết mệt những ý nghĩa mới mẻ và sáng tạo nên những côngg trình vượt trội lên bản thân” [dẫn theo 37, 23].
Như vậy theo UNESCO, văn hoá là tổng thể các hệ thống giá trị, bao gồm các mặt tình cảm, trí thức, vật chất, tinh thần của xã hội. Nó không thuần tuý bó hẹp trong sáng tác nghệ thuật mà bao gồm cả phương thức sống, những quyền con người cơ bản, truyền thống, tín ngưỡng” [40]. Dù có nhiều định nghĩa khác nhau, tuy nhiên người viết có thể rút ra những nét chính, cốt lõi trong quan niệm về văn hoá giữa các học giả: - Văn hoá là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra. Nói tới văn hoá là nói tới con người.
Dù là văn hoá vật thể hay phi vật thể đều gắn liền với vai trò của con người. Chính con người là chủ thể sáng tạo ra văn hoá và rồi chính những nét văn hoá đó lại quy định phương thức ứng xử của cả cộng đồng người. Như vậy con người cũng đồng thời là sản phẩm của văn hoá, là đại biểu mang giá trị văn hoá do con người sáng tạo ra. - Văn hoá là một dòng chảy mang bề dày của quá khứ.
Không thể có văn hoá của tương lai nếu không bắt nguồn từ những gì tích tụ được trong quá khứ và hiện tại. Đó là những lớp trầm tích phủ lên nhau, cái này không bài trừ mà bồi đắp lên cái kia tạo ra sự phong phú, đa dạng trong bản sắc văn hoá của từng vùng miền, từng cộng đồng dân tộc. Nhưng như vậy không có nghĩa văn hoá chỉ là di sản, là tài sản của quá khứ. Văn hoá là một dòng chảy bắt nguồn từ quá khứ, được hiện tại tiếp tục bồi đắp để tạo lập những giá trị nền tảng cho tương lai.
- Văn hoá mang tính dân tộc rõ nét. Vì thế mới có khái niệm “xây dựng một nền văn hoá đậm đà bản sắc dân tộc”. Mỗi dân tộc có phương thức ứng xử với tự 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiên và giữa con người với con người khác nhau phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh sống. Ngay cả việc giao lưu, học tập tinh hoa văn hoá của thế giới không đồng nghĩa với việc bắt chước hay dập khuôn một cách máy móc mà có sự sáng tạo và biến đổi hợp với văn hoá của nước sở tại.
Chính điều này tạo nên nét khác biệt trong văn hoá giữa các dân tộc, tạo nên sự thống nhất và đa dạng trong bức tranh văn hoá thế giới.2 Văn hoá và một số thuật ngữ liên quan - Văn hoá và văn minh Văn minh (civilization) có thể được định nghĩa theo nhiều cách nhưng chúng thường có một nét chung là chỉ “trình độ phát triển”. Trong khi văn hoá luôn có bề dày của quá khứ (tính lịch sử) thì văn minh là một lát cắt đồng đại, nó cho biết trình độ phát triển của văn hoá ở từng giai đoạn. Nói đến văn minh, người ta còn nghĩ đến các tiện nghi, khi văn hoá chứa cả những gía trị vật chất lẫn tinh thần, thì văn minh chủ yếu thiên về giá trị vật chất. Văn hoá mang tính dân tộc còn văn minh lại mang tính quốc tế, nó đặc trưng cho một khu vực rộng lớn hoặc cả nhân loại; - Văn hoá và văn vật Theo Từ điển Tiếng Việt, văn vật là “truyền thống văn hoá biểu hiện ở nhiều nhân tài và di tích lịch sử”.
Như vậy văn vật là một khái niệm bộ phận của văn hoá, là văn hoá thiên về giá trị vật chất (nhân tài, di tích, hiện vật). - Văn hoá và văn hiến Cũng theo Từ điển Tiếng Việt, văn hiến là “truyền thống văn hoá lâu đời”, có nghĩa văn hiến cũng là một khái niệm bộ phận của văn hoá, chỉ có điều văn hiến khác văn vật ở chỗ: văn hiến là văn hoá thiên về giá trị tinh thần. - Văn hoá và văn học Văn học trước hết là một loại hình nghệ thuật. Và cũng giống như các ngành nghệ thuật khác, sự tồn tại của văn học luôn gắn liền với vai trò của chủ thể sáng tạo là con người.
Tuy nhiên nếu hội hoạ sử dụng màu sắc, đường nét để tạo nên những bức tranh sinh động, đa dạng; thanh âm và giai điệu mang lại sức sống cho những bản nhạc; điêu khắc thể hiện sự tài hoa trên những đường khối, hình nét, màu sắc … thì văn học lại chọn ngôn từ như một đặc tính tiêu biểu để khu biệt và tạo nên những giá trị đặc trưng. 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Giữa văn hoá và văn học có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau.