Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG 1. Khái quát về thành ngữ, tục ngữ 1. Khái niệm thành ngữ, tục ngữ 1. Khái niệm tục ngữ Khái niệm "tục ngữ" đã được nhiều nhà nghiên cứu đề cập tới trong các giáo trình, tài liệu như: Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam của Hoàng Tiến Tựu; Văn học dân gian Việt Nam, tập 2 của Đinh Gia Khánh, Chu Xuân Diên; Văn học dân gian Việt Nam của Đỗ Bình Trị.
Các quan điểm cơ bản là giống nhau. Họ đều nhất trí rằng: Tục ngữ là những câu nói dân gian ngắn gọn, giàu tri thức, có vần, có nhịp, tương đối bền vững về cấu trúc, được sử dụng trong lời ăn tiếng nói hàng ngày, nhằm nêu lên những kinh nghiệm của nhân dân về mọi mặt đời sống (tự nhiên và xã hội). "Tục ngữ là những câu ngắn gọn có ý nghĩa hàm súc, do nhân dân lao động sáng tạo và lưu truyền qua nhiều thế hệ. Nó phản ánh đúc kết mọi mặt tri thức đời sống của nhân dân thông qua những hình tượng nghệ thuật độc đáo" [35, tr.
Tục ngữ là sản phẩm tinh thần của nhân dân lao động, kết tinh trí tuệ của người lao động trong quá trình lao động sản xuất và đấu tranh. Tục ngữ trở thành cuốn sách tri thức khổng lồ về tự nhiên và xã hội. Tục ngữ là tài sản của cả cộng đồng và kỷ niệm riêng của tộc người từ trước cho tới nay. Khái niệm thành ngữ Giống như tục ngữ, thành ngữ cũng là đối tượng được rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm để tìm và đưa ra được khái niệm hoàn chỉnh và phù hợp nhất.
Mỗi nhà nghiên cứu lại đưa ra một khái niệm về thành ngữ theo cách hiểu riêng. Họ đều cố gắng tìm ra khái niệm nhằm diễn tả đúng nhất bản chất của 10 c thành ngữ. Trong rất nhiều các khái niệm, có thể chỉ ra một số khái niệm tiêu biểu của một số nhà nghiên cứu văn học và nghiên cứu ngôn ngữ có kinh nghiệm như Dương Quảng Hàm, Vũ Ngọc Phan, Cù Đình Tú, Đái Xuân Ninh, Nguyễn Thiện Giáp. Nhà nghiên cứu Dương Quảng Hàm nhận định: “Thành ngữ là những lời nói do nhiều tiếng ghép lại đã lập thành sẵn, ta có thể mượn để diễn tả một ý tưởng của ta khi nói chuyện hoặc viết văn” [9, 6].
Nguyễn Thiện Giáp đã đưa ra một khái niệm về thành ngữ theo cách hiểu riêng: “Thành ngữ là cụm từ cố định, vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm. Bên cạnh nội dung trí tuệ, các thành ngữ bao giờ cũng kèm theo sắc thái, bình giá, cảm xúc, nhận định hoặc là kính trọng tán thành; hoặc là chê bai khinh rẻ; hoặc là ái ngại xót thương” [7, tr. Đái Xuân Ninh thì nhận định: “Thành ngữ là cụm từ cố định mà các yếu tố tạo thành đã mất tính độc lập ở mức độ nào đó và kết hợp lại thành một khối tương đối vững chắc và hoàn chỉnh” [32, tr. Vũ Ngọc Phan quan niệm: “Thành ngữ là một phần câu sẵn có, nó là một bộ phận của câu mà nhiều người đã quen dùng, nhưng tự riêng nó không diễn đạt được một ý trọn vẹn” [35, tr.
Theo quan niệm của nhà nghiên cứu ngôn ngữ Cù Đình Tú: “Thành ngữ là những đơn vị có sẵn mang chức năng định danh, nói cách khác đi, dùng để gọi tên sự vật, tính chất, hành động” và “thành ngữ là những đơn vị tương đương như từ” [61, tr. Nhìn chung, các nhà nghiên cứu đều cố gắng đưa ra những định nghĩa có tính khoa học và thuyết phục. Tuy nhiên, vẫn chưa có một định nghĩa nào có thể kiến giải được đầy đủ nhất, hoàn chỉnh nhất bản chất của thành ngữ. Song tất cả những định nghĩa trên đã có đóng góp rất lớn phục vụ cho việc nghiên 11 c cứu về thành ngữ, nhất là trong việc góp phần tìm ra một định nghĩa chính xác nhất về thành ngữ.
Dựa trên cơ sở khoa học của các định nghĩa trên, cùng với hiểu biết của bản thân về thành ngữ, người viết xin mạnh dạn đưa ra một định nghĩa về thành ngữ: Thành ngữ là những cụm từ cố định về hình thái cấu trúc, có tính hoàn chỉnh về nghĩa và mang sắc thái biểu cảm cao. Một số nét tương đồng của thành ngữ, tục ngữ 1. Về nguồn gốc Khi nghiên cứu về thành ngữ, tục ngữ, có thể rút ra nhận xét: Thành ngữ, tục ngữ có nét tương đồng nhau về nguồn gốc hình thành. Trong quá trình nghiên cứu, sưu tầm, người thực hiện đề tài nhận thấy cả thành ngữ và tục ngữ đều được hình thành từ các nguồn gốc sau: Vay mượn từ thành ngữ, tục ngữ nước ngoài (trong đó chủ yếu là từ thành ngữ, tục ngữ Hán); thành ngữ, tục ngữ hình thành từ trong tác phẩm văn chương; thành ngữ, tục ngữ hình thành từ trong thực tế cuộc sống hàng ngày của người dân.
* Vay mượn từ thành ngữ, tục ngữ nước ngoài Trong kho tàng thành ngữ, tục ngữ Việt, số lượng thành ngữ, tục ngữ vay mượn từ thành ngữ, tục ngữ nước ngoài chủ yếu là từ thành ngữ, tục ngữ Hán. Hai nước Việt Nam và Trung Hoa có mối quan hệ với nhau từ rất sớm. Mối quan hệ này bắt nguồn từ đặc điểm địa lý, lịch sử. Trong đó, có mối quan hệ về văn hóa và ngôn ngữ.
Ngay từ đầu công nguyên, từ khi có sự đô hộ của phương Bắc, ngôn ngữ Hán đã được sử dụng ở nước Việt với tư cách là một ngôn ngữ chính thống. Trải qua hơn một nghìn năm Bắc thuộc, văn hóa, văn học Trung Hoa cũng đã du nhập phần nào vào cuộc sống của dân tộc Việt. Chính vì vậy, thành ngữ, tục ngữ Hán cũng theo đó hiện diện trên đất nước ta và được nhân dân vay mượn để làm phong phú thêm lời ăn tiếng nói hàng ngày. Thế nên, 12 c việc vay mượn thành ngữ, tục ngữ Hán để hình thành nên các câu thành ngữ, tục ngữ Việt là có cơ sở lí giải của nó.
Với trí tuệ thông minh, người Việt đã vay mượn thành ngữ, tục ngữ Hán một cách khéo léo, sáng tạo theo nhiều cách thức khác nhau để phù hợp với văn hóa dân tộc. Đầu tiên là vay mượn hoàn toàn các câu thành ngữ, tục ngữ Hán bằng cách giữ nguyên hình thái cấu trúc và giữ nguyên ngữ nghĩa. Thông qua khảo sát, thấy trong kho tàng thành ngữ, tục ngữ có khoảng 354 câu thành ngữ, tục ngữ mượn từ tiếng Hán. Trong đó có khoảng 71 thành ngữ, tục ngữ giữ nguyên hình thái cấu trúc, chiếm khoảng 20%.
Ví dụ: “Dĩ hòa vi quí” “An cư lạc nghiệp” “Phú quí sinh lễ nghĩa” “Bách niên giai lão” “Bán tín bán nghi” Vay mượn và dịch một bộ phận ra tiếng Việt. Cách sáng tạo này ít hơn cả. Ví dụ: “Ôn cũ tri tân” thành “Ôn cũ biết mới” “Văn võ kiêm toàn” thành “Văn võ song toàn” “Đa mưu túc kế” thành “Đa mưu túc trí” Vay mượn và dịch toàn bộ các yếu tố ra tiếng Việt nhưng vẫn giữ nguyên cấu trúc. Đây là một cách vay mượn sáng tạo và thể hiện ý thức gìn giữ phát triển ngôn ngữ dân tộc của người Việt rất rõ nét.
13 c Ví dụ: “Giá áo túi cơm” dịch từ câu “Y giá phạn nang” “Bới lông tìm vết” dịch từ câu “Xuy mao cầu tùy” “Ngậm máu phun người” dịch từ câu “Hàm huyết phun nhân” “Môi hở răng lạnh” dịch từ câu “Thần phong sỉ hàn” Vay mượn bằng cách sáng tạo các câu thành ngữ, tục ngữ có nét nghĩa tương tự. Ví dụ: “Gậy ông đập lưng ông” tương tự với nghĩa của câu “Dĩ độc trị độc” “Nuôi ong tay áo” tương tự với nghĩa của câu “Dưỡng hổ di họa” “Bứt dây động rừng” tương tự với nghĩa của câu “Đả thảo kinh xà” “Quá tam ba bận” tương tự với nghĩa của câu “Sự bất quá tam” *Thành ngữ, tục ngữ hình thành từ trong tác phẩm văn chương Tác phẩm văn chương vừa là nơi lưu giữ để thành ngữ, tục ngữ được trường tồn lâu dài, lại vừa là nguồn gốc hình thành của nhiều câu thành ngữ, tục ngữ. Có những câu thành ngữ, tục ngữ được hình thành từ trong các tác phẩm văn chương cổ như: “Tháng giêng rét đài, tháng hai rét lộc, tháng ba rét nàng Bân” (dựa trên tích truyện nàng Bân may áo rét cho chồng); hay câu “Ông chẳng bà chuộc” được rút từ tích truyện cổ: có người đánh rơi viên ngọc, vợ chồng Chẫu Chàng bắt được. Người ấy xin chuộc lại.
Vợ đồng ý nhưng chồng nhất định không nghe. Sự bất hòa của vợ chồng Chẫu Chàng, dưới trí sáng tạo của dân gian, đã tạo nên thành ngữ này để diễn đạt ý không thống nhất, không ăn khớp. Nhiều thành ngữ như “Trống đánh xuôi kèn thổi ngược”, “Ông nói gà bà nói vịt” cũng diễn đạt ý này. 14 c Cũng có nhiều câu thành ngữ, tục ngữ được hình thành từ các tác phẩm văn học quen thuộc với người dân.
Trong đó phải kể tới “Truyện Kiều” của Nguyễn Du. Truyện Kiều sử dụng nhiều chất liệu của ca dao, tục ngữ nhưng cũng từ tác phẩm này, nhân dân ta có thêm nhiều thành ngữ mới trong đời sống hàng ngày.Ví dụ: “Chết đứng như Từ Hải” “Chữ tài liền với chữ tai một vần” “Chữ tài chữ mệnh khéo là ghét nhau” “Chữ trinh kia cũng có ba bảy đường” Hay một câu thành ngữ rất quen thuộc được hình thành từ tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố: “Tối như tiền đồ của chị Dậu” được dân gian quen dùng để chỉ cuộc sống khổ sở bế tắc không có lối thoát. * Thành ngữ, tục ngữ hình thành từ trong thực tế cuộc sống hàng ngày của người dân. Tục ngữ của người Việt chủ yếu có nguồn gốc hình thành từ con đường chiêm nghiệm cuộc sống hàng ngày của nhân dân.
Theo nghiên cứu, có thể thấy trên 3/4 số câu tục ngữ có nguồn gốc từ trong thực tế đời sống. Qua thực tế cuộc sống hàng ngày, nhân dân quan sát, chiêm nghiệm và rút ra những đúc kết mang tính kinh nghiệm và trở thành bài học cho bao người, bao đời thông qua sự lưu truyền từ đời này sang đời khác. Đó có thể là sự đúc rút các hiện tượng thiên nhiên để hình thành kinh nghiệm sản xuất nông nghiệp. Vậy nên tìm trong kho tàng tục ngữ Việt sẽ thấy đầy đủ các bước hướng dẫn sản xuất từ trồng lúa nước đến hoa màu.