Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ kinh tế của nghiên cứu sinh Nguyễn Hoàng Vĩnh Lộc, thực hiện tại Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh năm 2013 dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phan Ngọc Minh và TS. Nguyễn Thị Loan, mang tiêu đề: "Vận dụng và mở rộng phương thức tài trợ dự án, góp phần đẩy nhanh tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam" (Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng, Mã số: 62.01).

Tính cấp thiết của đề tài được luận án xác định dựa trên Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2011–2020 được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI và Nghị quyết Hội nghị Trung ương 4 khóa XI về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa Việt Nam cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020. Dữ liệu từ Hội nghị về mô hình hợp tác công tư (PPP) do Bộ Kế hoạch và Đầu tư tổ chức ngày 20/04/2012 tại Hà Nội chỉ ra rằng nhu cầu vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng của Việt Nam giai đoạn 2011–2020 ước tính khoảng 15 tỷ USD mỗi năm. Trong khi ngân sách nhà nước có hạn, việc huy động các nguồn lực tài chính từ khu vực tư nhân trong và ngoài nước thông qua các hình thức đầu tư như Xây dựng – Kinh doanh – Chuyển giao (BOT), Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh (BTO), Xây dựng – Chuyển giao (BT) và mô hình PPP đòi hỏi các cấu trúc tài chính phù hợp.

Khoảng trống nghiên cứu được tác giả chỉ ra gồm hai khía cạnh:

  • Về mặt lý luận: Tại Việt Nam, tài trợ dự án (Project Finance) vẫn là khái niệm tương đối mới, chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu nào phân tích phương thức này trong mối tương quan với hoạt động của hệ thống tổ chức tín dụng và mục tiêu tăng trưởng kinh tế.
  • Về mặt thực tiễn: Các tổ chức tín dụng tại Việt Nam chưa phân biệt rõ ràng giữa phương thức tài trợ dự án và các phương thức cấp tín dụng trung dài hạn truyền thống (cho vay theo dự án đầu tư, cho vay hợp vốn, cho thuê tài chính). Cơ quan quản lý nhà nước như Ngân hàng Nhà nước Việt Nam cũng chưa ban hành khung pháp lý hay quy chế tín dụng riêng biệt điều chỉnh hoạt động tài trợ dự án.

Luận án xác định 3 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Phân tích và làm rõ phương thức tài trợ dự án là một trong những giải pháp để thu hút các nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là nguồn vốn khu vực tư nhân trong và ngoài nước, tham gia phát triển kết cấu hạ tầng tại các quốc gia đang phát triển như Việt Nam.
  2. Phân tích thực trạng và khả năng vận dụng phương thức tài trợ dự án tại các tổ chức tín dụng ở Việt Nam.
  3. Đề xuất hệ thống các giải pháp và điều kiện cần thiết nhằm vận dụng và mở rộng phương thức tài trợ dự án tại các tổ chức tín dụng, góp phần đẩy nhanh tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam đến năm 2020.

Cơ sở khoa học và giả thuyết nghiên cứu của luận án dựa trên nguyên lý: Tài trợ dự án là cấu trúc tài trợ phi truyền thống, trong đó quyết định cấp tín dụng được đưa ra chủ yếu dựa vào tính khả thi, triển vọng thành công và dòng tiền tự thân sinh ra từ chính dự án đầu tư (dự án đóng vai trò là nguồn hoàn trả nợ độc lập, không truy đòi hoặc truy đòi hạn chế đối với chủ đầu tư), thay vì dựa trên năng lực tài chính tổng thể hay tài sản bảo đảm độc lập có sẵn của người khởi xướng như trong các phương thức cấp tín dụng truyền thống.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng và khả năng vận dụng, mở rộng phương thức tài trợ dự án tại hệ thống các tổ chức tín dụng ở Việt Nam.
  • Phạm vi thời gian: Luận án tập trung khảo sát các hoạt động tài trợ dự án và cấp tín dụng dự án trong giai đoạn 10 năm, từ năm 2002 đến năm 2012.
  • Phạm vi không gian và chủ thể: Nghiên cứu bao quát các tổ chức tín dụng hoạt động tại Việt Nam, bao gồm ngân hàng thương mại nhà nước, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh, văn phòng đại diện tổ chức tín dụng nước ngoài và các định chế tài chính quốc tế (WB, IFC, ADB) có tham gia tài trợ các dự án tại Việt Nam.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật hệ thống tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước về phương thức tài trợ dự án trong hai thập kỷ trước thời điểm nghiên cứu, phân chia thành các nhóm công trình chủ yếu sau:

  1. Nhóm nghiên cứu về quy trình, chính sách và thủ tục: Công trình Project Finance của Pahwa (1991), tập trung vào phân tích các chính sách, quy định pháp lý và thủ tục triển khai tài trợ dự án tại các thị trường tài chính.
  2. Nhóm nghiên cứu tình huống thực nghiệm: Các công trình của Lang (1998) về tài trợ dự án và Esty (2004) với tác phẩm Modern Project Finance: A Casebook, cung cấp các phân tích điển cứu về cấu trúc giao dịch, phân bổ rủi ro và quản trị dự án trên thực tế.
  3. Nhóm nghiên cứu kỹ thuật tài chính: Tài liệu Project Financing của Finnerty (1996) và công trình cùng tên của Nevitt & Fabozzi (2000), hệ thống hóa các kỹ thuật định giá, cấu trúc nguồn vốn, phương thức phân bổ rủi ro tài chính và xây dựng các hợp đồng giao kết.
  4. Nhóm nghiên cứu khía cạnh pháp lý: Công trình The Law and Business of International Project Finance của Hoffman (2001), phân tích hệ thống pháp luật, điều ước và các cam kết tài phán chi phối các dự án xuyên biên giới.
  5. Nhóm nghiên cứu tổng hợp đa ngành: Tác phẩm của Khan và Parra (2003) mang tên Financing Large Projects, phân tích liên ngành giữa kỹ thuật, tài chính, kinh tế, môi trường và pháp lý trong việc thu xếp vốn cho các đại dự án hạ tầng.

Tại Việt Nam, tiến trình nghiên cứu về tài trợ dự án trải qua các mốc thời gian:

  • Giai đoạn trước năm 1975: Quỹ Phát triển Quốc gia đã biên soạn và xuất bản năm 1972 bộ sách gồm 2 tập mang tên Phương thức nghiên cứu và tài trợ dự án đầu tư (Tập 1 hướng dẫn nghiên cứu thị trường, kỹ thuật công nghệ, tổ chức sản xuất, phân tích tài chính và lợi ích kinh tế - xã hội; Tập 2 hướng dẫn lập kế hoạch tài trợ và các định chế tài chính tài trợ dự án).
  • Giai đoạn từ năm 1995: Thuật ngữ tài trợ dự án bắt đầu được đưa vào giảng dạy trong học phần Tài chính phát triển thuộc Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright.
  • Các công bố học thuật trong nước sau năm 2000: Bài viết của Nguyễn Thu Hiền (2001) trên Tạp chí Phát triển Kinh tế số 125 với tiêu đề "Phương thức tài trợ dự án: Lối ra cho tư nhân hoá cơ sở hạ tầng và tiện ích công cộng", phân tích sự khác biệt giữa tài trợ dự án và tín dụng truyền thống; bài viết của Phạm Anh Dũng (2004) trên Tạp chí Công nghệ Ngân hàng số 1 với tiêu đề "Tài trợ dự án - sự cần thiết đối với doanh nghiệp Việt Nam".
  • Công trình nghiên cứu trước đó của chính tác giả: Luận văn thạc sĩ của Nguyễn Hoàng Vĩnh Lộc bảo vệ năm 2005 tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh với đề tài "Vận dụng phương thức tài trợ dự án mở rộng tín dụng trung dài hạn trong điều kiện Việt Nam hiện nay".

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Các bài báo và nghiên cứu trước đây tại Việt Nam chỉ dừng lại ở việc giới thiệu khái niệm hoặc phân biệt sơ lược giữa tài trợ dự án và cho vay dự án truyền thống. Chưa có công trình nào đánh giá toàn diện năng lực và thực trạng vận dụng phương thức tài trợ dự án của từng nhóm tổ chức tín dụng trong nước và nước ngoài tại Việt Nam, đặt trong bối cảnh các quy chế của Ngân hàng Nhà nước và định hướng thí điểm mô hình hợp tác công tư (PPP). Luận án của tác giả kế thừa kết quả nghiên cứu năm 2005 nhưng mở rộng sang việc gắn kết tài trợ dự án với tiến trình phát triển kinh tế tổng thể của quốc gia và xây dựng giải pháp mang tính hệ thống cho các bên liên quan.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

Luận án tiếp cận dự án đầu tư qua hai góc nhìn:

  • Quan điểm tĩnh: Dự án đầu tư là sự hình dung về một tình huống hoặc trạng thái mục tiêu cụ thể cần đạt tới (công trình xây dựng, máy móc thiết bị, phương tiện vận tải).
  • Quan điểm động: Định nghĩa của Ngân hàng Thế giới (WB) coi dự án là tổng thể các chính sách, hoạt động và chi phí liên quan được hoạch định nhằm đạt các mục tiêu cụ thể trong thời gian xác định; kết hợp với định nghĩa tại Nghị định số 52/1999/NĐ-CP của Chính phủ về quy chế quản lý đầu tư và xây dựng.

Khung phân tích dự án đầu tư trong luận án được xây dựng tuần tự qua 5 phương diện:

  1. Phân tích thị trường: Xác định mức cầu, khả năng tiêu thụ, giá bán, chính sách phân phối và doanh thu dự kiến.
  2. Phân tích kỹ thuật: Địa điểm, công nghệ, công suất thiết kế, chi phí đầu tư ban đầu, định mức và thời gian thi công.
  3. Phân tích nhân lực và quản lý: Thiết kế bộ máy, chi phí nhân công, đào tạo, chuyển giao công nghệ.
  4. Phân tích tài chính: Thiết lập các bảng thông số, dự toán dòng tiền, đánh giá khả năng trả nợ, xác định chi phí sử dụng vốn bình quân trọng số (WACC), tỷ suất hoàn vốn nội tại (IRR), thời gian hoàn vốn có chiết khấu (DPP) và phân tích độ nhạy.
  5. Phân tích kinh tế - xã hội: Đánh giá giá trị gia tăng, việc làm, ngân sách, ngoại tệ và chuyển dịch cơ cấu ngành.

Luận án phân tích chi tiết cơ chế xác định nguồn trả nợ theo phương pháp Nguồn khả dụng để trả nợ kỳ hạn tăng thêm (Funds Available To Service Additional Term Loan - FATSATL) áp dụng cho các khoản cấp tín dụng dự án mở rộng:

$$\text{FATSATL} = \text{Thu nhập sau thuế} + \text{Khấu hao} - \text{Nợ dài hạn đến hạn} - \Delta\text{VLĐ ròng} - \text{Cổ tức} - \text{Các quỹ trích lập} - \text{Mua sắm TSCĐ giá trị thấp}$$

Đối với chế độ ân hạn, luận án so sánh cụ thể giữa ân hạn nợ gốc và ân hạn cả gốc và lãi (lãi vay nhập vốn gốc). Luận án đưa ra mô hình số liệu giả định: Khoản vay giải ngân ban đầu 10.000 triệu đồng, cuối năm 1 giải ngân 20.000 triệu đồng, cuối năm 2 giải ngân 20.000 triệu đồng, lãi suất 12%/năm trong 2 năm xây dựng:

Chỉ tiêu Năm 0 Năm 1 Năm 2 Tổng lãi thi công Dư nợ cuối năm 2
Trường hợp ân hạn nợ gốc 10.000 20.000 20.000 4.800 50.000
Trường hợp ân hạn gốc và lãi 10.000 20.000 20.000 4.944 54.944

Số liệu cho thấy trường hợp ân hạn cả gốc và lãi làm phát sinh thêm 144 triệu đồng tiền lãi thi công do tiền lãi 1.200 triệu đồng của năm 1 được nhập vào nợ gốc để tính lãi ở năm thứ 2.

Về bản chất phương thức tài trợ dự án: Khác với cho vay theo dự án đầu tư (dựa vào toàn bộ tài sản và năng lực của doanh nghiệp đi vay, quyền truy đòi toàn bộ) hay cho thuê tài chính (dựa vào quyền sở hữu tài sản cho thuê), tài trợ dự án dựa trên việc thành lập Công ty mục đích đặc biệt (Special Purpose Vehicle - SPV) hoặc Doanh nghiệp dự án (DNDA), cấu trúc Công ty vay tín thác (Trustee Borrowing Vehicle - TBV). Nguồn hoàn trả nợ gốc và lãi phụ thuộc hoàn toàn hoặc chủ yếu vào dòng tiền hoạt động của chính dự án; tài sản thế chấp là tài sản hình thành của dự án, các hợp đồng kinh tế (hợp đồng thiết kế - mua sắm - xây dựng EPC, hợp đồng bao tiêu sản phẩm off-take) và các cam kết bảo lãnh.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng hướng tiếp cận định tính kết hợp thống kê mô tả:

  • Phương pháp mô tả: Hệ thống hóa chi tiết các quy trình, đặc điểm, cấu trúc pháp lý và cơ chế vận hành của các phương thức cấp tín dụng truyền thống và tài trợ dự án.
  • Phương pháp thống kê: Tổng hợp số lượng tổ chức tín dụng, cơ cấu ngành nghề, các hình thức hợp đồng và số lượng dự án tiêu biểu được tài trợ theo phương thức tài trợ dự án tại Việt Nam giai đoạn 2002–2012.
  • Phương pháp phân tích và so sánh: Đánh giá ưu điểm, nhược điểm của từng phương thức cấp vốn; đối chiếu giữa lý luận tài trợ dự án chuẩn mực quốc tế với thực tiễn áp dụng tại các ngân hàng Việt Nam.
  • Phương pháp tổng hợp: Hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu thực trạng nhằm xác lập cơ sở thực tế cho các nhóm giải pháp.

Nguồn dữ liệu: Dữ liệu được thu thập từ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của các tổ chức tín dụng (BIDV, Vietcombank, VietinBank, Agribank, Eximbank, Techcombank, VDB...), thông tin công bố từ các định chế tài chính quốc tế (WB, IFC, ADB), văn bản pháp quy của Chính phủ và các phương tiện truyền thông kinh tế chuyên ngành.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về sự cần thiết của việc vận dụng và mở rộng phương thức tài trợ dự án đối với tiến trình phát triển kinh tế của các quốc gia

Chương 1 thiết lập nền tảng lý luận về cấp tín dụng dự án, gồm 3 khối nội dung lớn:

  1. Cơ sở lý luận về các phương thức cấp tín dụng truyền thống: Phân tích ba công cụ chủ yếu là cho vay theo dự án đầu tư, cho vay hợp vốn và cho thuê tài chính (mô hình 2 bên và mô hình 3 bên theo tiêu chuẩn kế toán quốc tế). Luận án chứng minh rằng phương thức cho vay truyền thống có rào cản lớn: bên vay bị giới hạn bởi hệ số nợ trên vốn chủ sở hữu, lịch sử tín dụng của doanh nghiệp mẹ, và gánh chịu trách nhiệm truy đòi vô hạn bằng toàn bộ tài sản doanh nghiệp, dễ dẫn đến nguy cơ phá sản dây chuyền nếu dự án đơn lẻ gặp sự cố.
  2. Bản chất phương thức tài trợ dự án: Luận án phân tích cấu trúc tài trợ dự án, các chủ thể tham gia (bên khởi xướng, SPV/DNDA, ngân hàng đầu mối, ngân hàng thành viên, nhà thầu EPC, nhà cung ứng nguyên liệu, bên bao tiêu sản phẩm, chính phủ, đơn vị bảo hiểm), các loại hợp đồng dự án (BOT, BTO, BT), các dạng cấu trúc (cấu trúc giải ngân xây dựng, cấu trúc thanh toán bằng sản phẩm, cấu trúc cho thuê dự án, cấu trúc đồng tài trợ cùng WB và IFC). Luận án chỉ rõ tài trợ dự án giúp nâng cao hệ số đòn bẩy nợ (tỷ lệ nợ/vốn có thể lên tới 70/30 hoặc 80/20) mà không ảnh hưởng trực tiếp đến bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp bảo trợ (tài trợ ngoài bảng - off-balance sheet).
  3. Mối quan hệ giữa tài trợ dự án và phát triển kinh tế: Luận án lập luận rằng tài trợ dự án đóng vai trò thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua việc tạo ra tư bản cố định, huy động vốn tư nhân phát triển kết cấu hạ tầng (giao thông, năng lượng, viễn thông), giảm áp lực nợ công cho ngân sách, hỗ trợ chuyển giao công nghệ kỹ thuật phức tạp và thúc đẩy cải cách thể chế kinh tế.
Tiêu thức so sánh Cho vay theo dự án đầu tư truyền thống Tài trợ dự án (Project Finance)
Chủ thể đi vay Doanh nghiệp đang hoạt động (doanh nghiệp mẹ) Doanh nghiệp dự án / Công ty mục đích đặc biệt (SPV)
Cơ sở cấp tín dụng Năng lực tài chính, uy tín, tài sản của người vay Dòng tiền và khả năng sinh lời trong tương lai của dự án
Quyền truy đòi của bên cho vay Truy đòi toàn bộ tài sản của người vay Không truy đòi hoặc truy đòi có giới hạn đối với chủ sở hữu
Tài sản bảo đảm Tài sản sẵn có thuộc sở hữu của người vay/người bảo lãnh Tài sản hình thành từ dự án, quyền thu phí, các hợp đồng
Tỷ lệ nợ / Vốn Bị khống chế chặt chẽ theo tỷ lệ an toàn của doanh nghiệp Cho phép hệ số đòn bẩy cao (70% - 80% tổng mức đầu tư)
Ghi nhận kế toán Nợ ghi nhận trên bảng cân đối của doanh nghiệp mẹ Tài trợ ngoài bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp mẹ

Chương 2: Thực trạng vận dụng và mở rộng phương thức tài trợ dự án tại các tổ chức tín dụng ở Việt Nam

Chương 2 phản ánh bức tranh thực tiễn hoạt động cấp tín dụng dự án tại Việt Nam giai đoạn 2002–2012:

  1. Phân tích khả năng của hệ thống tổ chức tín dụng: Đánh giá thực lực vốn, năng lực thẩm định và mức độ tham gia của từng nhóm ngân hàng (khối NHTM nhà nước có thế mạnh quy mô vốn nhưng hạn chế về kỹ năng đánh giá rủi ro kỹ thuật; khối NHTM cổ phần quy mô vốn nhỏ, danh mục kỳ hạn ngắn; khối ngân hàng nước ngoài có kỹ năng thẩm định chuẩn mực quốc tế nhưng thận trọng với rủi ro pháp lý tại Việt Nam).
  2. Thực trạng triển khai:
    • Các tổ chức tín dụng tại Việt Nam vẫn nhầm lẫn giữa cho vay hợp vốn thuần túy và tài trợ dự án. Hầu hết các khoản vay quy mô lớn cho các dự án thủy điện, nhiệt điện, xi măng thực chất là cho vay hợp vốn có truy đòi toàn bộ đối với các tập đoàn nhà nước (EVN, PVN, Vinashin), dựa vào bảo lãnh của công ty mẹ hoặc bảo lãnh của Bộ Tài chính, chứ chưa thực hiện đúng bản chất cấu trúc tài trợ dự án không truy đòi.
    • Về lĩnh vực: Giai đoạn 2002–2012, các thương vụ mang đặc tính tài trợ dự án tập trung nhiều nhất ở ngành điện năng và hạ tầng giao thông thu phí.
    • Các điển cứu thực tế được phân tích sâu: Dự án Nhà máy Nhiệt điện BOT Phú Mỹ 2.2 và Phú Mỹ 3 (có sự tham gia thu xếp của các định chế tài chính quốc tế như ADB, IFC, JBIC); Dự án Cầu Phú Mỹ tại TP. Hồ Chí Minh đầu tư theo hình thức BOT (phân tích lộ trình thu phí tại Bảng 2.7 để đánh giá dòng tiền hoàn vốn).
    • Tỷ trọng cấp tín dụng theo phương thức tài trợ dự án so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2002–2012 vẫn ở mức thấp, phản ánh qua Bảng 2.9 và Biểu đồ 2.2 trong luận án.
  3. Hạn chế và nguyên nhân:
    • Hạn chế: Quy mô các khoản tài trợ dự án chuẩn mực còn rất khiêm tốn; thiếu vắng các hợp đồng phòng ngừa rủi ro phái sinh; ngân hàng trong nước chưa đủ khả năng làm ngân hàng đầu mối cho các dự án quy mô quốc tế; các điều kiện hợp đồng EPC và off-take chưa đạt chuẩn quốc tế.
    • Nguyên nhân: Khuôn khổ pháp lý về BOT, BT và thí điểm PPP chưa hoàn thiện, thiếu ổn định; cơ chế bảo lãnh chuyển đổi ngoại tệ của Chính phủ chưa rõ ràng; thị trường vốn dài hạn chưa phát triển; nguồn vốn huy động của các NHTM Việt Nam chủ yếu là ngắn hạn; năng lực thẩm định dòng tiền, dự báo kinh tế kỹ thuật và quản lý rủi ro của đội ngũ cán bộ tín dụng còn hạn chế.

Chương 3: Giải pháp vận dụng và mở rộng phương thức tài trợ dự án, góp phần đẩy nhanh tiến trình phát triển kinh tế Việt Nam

Chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp gắn với định hướng phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020:

  1. Xác lập điều kiện tiên quyết: Điều kiện về năng lực quản lý dự án của chủ đầu tư; điều kiện về quy mô vốn, quản trị rủi ro của tổ chức tín dụng; điều kiện về sự minh bạch và bảo đảm pháp lý từ phía các cơ quan quản lý nhà nước.
  2. Nhóm giải pháp đối với người đi vay (chủ đầu tư):
    • Chuyên nghiệp hóa công tác lập dự án đầu tư theo chuẩn quốc tế; thực hiện đầy đủ 5 bước thẩm định (thị trường, kỹ thuật, nhân lực, tài chính, kinh tế - xã hội).
    • Chủ động thành lập các SPV độc lập để quản lý và vận hành dự án, minh bạch hóa dòng tiền; thương lượng chặt chẽ các hợp đồng mua bán sản phẩm (off-take agreement) và hợp đồng EPC có điều khoản phạt vi phạm rõ ràng.
  3. Nhóm giải pháp đối với các tổ chức tín dụng:
    • Xây dựng quy trình thẩm định tài chính dự án chuyên biệt: Luận án chi tiết hóa các công cụ mô hình hóa tài chính từ Bảng 3.1 đến Bảng 3.7 (Lịch trả nợ, dự toán kết quả kinh doanh, cân đối nguồn trả nợ, dự trù vốn lưu động, dự toán dòng tiền hoạt động theo kịch bản ân hạn nợ gốc).
    • Ứng dụng kỹ thuật tính toán hệ số nợ bao phủ nợ (DSCR), tính toán chi phí vốn WACC và xác định hệ số rủi ro Beta ($\beta$) tương thích cho từng lĩnh vực hạ tầng (trình bày chi tiết tại Phụ lục 2).
    • Đào tạo đội ngũ chuyên gia thẩm định đa ngành (tài chính, kỹ thuật, pháp lý dự án); tăng cường liên kết hợp vốn giữa các ngân hàng trong nước và đồng tài trợ với các định chế tài chính quốc tế (WB, ADB, IFC) để chia sẻ rủi ro và tiếp nhận chuyển giao kỹ thuật cấu trúc tài trợ dự án.
  4. Nhóm kiến nghị đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước):
    • Quốc hội và Chính phủ: Ban hành Luật Đầu tư theo hình thức đối tác công tư (Luật PPP), hoàn thiện các quy định về hợp đồng BOT, BTO, BT; xác lập cơ chế bảo lãnh rõ ràng về doanh thu tối thiểu, bảo đảm quyền tiếp cận đất đai và bảo lãnh chuyển đổi ngoại tệ cho các dự án cơ sở hạ tầng trọng điểm.
    • Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung "Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng" và "Quy chế cấp tín dụng hợp vốn", bổ sung định nghĩa và các điều khoản riêng điều chỉnh phương thức tài trợ dự án (cho phép áp dụng các tỷ lệ an toàn, trích lập dự phòng và quản lý tài sản bảo đảm dựa trên dòng tiền dự án phù hợp với thông lệ quốc tế).
    • Phát triển thị trường tài chính: Đẩy mạnh thị trường trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu công trình để tạo nguồn vốn đối ứng dài hạn cho các dự án cơ sở hạ tầng.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đã tự công bố các đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn:

  1. Đóng góp về mặt lý luận:

    • Hệ thống hóa và làm rõ sự khác biệt giữa phương thức tài trợ dự án phi truyền thống với các hình thức cấp tín dụng trung dài hạn quen thuộc (cho vay theo dự án đầu tư, cho vay hợp vốn, cho thuê tài chính).
    • Phân tích và khẳng định vai trò của tài trợ dự án như một cơ chế dẫn vốn từ khu vực tư nhân vào phát triển kết cấu hạ tầng, góp phần hình thành tư bản cố định, chuyển giao kỹ thuật công nghệ và đổi mới thể chế quản trị kinh tế tại các nước đang phát triển.
  2. Đóng góp về mặt thực tiễn:

    • Chỉ ra việc các tổ chức tín dụng tại Việt Nam chưa phân biệt phương thức tài trợ dự án trên cổng thông tin và tài liệu sản phẩm tín dụng; qua đó đề xuất việc chuẩn hóa sản phẩm theo thông lệ quốc tế.
    • Chỉ ra khoảng trống trong các văn bản quy phạm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (đặc biệt là Quy chế cho vay và Quy chế cấp tín dụng hợp vốn) khi chưa định danh và điều chỉnh phương thức tài trợ dự án, làm căn cứ kiến nghị sửa đổi văn bản pháp lý.
    • Đánh giá thực trạng triển khai tài trợ dự án giai đoạn 2002–2012 tại Việt Nam qua các hợp đồng BOT điển hình (Nhiệt điện Phú Mỹ, Cầu Phú Mỹ); nhận diện nguyên nhân cốt lõi khiến phương thức này chưa thể phát triển sâu rộng.
    • Thiết lập khung điều kiện và quy trình thẩm định tài chính dự án thực nghiệm (công thức FATSATL, bảng dòng tiền dự án có ân hạn, phương pháp xác định hệ số Beta) giúp các tổ chức tín dụng nâng cao năng lực định giá và kiểm soát rủi ro.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế của nghiên cứu:

  • Hạn chế về cơ sở dữ liệu: Cơ quan quản lý là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chưa ban hành danh mục thống kê chính thức riêng cho các khoản tài trợ dự án. Đồng thời, bản thân các tổ chức tín dụng Việt Nam trong giai đoạn 2002–2012 chưa tách bạch nghiệp vụ tài trợ dự án ra khỏi số liệu cho vay dự án trung dài hạn và cho vay hợp vốn truyền thống trên hệ thống báo cáo kế toán.
  • Giới hạn về phương pháp lượng hóa: Do thiếu hệ số liệu thống kê chuỗi thời gian chính thức và đồng nhất về các thương vụ tài trợ dự án, luận án không thể xây dựng các mô hình kinh tế lượng định lượng (quantitative econometric models) để kiểm định các giả thuyết hoặc đo lường mức độ tác động cụ thể bằng các chỉ số tương quan.

Về hướng nghiên cứu tiếp: Khi cơ quan quản lý nhà nước hoàn thiện khung pháp lý và ban hành chế độ thống kê định danh riêng biệt cho nghiệp vụ tài trợ dự án và các hợp đồng PPP, các nghiên cứu tiếp sau có thể:

  • Ứng dụng các phương pháp mô hình hóa định lượng để đo lường định lượng tác động của tài trợ dự án đối với tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc hệ số ICOR tại Việt Nam.
  • Đi sâu nghiên cứu các cấu trúc kỹ thuật phân bổ rủi ro tài chính chuyên sâu, định giá các công cụ bảo lãnh tín dụng và bảo hiểm rủi ro chính trị trong các dự án hợp tác công tư.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo cho nhiều nhóm đối tượng trong nghiên cứu và hoạt động thực tế:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế đầu tư: Luận án cung cấp hệ thống cơ sở lý thuyết, lược khảo tài liệu quốc tế chuyên khảo (Pahwa, Esty, Finnerty, Hoffman, Khan & Parra) và cấu trúc phân tích dự án theo chuẩn mực tài chính doanh nghiệp.
  • Đối với chuyên viên thẩm định và lãnh đạo khối khách hàng doanh nghiệp tại các ngân hàng thương mại: Nội dung Chương 1 và Chương 3, đặc biệt là quy trình lập dự toán dòng tiền, phương pháp FATSATL, phân tích chế độ ân hạn và Phụ lục xác định hệ số Beta, là tài liệu hướng dẫn kỹ thuật trong thẩm định các dự án trung dài hạn.
  • Đối với các cơ quan quản lý nhà nước (Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Ngân hàng Nhà nước): Các kiến nghị hoàn thiện thể chế trong Chương 3 cung cấp cơ sở thực tiễn phục vụ việc xây dựng các văn bản hướng dẫn Luật Đầu tư, khung pháp lý đối tác công tư (PPP) và quy chế an toàn tín dụng dự án.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt sự khác nhau cơ bản giữa tài trợ dự án và cho vay theo dự án đầu tư truyền thống như thế nào?

Theo phân tích của tác giả, cho vay theo dự án đầu tư truyền thống dựa trên năng lực tài chính tổng thể và tài sản bảo đảm độc lập của doanh nghiệp đi vay, với quyền truy đòi vô hạn đối với toàn bộ tài sản của doanh nghiệp nếu dự án thất bại. Ngược lại, tài trợ dự án dựa trên việc thành lập một pháp nhân độc lập (SPV/DNDA); nguồn trả nợ duy nhất hoặc chủ yếu được trích từ dòng tiền tự thân sinh ra từ dự án; quyền truy đòi của bên cho vay đối với chủ đầu tư bị giới hạn hoặc không có quyền truy đòi (non-recourse / limited recourse).

2. Phương pháp FATSATL trong luận án được tính toán như thế nào và có ý nghĩa gì trong thẩm định tín dụng?

FATSATL (Nguồn khả dụng để trả nợ kỳ hạn tăng thêm) được tính bằng: Thu nhập sau thuế của các dự án đang hoạt động và dự án mở rộng (+) Khấu hao tài sản (-) Nợ dài hạn đến hạn (-) Gia tăng vốn lưu động ròng (-) Cổ tức chi trả (-) Các quỹ trích lập (-) Mua sắm tài sản cố định giá trị thấp. Phương pháp này giúp tổ chức tín dụng xác định chính xác phần dòng tiền thực tế còn lại mà người vay có thể dùng để thanh toán nghĩa vụ nợ cho dự án mở rộng, tránh việc hạch toán trùng lặp khi doanh nghiệp vận hành đồng thời nhiều dự án.

3. Trong giai đoạn 2002–2012, phương thức tài trợ dự án tại Việt Nam gặp phải những rào cản cốt lõi nào?

Rào cản cốt lõi gồm: Ngân hàng Nhà nước chưa có quy chế cấp tín dụng riêng cho tài trợ dự án; hệ thống pháp luật về BOT, BTO, BT và PPP còn phân tán; thiếu cơ chế bảo lãnh chuyển đổi ngoại tệ và cam kết doanh thu tối thiểu; các tổ chức tín dụng trong nước phụ thuộc vào tài sản thế chấp truyền thống do thiếu năng lực thẩm định kỹ thuật - rủi ro độc lập; nguồn vốn huy động của các ngân hàng thương mại chủ yếu là ngắn hạn nên gặp khó khăn về kỳ hạn tài trợ.

4. Tại sao tác giả không thực hiện mô hình định lượng (econometric modeling) trong luận án?

Tác giả đã giải trình trong phần hạn chế của nghiên cứu rằng: Tại thời điểm nghiên cứu (năm 2013), Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chưa công bố số liệu thống kê chính thức riêng biệt về các khoản tài trợ dự án. Đồng thời, bản thân các ngân hàng thương mại cũng chưa có hệ thống phân loại và theo dõi tách bạch giữa tài trợ dự án và cho vay dự án truyền thống. Do không có chuỗi cơ sở dữ liệu đồng nhất, tác giả lựa chọn phương pháp định tính kết hợp phân tích điển cứu trường hợp và thống kê mô tả.

5. Luận án nghiên cứu những điển cứu thực tế tiêu biểu nào tại Việt Nam?

Luận án tập trung phân tích các thương vụ tiêu biểu trong giai đoạn 2002–2012 gồm: Dự án Nhà máy Nhiệt điện BOT Phú Mỹ 2.2 và Phú Mỹ 3 (với cơ cấu tài trợ có sự tham gia của các tổ chức tài chính quốc tế như ADB, IFC, JBIC); Dự án Cầu Phú Mỹ đầu tư theo hình thức BOT tại TP. Hồ Chí Minh với phân tích cụ thể về cấu trúc vốn đầu tư và lộ trình điều chỉnh giá vé thu phí hoàn vốn.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của Nguyễn Hoàng Vĩnh Lộc đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về phương thức tài trợ dự án và phân định sự khác biệt giữa phương thức này với các công cụ cấp tín dụng trung dài hạn truyền thống. Trên cơ sở khảo sát thực tiễn hoạt động ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2002–2012, luận án chỉ rõ tình trạng thiếu vắng khung pháp lý định danh cũng như các hạn chế trong năng lực thẩm định dòng tiền của các tổ chức tín dụng. Các giải pháp và kiến nghị được luận án đề xuất đã cung cấp luận cứ cho việc hoàn thiện thể chế tài chính, tháo gỡ điểm nghẽn huy động vốn tư nhân phát triển kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hỗ trợ triển khai mô hình đối tác công tư (PPP) tại Việt Nam.