Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Vận dụng phương pháp tình huống trong dạy học phần hóa hữu cơ lớp 11 trung học phổ thông" do sinh viên Huỳnh Kim Dung thực hiện dưới sự hướng dẫn của PGS. Trịnh Văn Biểu tại Khoa Hóa học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh (hoàn thành tháng 5 năm 2014).
Lý do chọn đề tài xuất phát từ chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo được khẳng định trong Báo cáo chính trị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, trong đó trọng tâm là đổi mới nội dung, phương pháp dạy học theo hướng lấy học sinh làm trung tâm, chuyển từ truyền thụ một chiều sang tổ chức hoạt động giúp học sinh chủ động, tích cực và sáng tạo lĩnh hội tri thức. Về mặt đặc thù bộ môn, Hóa học là môn khoa học tự nhiên kết hợp giữa thực nghiệm và lý thuyết, đòi hỏi học sinh phải có năng lực khám phá, tư duy thực nghiệm và giải quyết vấn đề. Đồng thời, phần hóa học hữu cơ lớp 11 được xác định là giai đoạn khởi đầu tiếp cận hệ thống kiến thức hữu cơ vốn mang tính trừu tượng, đa dạng và phức tạp, khiến học sinh thường gặp nhiều bỡ ngỡ, lúng túng trong quá trình tiếp thu nếu chỉ tiếp cận bằng phương pháp thuyết trình truyền thống. Việc đưa phương pháp dạy học bằng tình huống vào giảng dạy hóa học hữu cơ lớp 11 là hướng đi gắn lý thuyết với thực tiễn nhằm khắc phục các trở ngại này.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là nghiên cứu vận dụng phương pháp dạy học bằng tình huống trong dạy học phần hóa học hữu cơ lớp 11 trường trung học phổ thông (THPT) nhằm phát triển khả năng tư duy, năng lực giải quyết vấn đề của học sinh, qua đó nâng cao chất lượng dạy học bộ môn.
Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định cụ thể theo 5 nhiệm vụ:
- Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình dạy học hóa học ở trường phổ thông: lý luận về phương pháp dạy học hóa học, phương pháp dạy học bằng tình huống; điều tra thực tế việc sử dụng phương pháp tình huống của giáo viên dạy hóa học tại các trường THPT.
- Nghiên cứu mục tiêu, nội dung và cấu trúc chương trình sách giáo khoa phần hóa hữu cơ trong chương trình Hóa học 11.
- Thiết kế hoạt động dạy học cho một số bài học có sử dụng phương pháp tình huống thuộc phần hóa hữu cơ 11.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm chứng tính đúng đắn và hiệu quả của các nội dung đã nghiên cứu.
- Tổng kết đề tài và đưa ra các kiến nghị sư phạm.
Khách thể nghiên cứu là quá trình dạy học môn Hóa học ở trường THPT. Đối tượng nghiên cứu là việc sử dụng phương pháp dạy học bằng tình huống trong dạy học phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT. Phạm vi nghiên cứu về mặt nội dung giới hạn trong chương trình hóa học hữu cơ lớp 11 THPT (chương trình chuẩn); phạm vi không gian là các trường THPT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh (cụ thể gồm Trường THPT Lý Thường Kiệt - huyện Hóc Môn và Trường THPT Marie Curie - Quận 3); phạm vi thời gian nghiên cứu diễn ra từ tháng 8/2013 đến tháng 5/2014.
Giả thuyết khoa học của đề tài xác định: nếu sử dụng phương pháp dạy học bằng tình huống một cách khoa học, hợp lý trong các giờ học hóa học thì sẽ phát huy được tính tích cực của học sinh trong việc lĩnh hội kiến thức, rèn luyện phương pháp giải quyết vấn đề nhận thức, nâng cao năng lực diễn đạt ngôn ngữ và tư duy logic, từ đó nâng cao chất lượng dạy học môn Hóa học ở trường THPT.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Về cơ sở lý luận, khóa luận hệ thống hóa lý thuyết tình huống dạy học từ các tài liệu giáo dục học trong nước và quốc tế. Khái niệm tình huống dạy học được xác định dựa trên quan điểm của Phan Trọng Ngọ: tình huống dạy học là tình huống có sự "ủy thác" của giáo viên, trong đó giáo viên lồng ghép nội dung cần truyền thụ vào các sự kiện thực tế được cấu trúc theo logic sư phạm để người học khi tương tác, giải quyết vấn đề sẽ đạt được mục tiêu học tập. Tác giả phân định hai loại tình huống:
- Tình huống tiền sư phạm: tình huống học tập giáo viên giao cho học sinh tự hành động, tự điều chỉnh tri thức để đáp ứng yêu cầu mà không có sự can thiệp công khai của giáo viên.
- Tình huống sư phạm: tình huống tiền sư phạm khi nảy sinh khó khăn vượt quá khả năng tự giải quyết của học sinh, đòi hỏi có sự can thiệp, hỗ trợ sư phạm của giáo viên thông qua mối tương tác ba chiều: người dạy - người học - môi trường.
Về cấp độ, tình huống dạy học được chia thành hai mức độ nhận thức:
- Tình huống củng cố: chứa đựng khó khăn, giải quyết dựa trên sự đồng hóa tri thức sẵn có, dùng trong luyện tập và khắc sâu kiến thức.
- Tình huống phát triển: chứa đựng trở ngại đòi hỏi người học phải tái cấu trúc hệ thống quan điểm, tri thức cũ (mức điều ứng) nhằm hình thành tri thức, kỹ năng mới.
Phương pháp dạy học bằng tình huống được xây dựng theo quan điểm của GS.TSKH. Thái Duy Tuyên, ThS. Bùi Hồng Thái và TS. Trịnh Văn Biểu, thực hiện qua quy trình 4 bước: (1) Phân tích nội dung bài học và chọn lọc nội dung thích hợp; (2) Xây dựng tình huống gắn với bài học qua mẩu chuyện ngắn, hiện tượng đời sống, ca dao tục ngữ hoặc tranh ảnh, video clip; (3) Phân tích tình huống và tìm giải pháp tối ưu; (4) Soạn thảo giáo án bài giảng.
Hệ thống phương pháp nghiên cứu của khóa luận kết hợp 3 nhóm phương pháp:
- Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận: đọc, phân tích, tổng hợp, phân loại, hệ thống hóa và khái quát hóa các văn bản lý luận, sách giáo khoa, giáo trình và tài liệu nghiên cứu chuyên ngành liên quan đến phương pháp tình huống.
- Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn: trò chuyện, phỏng vấn, khảo sát bằng phiếu điều tra câu hỏi đối với giáo viên, sinh viên sư phạm và học sinh THPT; trao đổi kinh nghiệm chuyên môn; thực nghiệm sư phạm tại trường THPT.
- Nhóm phương pháp toán học: phân tích số liệu, lập bảng tần số, tần suất, tần suất tích lũy, tính các tham số đặc trưng thống kê và vẽ đồ thị, biểu đồ biểu diễn kết quả thực nghiệm.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm: dữ liệu khảo sát thực trạng từ 168 giáo viên, học sinh tại hai trường THPT (Lý Thường Kiệt, Marie Curie) và 78 sinh viên năm thứ 4 Khoa Hóa học Trường Đại học Sư phạm TP.HCM; dữ liệu định lượng thu thập từ 2 bài kiểm tra thực nghiệm sư phạm được xử lý bằng thống kê toán học.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 1 khái quát lịch sử nghiên cứu phương pháp tình huống tại nước ngoài (khởi đầu từ việc dạy luật của Christopher Langdell tại Đại học Harvard vào thế kỷ XIX, lan rộng sang Đại học Western Ontario trong quản trị kinh doanh năm 1919, đào tạo y khoa của William Osler tại Đại học Johns Hopkins) và tại Việt Nam (các hội thảo và nghiên cứu tại Đại học Luật TP.HCM, Đại học Kinh tế TP.HCM, Đại học Sư phạm TP.HCM). Tác giả phân tích điểm mạnh và điểm còn hạn chế của 6 công trình khoa học trong nước có liên quan trực tiếp: 1 đề tài Đại học Quốc gia Hà Nội (PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Hoa, 2010), 3 luận văn thạc sĩ (Nguyễn Thị Minh Tâm, 2011; Ngô Ngọc Minh Châu, 2012; Phan Thị Như Lê, 2012) và 2 khóa luận tốt nghiệp (Cao Thị Minh Huyền, 2010; Nguyễn Thảo Nguyên, 2010).
Nội dung trọng tâm tiếp theo làm rõ cấu trúc 3 phần của một tình huống dạy học (Phần mở đầu nêu bối cảnh; Phần nội dung mô tả dữ kiện; Phần các yêu cầu/vấn đề cần giải quyết), phân tích ưu điểm, khó khăn và bài học kinh nghiệm khi vận dụng.
Phần thực trạng trình bày kết quả khảo sát thực tế về việc dạy học hóa học hữu cơ lớp 11 và phương pháp tình huống. Số liệu khảo sát thực trạng được thể hiện qua các bảng sau:
| Đối tượng khảo sát |
Rất cần thiết / Vô cùng cần thiết |
Cần thiết |
Có hay không cũng được / Ít cần thiết |
Không cần thiết |
| Giáo viên và sinh viên năm 4 ($n = 79$) |
82,27% (29,11% vô cùng cần thiết, 53,16% rất cần thiết) |
13,92% |
3,81% (ít cần thiết) |
0,00% |
| Học sinh lớp 11 ($n = 166$) |
54,42% |
38,55% |
4,82% |
1,21% (hoàn toàn không cần: 0%) |
Bảng: Nhận thức về mức độ cần thiết sử dụng tình huống dạy học trong môn Hóa học
Khảo sát những khó khăn của giáo viên khi giảng dạy phần hóa hữu cơ lớp 11 cho thấy hai trở ngại lớn nhất: "Nhiều nội dung trừu tượng, khó hiểu, khó truyền đạt" chiếm 98,97% và "Kiến thức nhiều, thời gian ít" chiếm 96,16%. Khi triển khai phương pháp tình huống, giáo viên gặp khó khăn lớn nhất ở việc "Khó chọn lọc tình huống phù hợp với nội dung bài học" (94,94%) và "Không có thời gian đầu tư và sử dụng tình huống" (86,78%). Về phía học sinh, khó khăn lớn nhất là "HS không đủ thời gian để đầu tư cho việc nghiên cứu" (92,17%) và "Áp lực học tập từ những môn học khác" (87,95%).
Về tác dụng của tình huống, 95,18% học sinh khẳng định giúp vận dụng kiến thức vào thực tiễn; 70,48% nhận thấy tăng tính chủ động, tích cực; 57,83% cho rằng giúp liên kết kiến thức cũ và mới; 50,60% đánh giá rèn luyện kỹ năng giải quyết vấn đề. Nguồn tài liệu được giáo viên khai thác tình huống chủ yếu là bài tập thực tiễn trong sách giáo khoa và sách bài tập, trong khi nguồn đề thi học sinh giỏi các cấp ít được khai thác.
Chương 2: Vận dụng phương pháp tình huống trong dạy học phần hóa hữu cơ lớp 11 THPT
Chương 2 tập trung phân tích chương trình hóa hữu cơ lớp 11 ban cơ bản gồm 6 chương:
- Chương 4: Đại cương về hóa học hữu cơ (Mở đầu về hóa học hữu cơ, Công thức phân tử hợp chất hữu cơ, Cấu trúc phân tử hợp chất hữu cơ, Phản ứng hữu cơ, Luyện tập, Bài thực hành 3).
- Chương 5: Hiđrocacbon no (Ankan, Xicloankan, Luyện tập, Bài thực hành 4).
- Chương 6: Hiđrocacbon không no (Anken, Ankađien, Ankin, Luyện tập, Bài thực hành 5).
- Chương 7: Hiđrocacbon thơm - Nguồn hiđrocacbon thiên nhiên - Hệ thống hóa về hiđrocacbon (Benzen và đồng đẳng, Một số hiđrocacbon thơm khác, Nguồn hiđrocacbon thiên nhiên, Hệ thống hóa về hiđrocacbon, Luyện tập).
- Chương 8: Dẫn xuất halogen - Ancol - Phenol (Dẫn xuất halogen của hiđrocacbon, Ancol, Phenol, Luyện tập).
- Chương 9: Anđehit - Xeton - Axit cacboxylic (Anđehit - Xeton, Axit cacboxylic, Luyện tập, Bài thực hành 6).
Tác giả đề xuất 4 nguyên tắc lựa chọn phương pháp tình huống, 7 nguyên tắc thiết kế tình huống (đảm bảo tính chính xác khoa học; tính thực tiễn; tính trọng tâm; tính logic và ngắn gọn; tính giáo dục; tính sư phạm; kích thích hứng thú và sáng tạo), và 6 nguyên tắc khi sử dụng tình huống trên lớp (chỉ dùng cho kiến thức trọng tâm; số lượng vừa phải từ 2-3 tình huống/tiết học; giáo viên nắm chắc mâu thuẫn và cách xử lý; hiểu rõ tâm lý học sinh; đảm bảo tính hợp tác giữa thầy và trò; phối hợp linh hoạt phương tiện trực quan).
Tác giả thiết kế hệ thống 30 tình huống dạy học cụ thể cho phần hóa hữu cơ lớp 11. Các tình huống tiêu biểu được xây dựng hoàn chỉnh kèm ngữ cảnh, hệ thống câu hỏi dẫn dắt và hướng dẫn giải quyết:
- Tình huống 1 ("Chất liệu bền nhất thế giới!"): Giới thiệu vật liệu carbyne và graphen, so sánh độ bền với kim cương và thép (graphen cứng gấp 200 lần thép; carbyne cấu tạo chuỗi carbon liên kết xen kẽ đơn - ba). Dùng cho bài "Mở đầu về hóa học hữu cơ".
- Tình huống 2 ("Sự biến hóa của lõi dây điện"): Đốt dây đồng có dính vỏ nhựa PVC trên ngọn lửa đèn cồn tạo ngọn lửa màu xanh lá mạ do hình thành ion $\text{Cu}^{2+}$ từ phản ứng tạo $\text{HCl}$ và $\text{CuCl}_2$. Dùng cho bài "Mở đầu về hóa học hữu cơ".
- Tình huống 3 ("Dung dịch phát sáng trong bóng tối"): Thí nghiệm oxy hóa dung dịch luminol bằng $\text{H}_2\text{O}_2$ trong môi trường kiềm (xúc tác kali sắt xianua) tạo phân tử kích thích giải phóng photon ánh sáng trong vùng khả kiến. Dùng cho bài "Phản ứng hữu cơ".
- Các tình huống ứng dụng khác: "Chất kháng sinh đầu tiên trên thế giới" (bài Công thức phân tử); "Thắp sáng đèn không cần điện" (bài Ankin / Đèn xì oxi - axetilen); "Em biết gì về xăng sinh học E5?", "Quy định cấm sử dụng điện thoại tại cây xăng", "Bình xăng nào nguy hiểm hơn?" (chương Nguồn hiđrocacbon thiên nhiên); "Benzen và toluen. Chất nào độc hơn?" (bài Benzen và ankylbenzen); "Khám phá viên sủi Canxinol", "Xác định hàm lượng axit axetic trong giấm", "Sự lên men rượu và sự lên men giấm" (chương Axit cacboxylic).
Từ hệ thống tình huống, tác giả biên soạn 5 kế hoạch bài dạy (giáo án) thực nghiệm chi tiết: bài "Anken", bài "Nguồn hiđrocacbon thiên nhiên", bài "Ancol", bài "Phenol" và bài "Axit cacboxylic", đồng thời đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả tổ chức tình huống trên lớp.
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Chương 3 trình bày việc tổ chức thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi và hiệu quả của các tình huống và kế hoạch bài dạy đã thiết kế.
- Nhiệm vụ thực nghiệm: tiến hành dạy thực nghiệm ở các cặp lớp tương đương tại hai trường THPT (THPT Lý Thường Kiệt và THPT Marie Curie); kiểm tra đánh giá chất lượng học tập của lớp thực nghiệm (TN) và lớp đối chứng (ĐC) thông qua các bài kiểm tra chuyên môn (Bài kiểm tra số 1 và Bài kiểm tra số 2).
- Phương pháp xử lý kết quả: sử dụng phương pháp thống kê toán học để lập bảng điểm số thô, bảng tổng hợp kết quả học tập, bảng phân phối tần số ($n_i$), tần suất ($f_i$), tần suất tích lũy ($f_{cum}$), xác định các tham số đặc trưng (điểm trung bình cộng $\bar{X}$, phương sai $S^2$, độ lệch chuẩn $S$, hệ số biến thiên $V$), vẽ đồ thị đường tích lũy và biểu đồ so sánh giữa nhóm đối chứng và thực nghiệm. Đánh giá chất lượng thực nghiệm được kết hợp giữa kết quả định lượng (điểm số, mức độ làm chủ kiến thức trọng tâm) và kết quả định tính (quan sát thái độ, hứng thú, khả năng tương tác nhóm và kỹ năng giải quyết tình huống của học sinh).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể dựa trên dữ liệu nghiên cứu:
- Về mặt lý luận: Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phương pháp tình huống dạy học, phân định rõ ranh giới giữa tình huống thông thường, tình huống tiền sư phạm và tình huống sư phạm; xây dựng bộ khung 7 nguyên tắc thiết kế và 6 nguyên tắc sử dụng tình huống phù hợp với đặc thù môn Hóa học tại trường THPT.
- Về mặt điều tra thực tiễn: Khảo sát định lượng trên mẫu 168 giáo viên, học sinh và 78 sinh viên sư phạm, chỉ ra 98,97% giáo viên gặp trở ngại do tính trừu tượng của kiến thức hữu cơ và 96,16% gặp khó khăn về áp lực thời lượng; 94,94% gặp khó trong khâu chọn lọc tình huống phù hợp chuẩn kiến thức bài học.
- Về mặt sản phẩm dạy học: Thiết kế hệ thống 30 tình huống dạy học trải rộng qua toàn bộ 6 chương phần hóa học hữu cơ lớp 11 THPT, gắn liền với các hiện tượng thực tiễn đời sống, sản xuất, công nghệ vật liệu mới (carbyne, graphen, xăng E5, vật liệu PVC, phản ứng hóa phát quang của luminol). Biên soạn 5 giáo án thực nghiệm sư phạm hoàn chỉnh tích hợp các tình huống dạy học.
- Đóng góp so với các công trình đi trước: So với các nghiên cứu trước đó (như Nguyễn Thị Minh Tâm mới dừng ở các tình huống mô tả đơn giản, thiếu tính kích thích; Ngô Ngọc Minh Châu và Phan Thị Như Lê chủ yếu tập trung vào các dạng mẩu chuyện hoặc lớp 10), khóa luận này đã mở rộng nguồn dữ liệu tình huống sang các vấn đề thời sự khoa học công nghệ, phân hóa rõ câu hỏi dẫn dắt theo cấu trúc 3 phần logic và xây dựng phương án xử lý sư phạm gắn liền với thời lượng 45 phút của tiết học chuẩn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận ghi nhận các hạn chế xuất phát từ phạm vi nghiên cứu và điều kiện thực tế:
- Hạn chế về thời lượng và chương trình: Tiết học trên lớp bị giới hạn trong 45 phút, giáo viên phải thực hiện đầy đủ các khâu kiểm tra bài cũ, truyền thụ kiến thức mới và củng cố. Việc tổ chức xử lý tình huống thực tế dễ gây quá tải thời gian nếu giáo viên điều phối thảo luận chưa thuần thục.
- Hạn chế về cấu trúc sách giáo khoa: Trọng tâm bài học trong sách giáo khoa phần lớn là tính chất hóa học và lý thuyết cấu tạo, trong khi các tình huống thực tiễn thường tập trung vào ứng dụng và hiện tượng thực tế, đòi hỏi giáo viên phải xử lý khéo léo để không làm lệch trọng tâm kiến thức.
- Phạm vi khảo sát và thực nghiệm: Mới được triển khai ở hai trường THPT tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh (THPT Lý Thường Kiệt và THPT Marie Curie) và chỉ tập trung vào chương trình Hóa học 11 ban cơ bản.
Hướng nghiên cứu tiếp của đề tài:
- Mở rộng việc thiết kế và thử nghiệm hệ thống tình huống cho chương trình Hóa học lớp 11 ban nâng cao và toàn bộ chương trình Hóa học lớp 12 (phần hóa hữu cơ nâng cao như este, lipit, cacbohiđrat, amin, amino axit, polime).
- Đa dạng hóa hơn nữa phương tiện dẫn nhập tình huống thông qua video clip thí nghiệm thực tế, thí nghiệm hóa học vui và phần mềm mô phỏng cấu tạo phân tử hữu cơ.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho các đối tượng:
- Giáo viên bộ môn Hóa học tại các trường THPT: Tài liệu cung cấp trực tiếp 30 tình huống học tập có sẵn ngữ cảnh, câu hỏi định hướng và đáp án giải thích hóa học chính xác, có thể trích xuất sử dụng ngay trong các khâu mở bài, giảng bài mới hoặc củng cố kiến thức các bài học hữu cơ lớp 11.
- Sinh viên sư phạm ngành Hóa học: Tài liệu hỗ trợ phương pháp soạn giáo án thực nghiệm, rèn luyện kỹ năng sư phạm trong việc thiết kế hoạt động học tập lấy học sinh làm trung tâm, vận dụng quy trình 4 bước dạy học tình huống.
- Học viên cao học và nhà nghiên cứu lý luận dạy học bộ môn Hóa học: Cung cấp nguồn số liệu khảo sát thực trạng chi tiết, hệ thống hóa các nguyên tắc xây dựng và sử dụng tình huống sư phạm, cùng phương pháp thiết kế công cụ đo lường thống kê toán học trong thực nghiệm sư phạm.
Câu hỏi thường gặp
1. Khái niệm "tình huống dạy học" trong khóa luận khác "tình huống thông thường" ở điểm cốt lõi nào?
Điểm cốt lõi là tình huống dạy học phải có sự "ủy thác" của giáo viên. Giáo viên chủ động đưa nội dung kiến thức khoa học cần truyền thụ vào các sự kiện của tình huống và cấu trúc các sự kiện đó theo logic sư phạm, tạo ra môi trường học tập có chủ đích để khi học sinh giải quyết tình huống sẽ chiếm lĩnh được mục tiêu bài học, trong khi tình huống thông thường chỉ là các sự kiện đời sống diễn ra tự phát.
2. Khó khăn lớn nhất của giáo viên và học sinh khi tiếp cận phương pháp tình huống là gì?
Theo số liệu khảo sát của tác giả:
- Đối với giáo viên: Khó khăn lớn nhất là việc chọn lọc tình huống phù hợp với nội dung bài học (94,94%) và thiếu thời gian đầu tư, chuẩn bị phương án giải quyết (86,78%).
- Đối với học sinh: Khó khăn lớn nhất là không đủ thời gian để tự đầu tư nghiên cứu tình huống (92,17%) do phải chịu áp lực học tập từ nhiều môn học khác (87,95%).
3. Tác giả đề xuất quy trình thực hiện phương pháp dạy học bằng tình huống gồm mấy bước?
Quy trình gồm 4 bước:
- Bước 1: Phân tích nội dung bài học, lựa chọn những nội dung có thể dạy học bằng tình huống.
- Bước 2: Xây dựng tình huống gắn với nội dung bài học (qua mẩu chuyện ngắn, tình huống đời sống, ca dao tục ngữ, tranh ảnh, phim minh họa).
- Bước 3: Phân tích tình huống, tìm các giải pháp và xác định giải pháp tối ưu.
- Bước 4: Soạn giáo án bài giảng tích hợp tình huống.
4. Dữ liệu thực nghiệm của khóa luận được thu thập ở đâu và xử lý bằng phương pháp nào?
Dữ liệu khảo sát và thực nghiệm được thu thập tại Trường THPT Lý Thường Kiệt (huyện Hóc Môn) và Trường THPT Marie Curie (Thành phố Hồ Chí Minh), cùng sinh viên năm 4 Khoa Hóa học Đại học Sư phạm TP.HCM. Dữ liệu thực nghiệm được xử lý bằng các phương pháp thống kê toán học thông qua các chỉ số: điểm trung bình ($\bar{X}$), phương sai ($S^2$), độ lệch chuẩn ($S$), hệ số biến thiên ($V$), bảng phân phối tần số, tần suất, tần suất tích lũy và vẽ đồ thị đường tích lũy so sánh giữa lớp thực nghiệm và đối chứng.
5. Cấu trúc chuẩn của một tình huống dạy học theo khóa luận gồm những phần nào?
Một tình huống dạy học hoàn chỉnh gồm 3 phần:
- Phần mở đầu: Nêu vắn tắt bối cảnh xuất hiện của các sự kiện trong tình huống.
- Phần nội dung: Mô tả chi tiết diễn biến sự kiện, cung cấp các dữ kiện khoa học và thực tiễn.
- Phần các vấn đề, yêu cầu: Đưa ra các câu hỏi, nhiệm vụ học tập mang tính mâu thuẫn nhận thức mà học sinh cần phân tích và giải quyết.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Huỳnh Kim Dung đã giải quyết đồng bộ từ cơ sở lý luận, khảo sát thực tiễn đến việc thiết kế và ứng dụng phương pháp dạy học bằng tình huống trong phân môn hóa học hữu cơ lớp 11 THPT. Nghiên cứu đóng góp hệ thống 30 tình huống dạy học bám sát nội dung chương trình và 5 kế hoạch bài dạy thực nghiệm được kiểm chứng qua các công cụ đo lường thống kê toán học tại các trường phổ thông trên địa bàn TP.HCM. Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo cụ thể, có giá trị ứng dụng trực tiếp cho công tác đổi mới phương pháp giảng dạy hóa học tại trường trung học phổ thông.