CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ DỰA TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG (ABC) 1. SỰ HÌNH THÀNH VÀ VAI TRÒ CỦA PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ DỰA TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG 1. Sự hình thành phương pháp ABC Trong những năm thập niên 1980, nhiều nhà quản trị cũng như kế toán đã không hài lòng với hệ thống tính giá thành truyền thống. Bên cạnh những ưu điểm, các hệ thống tính giá thành đã bộc lộ một số hạn chế dẫn đến những bất lợi trong việc ra quyết định.
Có thể bàn đến hai hạn chế lớn nhất là cách lựa chọn đối tượng tập hợp chi phí và kỹ thuật phân bổ chi phí. Trong phương pháp tính giá thành truyền thống, đối tượng tập hợp chi phí chủ yếu là theo đơn đặt hàng (hệ thống tính giá theo công việc) hoặc theo phân xưởng, giai đoạn sản xuất (hệ thống tính giá theo quá trình sản xuất). Với đối tượng đó, hệ thống tính giá thành chỉ mới nhằm mục đích tính giá thành sản phẩm, không chỉ ra mối quan hệ qua lại giữa các hoạt động ở các bộ phận chức năng khác nhau. Những vấn đề như: chi phí gia tăng ở khâu nào, do nguyên nhân nào trong quá trình sản xuất luôn được các nhà quản trị đặt ra trong quá trình hoàn thiện và thiết kế lại quá trình sản xuất nhằm cắt giảm chi phí.
Thực tế cho thấy, chi phí phát sinh ở nhiều hoạt động khác nhau trong quá trình sản xuất, nhưng nếu chỉ tập hợp chi phí ở góc độ chung thì không thể kiểm soát chi phí ở doanh nghiệp. Nói cách khác, mục tiêu kiểm soát và hoạch định ở doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranh gia tăng chưa được đáp ứng. Các phương pháp tính giá thành truyền thống thường lựa chọn một hay một vài tiêu thức để phân bổ chi phí sản xuất chung. Do vậy, giá thành sản phẩm không phản ánh đúng giá phí của nó, nhất là khi mức độ tự động hóa Luan van 10 trong các doanh nghiệp có xu hướng ngày càng gia tăng.
Kết quả là việc ra quyết định giá bán cạnh tranh bị ảnh hường đối với những sản phẩm được tính giá thành quá cao hoặc quá thấp. Để khắc phục những hạn chế đó, người ta bắt đầu nghiên cứu và ứng dụng một phương pháp tính giá thành sản phẩm mới gọi là phương pháp tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động (phương pháp ABC). Theo Horngren (2000), thì phương pháp ABC là sự cải tiến của phương pháp tính giá truyền thống bằng việc tập trung vào các hoạt động cụ thể như là các đối tượng chi phí cơ bản. Một hoạt động có thể là một sự kiện, một hành động hay là một công việc với mục đích riêng như thiết kế sản phẩm, lắp đặt máy móc hay phân bổ sản phẩm.
Hệ thống ABC tập hợp chi phí cho từng hoạt động và phân bổ chi phí cho từng sản phẩm hoặc dịch vụ dựa trên hoạt động được tiêu dùng bởi sản phẩm hoặc dịch vụ đó. [7] Theo Gering (1999), thì phương pháp ABC là cách thức làm mới của kế toán; nó là công cụ để đưa ra các quyết định chiến lược và một phương pháp tập trung vào hoạt động không có hiệu quả. Nó đơn giản dựa vào các quá trình điều khiển chi phí và tính toán các chi phí liên quan với nó [8] Hệ thống tính giá ABC lần đầu tiên được định nghĩa rõ ràng vào năm 1987 bởi Robert.Bruns trong một chương của quyển “Accounting and Management: A Field Study Perspective”. Họ tập trung vào ngành công nghiệp sản xuất đầu tiên, nơi mà tiến bộ công nghệ và sự gia tăng năng suất làm giảm tỉ lệ của chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp, tăng tỉ lệ của các chi phí gián tiếp.
Hệ thống tính chi phí ABC sau này được giải thích rõ hơn vào năm 1999 bởi Peter. Số liệu của phương pháp ABC giúp các nhà quản trị nhìn rõ hơn mối quan hệ giữa thời gian, chất lượng, công suất nhà xưởng, sự linh hoạt và chi phí của doanh nghiệp. Điểm nổi bậc của phương pháp ABC là nhấn mạnh các hoạt động như là Luan van 11 những đối tượng tập hợp chi phí chủ yếu. Chi phí phát sinh theo hoạt động này sau đó sẽ được phân bổ cho những đối tượng tính giá thành theo số lượng hoạt động (nguồn sinh phí) mà các đối tượng này đã sử dụng.
Cần chú ý là hệ thống tính giá thành dựa trên cơ sở hoạt động có thể là một phần của hệ thống tính giá thành theo công việc hoặc tính giá thành theo quá trình sản xuất. Hệ thống tính giá này không thay thế phương pháp tính giá thành truyền thống, mà nhằm bổ sung khả năng xử lý và cung cấp các thông tin trong việc ra quyết định ngắn hạn và dài hạn ở doanh nghiệp. Tóm lại ABC là một hệ thống đo lường chi phí, tập hợp và phân bổ chi phí của các nguồn lực vào các hoạt động dựa trên mức độ sử dụng các nguồn lực, sau đó chi phí của các hoạt động được phân bổ đến các đối tượng tính giá dựa trên mức độ sử dụng của chúng. Vai trò của phương pháp ABC Phương pháp ABC không chỉ cung cấp thông tin chính xác về giá thành, ABC còn cung cấp thông tin chi tiết về cơ cấu chi phí của từng sản phẩm, giúp cho nhà quản lý có thể linh hoạt hơn trong việc lập kế hoạch ngân sách cũng như điều chỉnh các chính sách, chiến lược sản phẩm của doanh nghiệp trong điều kiện thị trường luôn biến động.
Với phương pháp ABC, chi phí phục vụ một khách hàng có thể xác định một cách chắc chắn. Sau khi trừ ra chi phí sản phẩm và chi phí phục vụ từng khách hàng, sẽ tính được lợi nhuận khách hàng mang lại. Phương pháp ABC tính toán chi phí khách hàng và chi phí sản phẩm riêng biệt, giúp xác định chính xác lợi nhuận mỗi khách hàng mang lại và giúp định vị sản phẩm và dịch vụ tương ứng. Việc áp dụng phương pháp ABC còn góp phần hỗ trợ hoạt động marketing trong việc xác định cơ cấu sản phẩm cũng như chính sách giá.
Đặc biệt trong trường hợp doanh nghiệp có nhiều mặt hàng thì việc đàm phán với Luan van 12 khách hàng hay xử lý đơn hàng một cách nhanh chóng đòi hỏi phải có thông tin chi tiết về giá thành cũng như cơ cấu chi phí của từng sản phẩm, qua đó có thể xác định các mức giá tối ưu cho các đơn hàng khác nhau với cơ cấu sản phẩm khác nhau. Nắm được các thông tin chi tiết và chính xác về chi phí cho các sản phẩm còn giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc cải tiến (customization) sản phẩm của mình nhằm tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường bằng cách đưa thêm vào sản phẩm những giá trị gia tăng trong điều kiện chi phí còn cho phép. Đồng thời, doanh nghiệp cũng có thể chủ động xây dựng chiến lược marketing để định hướng nhu cầu khách hàng vào các mặt hàng có lợi nhuận cao, thay thế cho các mặt hàng mà doanh nghiệp không có lợi thế. Phương pháp ABC giúp công ty tạo ra những sản phẩm tốt hơn, đáp ứng nhu cầu của thị trường với chi phí cạnh tranh.
Phân tích lợi nhuận sản phẩm và lợi nhuận do khách hàng mang lại, phương pháp này đã góp phần tích cực vào quá trình ra quyết định của cấp quản lý; công ty có thể nâng cao hiệu suất hoạt động và giảm chi phí mà không hy sinh giá trị mang lại cho khách hàng. Mặt khác, có thể giúp công ty mô hình hóa tác động của việc cắt giảm chi phí và kiểm soát chi phí tiết kiệm được. Có thể thấy, ABC là một phương pháp năng động thúc đẩy sự cải tiến diễn ra liên tục. Với phương pháp ABC, bất kì công ty nào cũng có thể tạo ra lợi thế cạnh tranh về chi phí và liên tục tạo thêm giá trị cho cổ đông và khách hàng [9] 1.
NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP TÍNH GIÁ DỰA TRÊN CƠ SỞ HOẠT ĐỘNG Trong phương pháp ABC, chi phí nguyên vật liệu trực tiếp và chi phí nhân công trực tiếp được tập hợp và hạch toán tương tự như phương pháp tính giá truyền thống, quy trình tính giá thành theo phương pháp ABC chỉ nhằm Luan van 13 mục đích tập hợp và phân bổ chi phí sản xuất chung. Việc phân bổ sẽ được dựa vào những tiêu thức phân bổ linh hoạt, tiến bộ hơn rất nhiều so với phương pháp tính giá truyền thống. Nội dung theo phương pháp ABC bao gồm các bước sau: 1. Phân tích hoạt động và xác định các nguồn lực sử dụng: Yêu cầu cốt lõi của phương pháp ABC là nhận diện các hoạt động, theo đó kế toán quản trị tiến hành phân tích các hoạt động để xác định các nguồn lực sử dụng cho từng hoạt động.
Phần lớn các nguồn lực bị tiêu hao được ghi nhận dưới dạng chi phí ở các tài khoản chi phí trong công tác hạch toán. Để thực hiện việc nhận dạng và phân loại những hoạt động của doanh nghiệp cần tiến hành tập hợp các báo cáo, chứng từ và sử dụng các bảng câu hỏi, quan sát, phỏng vấn các nhà quản lý cũng như các nhà kỹ thuật, công nhân viên trong các dây chuyền công nghệ. Sau khi đã phân tích và xác định được các hoạt động và các nguồn lực sử dụng ta thực hiện bước tiếp theo, đó là phân bổ chi phí nguồn lực cho các hoạt động. Phân bổ chi phí nguồn lực cho các hoạt động Đây là bước quan trọng, trực tiếp tác động đến giá thành sản phẩm sản xuất của doanh nghiệp.
Vì nếu tiêu thức phân bổ không phù hợp dẫn đến chi phí gián tiếp phân bổ cho các sản phẩm sẽ bị sai lệch. Nhận thấy, quá trình thực hiện các hoạt động làm tiêu hao các nguồn lực, do đó, các yếu tố quyết định tiêu hao nguồn lực sẽ là căn cứ để phân bổ chi phí nguồn lực cho các hoạt động. Một điều kiện quan trọng để lựa chọn một tiêu thức phân bổ phù hợp là mối quan hệ nhân quả. Chi phí nguồn lực có thể được phân bổ trực tiếp hoặc ước lượng.
Phân bổ trực tiếp đòi hỏi việc đo lường mức độ sử dụng thực tế các nguồn lực của các hoạt động. Thông thường để mô tả mối quan hệ giữa chi phí và hoạt động người ta Luan van 14 thiết lập ma trận Chi phí – Hoạt động (EAD). Trong bước này, các hoạt động liên quan đến từng loại chi phí được xác định để thiết lập ma trận EAD. Nhóm chi phí biểu diễn theo cột, trong khi các hoạt động xác định được biểu diễn theo hàng.