Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan đến đề tài 1. Trên thế giới Theo Scorat, phương pháp vấn đáp đi từ những gì trẻ biết để giúp trẻ vận dụng trực giác, tinh thần của mình để khám phá ra sự thật quá hiển nhiên. Như vậy, theo ông dựa vào sự quan sát thế giới bên ngoài giúp trẻ khám phá ra bản chất của những sự vật, hiện tượng được quan sát thế giới bên ngoài mà đi vào những ý niệm bên trong. Jerome Bruner (1915) là người có ảnh hưởng rất lớn trong việc nghiên cứu học tập khám phá.
Theo ông, học tập khám phá là lối tiếp cận dạy học mà qua đó học sinh được tương tác với môi trường học tập của họ bằng cách khảo sát và sử dụng các đối tượng, giải đáp thắc mắc và tranh luận hoặc biểu diễn thí nghiệm và tất nhiên khi tự mình khám phá ra tri thức, các khái niệm học sinh sẽ hiểu rõ vấn đề và từ đó học sinh cũng nhớ được lâu và nhiều hơn. Vào những năm 20 của thế kỉ trước, ở Anh đã hình thành những "nhà trường mới" trong đó đề ra là phát triển năng lực trí tuệ cho học sinh. Khuyến khích các biện pháp tổ chức hoạt động do chính học sinh tự lực khám phá kiến thức, chính học sinh tự quản trong học tập. Xu hướng này nhanh chóng ảnh hưởng sang Mỹ và các nước Châu Âu.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, ở Pháp cũng ra đời những "Lớp học mới" tại một số trường trung học thí điểm, mọi hoạt động đều tùy thuộc vào sáng kiến hứng thú, lợi ích, nhu cầu của học sinh, GV là người giúp đỡ, phối hợp các hoạt động của học sinh, hướng học sinh vào sự phát triển nhân cách. Cuối thế kỷ XIX nửa đầu thế kỷ XX, John Dewey đã đề ra những nguyên tắc giáo dục cho việc xây dựng "Nhà trường cho ngày mai". Trong đó có nguyên tắc: Giáo dục không phải là thu nhận, học bằng cách làm. Theo 8 Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www.vn/ ông, cách làm ở đây phải là sáng kiến, khám phá, phát hiện.
Giáo dục tất nhiên không phải là tổ chức những kinh nghiệm của trẻ mà là tổ chức chúng lại thành những kiến thức khác nhau. Vào nửa đầu thế kỷ XX, nhà giáo dục người Pháp Cousinet Roger đã đề ra phương pháp làm việc tự do theo nhóm trong quá trình học dựa trên quan điểm dạy học hoạt động. Trong quá trình làm việc học sinh phải tìm tòi, khám phá, phải thực hiện những cuộc khảo cứu hay quan sát, phải cố gắng phân tích, tìm hiểu, diễn đạt những gì mà mình thu nhận đượC. Theo ông, cần phải bằng cách nào đó đòi hỏi ở trẻ sự cố gắng sáng tạo cá nhân để tự mình khám phá trong các tình huống khác nhau, nhằm khơi dậy ở trẻ tinh thần nghiên cứu.
Năm 1970, ở Mỹ đã xuất hiện ý tưởng dạy học cá thể hóa và đã được đưa vào thử nghiệm gần 200 trường. Trong đó, giáo viên xác định mục tiêu, cung cấp các phiếu hướng dẫn để học sinh tiến hành hoạt động tự lực, tự khám phá ra kiến thức mới theo nhịp độ phù hợp với năng lực. Như vậy, thuật ngữ khám phá trong dạy học và quan niệm về DHKP trên thế giới được xuất hiện từ rất lâu và theo thời gian chúng cũng được hiểu và thể hiện trong hoạt động học tập theo những cách khác nhau. Tuy nhiên, chúng đều hướng tới yếu tố tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh nhằm giúp học sinh chủ động lĩnh hội kiến thức, phát triển các năng lực về tư duy và các kĩ năng khác.
Trong nước Ở Việt Nam vào những năm 1960, nhiền nghiên cứu về các biện pháp tổ chức HS hoạt động tự lực, chủ động, sáng tạo, khám phá ra kiến thức mới đã được đặt ra và các nghiên cứu mới dừng ở mức lý thuyết. Từ năm 1970 trở đi, các nghiên cứu về các biện pháp tổ chức HS hoạt động tự lực khám phá ra kiến thức mới được quan tâm nghiên cứu đồng bộ cả 9 Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www.vn/ về lý thuyết và thực hành, trong đó nổi bật là các công trình nghiên cứu: "Cải tiến phương pháp dạy và học nhằm phát huy trí thông minh của học sinh" của tác giả Nguyễn Sỹ Tỳ (1971); "Kiểm tra kiến thức bằng phiếu kiểm tra" của tác giả Lê Nhân (1974). Tháng 01/1979 trong Nghị quyết của Bộ Chính trị về cải cách giáo dục, vấn đề phát huy tính tích cực, tự lực khám phá kiến thức của học sinh được quan tâm và chú trọng, tạo một bước ngoặt mới cho sự phát triển giáo dụC. Nghị quyết chỉ rõ: "Cần coi trọng sự bồi dưỡng hứng thú, thói quen và phương pháp tự học của học sinh.
Hướng họ biết cách nghiên cứu SGK, sách báo khoa học. Điểm mấu chốt để phát huy tính tích cực của học sinh và nâng cao chất lượng dạy học đó là giáo viên phải có phương pháp tổ chức các hoạt động học tập cho học sinh để họ có thể tự lực khám phá kiến thức dưới sự hướng dẫn của giáo viên. Đáp ứng những yêu cầu đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu, nhiều tài liệu về phương pháp học tập tích cực nói chung và các biện pháp tổ chức học sinh hoạt động khám phá nói riêng đã được công bố. Chẳng hạn như: "Bổ sung các hoạt động khám phá trong dạy học sinh học lớp 10 THPT Ban KHTN (Bộ II)" (Võ Thị Hải, 2005); "Dạy học hình học các lớp cuối cấp THCS theo hướng bước đầu tiếp cận phương pháp khám phá" (Lê Võ Bình, 2006); "Vận dụng phương pháp dạy học khám phá trong phần địa lý lớp 4 ở cấp tiểu học" (Lê Thị Hoa, 2007); "Vận dụng phương pháp dạy học khám phá có hướng dẫn trong dạy học môn Toán lớp 4" (Phạm Thị Hiếu, 2008);v.
Các công trình nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau về phát huy tính tích cực nhận thức, học tập của học sinh, song chưa có công trình nào nghiên cứu có hệ thống về cơ sở lý luận của phương pháp dạy học khám phá và quy trình về phương pháp dạy học khám phá nói chung và dạy học khám phá trong dạy học "Các quy luật di truyền" SGK SH 9 – THCS nói riêng. 10 Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www. Các quan niệm về dạy học khám phá Rút xô J. J, nhà tư tưởng, nhà giáo dục Pháp, kế tục triết học giáo dục của Comenski Ia.
là giáo dục thích ứng với thiên nhiên và phát triển tư tưởng đó bằng quan điểm "Tôn trọng thiên nhiên bao hàm sự tự do". Trên cơ sở quan điểm triết học giáo dục ông đã đề ra trong giáo dục phải dựa vào tính tò mò tự nhiên, lòng khát khao hiểu biết của trẻ mà không phải dạy cho trẻ chân lí mà chỉ dạy cho trẻ cách làm sao để lúc nào cũng có thể khám phá chân lí. Điều đó đã khẳng định rằng quan điểm quan trọng của dạy học không phải là nhồi nhét kiến thức cho nhiều, mà là sự cố gắng của cá nhân nắm vững phương pháp khai thác tri thức. Theo Distecvec nhà giáo dục người Đức thì người thầy tồi là người truyền thụ chân lí cho người học, người thầy giỏi là người làm người học khám phá ra chân lí.
Quan điểm của Jerome Bruner thì phương pháp "Bánh đúc bày sẵn" sẽ làm cho học sinh mất đi cơ hội tự mình suy nghĩ. Theo ông, chương trình hiện đại cần loại bỏ toàn bộ trừ những sự kiện cốt lõi và nên dành thời gian cho việc kĩ năng tư duy. Theo ông thì trí thông minh là sự hoạt động của các công cụ tư duy. Ông cho rằng học tập khám phá là lối tiếp cận dạy học mà qua đó học sinh tương tác với môi trường của họ bằng cách khảo sát, sử dụng các đối tượng, giải đáp thắc mắc bằng tranh luận hay biểu diễn thí nghiệm.
Theo Jerome Bruner thì ngay từ khi mới đến trường người học đã cần phải biết cấu trúc cơ bản của kiến thức hơn là biết các số liệu, dữ kiện về các thông tin bình thường tẻ nhạt, những cái cần phải ghi nhớ quá nhiều. Học sinh cần được khuyến khích và được dạy cách tự do khám phá thông tin. Việc học tập khám phá đòi hỏi cá nhân tham gia phải sử dụng quá trình tư duy để phát hiện ra 11 Soá hoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu –ĐHTN http://www.vn/ điều gì đó đáp ứng cho chính nhu cầu của họ. Muốn vậy, người học phải kết hợp các kĩ năng như quan sát, so sánh, rút ra kết luận, làm rõ nghĩa số liệu để tạo ra một sự hiểu biết mới mà học sinh chưa từng biết trước đó.
Trong quá trình đó người dạy chuyển tải các thông tin cần học theo một phương pháp phù hợp với khả năng hiểu biết hiện tại của học sinh. Socrat cho rằng phương pháp vấn đáp đi từ những gì trẻ biết để giúp trẻ vận dụng trực giác, khả năng và tinh thần của mình để khám phá ra sự thật quá hiển nhiên. Ở đây chúng ta nhận thấy manh nha của khoa học sư phạm hoạt động, một khoa học dựa vào sự quan sát thế giới bên ngoài để giúp trẻ khám phá ra cái bản chất của những hiện tượng, sự vật được quan sát. Nói cách như Socrat quan niệm là dựa vào sự quan sát thế giới bên ngoài đó để giúp trẻ đi vào thế giới những ý niệm.C Sharma lại cho rằng trong phương pháp dạy học lấy học sinh làm trung tâm, toàn bộ quá trình dạy học đều hướng vào nhu cầu, khả năng lợi ích của học sinh.
Mục đích là phát triển ở học sinh kỹ năng và năng lực độc lập học tập và giải quyết vấn đề. Vai trò của giáo viên là tạo ra tình huống để phát triển vấn đề, giúp học sinh nhận biết vấn đề, lập giả thuyết, làm sáng tỏ và thử nghiệm các giả thuyết, rút ra kết luận. Đây là một hướng trong DHKP cần tiến hành. Theo nhà tâm lý học J.Piaget, nhận thức của con người là kết quả của quá trình thích ứng với môi trường qua hai hoạt động đồng hóa và điều tiết.
Tri thức không hoàn toàn được truyền thụ từ người biết đến người chưa biết mà nó được chính cá thể xây dựng từ những vấn đế mà người học cảm thấy cần thiết và có khả năng giải quyết vấn đề đó thông qua tình huống cụ thể họ sẽ kiến tạo nên tri thức cho riêng mình.