Chương 1: Cơ sở lý luận của đề tài. Chương 2: Hiện trạng hoạt động khoa học của Viện Khoa học lao động & xã hội. Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động nghiên cứu của nguồn lực khoa học thông qua việc áp dụng cấu trúc ma trận. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Cấu trúc ma trận Cấu trúc ma trận là tổ chức phối hợp giữa cấu trúc chức năng và cấu trúc dự án. Đây là loại hình tổ chức có nhiều biến thể có thể xem nó như cơ cấu quan liêu có biến đổi hoặc như dạng cơ cấu sinh học. Hình thức ma trận được triển khai đầy đủ thể hiện ở các êkip ưu tiên một công việc, một chương trình, một sản phẩm hay một dự án. Các chuyên gia ở các phòng ban chức năng khác nhau tập hợp lại thực hiện một dự án trong một êkip làm việc.
Hình thức này giống với cơ cấu cơ học vì nó nhấn mạnh đến sản phẩm cuối cùng hơn là đến sự đóng góp chức năng nên khuyến khích được hành động linh hoạt đổi mới và thích ứng với môi trường. Tuy nhiên trong một số tổ chức ma trận các ngành chức năng tiếp tục chiếm ưu thế đến mức các êkip hoạt động bên trong cơ cấu quan liêu bị cản trở đổi mới và khó thực hiện các dự án một cách hiệu quả. Cấu trúc ma trận là một phương tiện làm đảo lộn những ngăn cách giữa các ngành chuyên môn chức năng và cho phép các thành viên của nó kết hợp khả năng của nhau để giải quyết một vấn đề chung. Một số tổ chức chỉ thành lập một vài êkip xong có những tổ chức hoạt động hoàn toàn bằng các êkip.
Các êkip có thể nhất thời coi như một cách thức làm việc đặc biệt, hay ngược lại coi như cách làm việc tốt nhất. Cấu trúc ma trận thường làm tăng khả năng thích ứng của tổ chức với môi trường, nâng cao sự phối hợp giữa các chuyên gia chức năng và cho phép sử dụng hiệu quả nguồn nhân lực trong tổ chức. Cấu trúc này cho phép tổ chức trung gian và cấp dưới có sự đóng góp cái mà họ rất có thể bị tước đoạt. Việc hòa nhập kinh nghiệm chức năng và hướng vào sản phẩm cuối cùng giúp cho việc xây dựng sự cạnh tranh lành mạnh giữa các khu vực làm cho các nguồn lực bên trong thích hợp nhau đồng thời vẫn duy trì sự chú ý đến sản phẩm phù hợp với môi trường bên ngoài.
Cấu trúc ma trận còn được xem là một tổ chức theo dự án làm thay đổi hình thức chức năng quan liêu nhằm đáp ứng những đòi hỏi của từng tình huống thông qua việc thành lập các đơn vị hay các êkip được tuyển chọn ở các đơn vị chức năng 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của tổ chức. Tuy nhiên, trong cấu trúc ma trận xuất hiện những vấn đề bắt nguồn từ sự tranh chấp giữa tính trung thành và trách nhiệm đối với bộ phận hay đối với êkip. Những tranh chấp này xảy ra khi các êkip chịu trách nhiệm các dự án trưởng thành trong một tổ chức mang phong cách quan liêu nặng nề. Các thành viên của êkip thường được coi như là các đại diện của các bộ phận chức năng và người đứng đầu bộ phận chịu trách nhiệm về hành vi của họ.
Tuy nhiên con đường thăng tiến của họ có thể phụ thuộc vào người đứng đầu bộ phận này. Sự tranh chấp của mối liên kết và trách nhiệm sẽ phá hoại hiệu quả của êkip. Trong cấu trúc ma trận phát triển nhất, loại căng thẳng này thường bị mất đi khi nhấn mạnh về mối liên kết của êkip, tăng cường mối liên kết này bằng những phần thưởng thích hợp. Cũng phải nói rằng nhiều khi các cấu trúc ma trận hay tổ chức ra những cuộc họp tốn nhiều thời gian và các tổ chức này thường xảy ra những tranh chấp cho nên cần xây dựng tính tập thể hữu hiệu.
Các tổ chức ma trận luôn đấu tranh loại trừ nhau, nhưng không tránh khỏi ảnh hưởng lẫn nhau và hình thành những tổ chức lai tạp. Sự đấu tranh giữa tính đặc thù và tính đồng nhất trong những tổ chức này là nguyên nhân của sự phát triển tổ chức, những tổ chức này có những đặc điểm riêng biệt, mức độ độc lập và tách biệt cao làm cho nó luôn thích nghi với môi trường.1-3] Ngoài những tính ưu việt được nêu trên, mô hình cấu trúc ma trận cũng tồn tại những nhược điểm như: - Người chủ dự án nằm trên lề của cấu trúc chức năng và cấu trúc dự án, nằm ở giữa nhân lực của cấu trúc chức năng và người hợp đồng gia công dự án. Xử lý tình huống và thực hiện quản lý dự án là phức tạp và khó lường được những sự cố xảy ra cần đối phó. - Nhân lực tham gia dự án là người của cấu trúc chức năng nên người chủ dự án không có khả năng tăng lương, đề bạt hay thực hiện nhiều chế độ khác.
Sự kỷ luật trong cấu trúc dự án cũng dễ xảy ra lộn xộn do bản thân sự tự do của cấu trúc dự án và do quan hệ quyền lực không rõ ràng của cấu trúc và người chủ dự án chỉ hoạt động với quyền lực cá nhân. Nhân lực tham gia trong cấu trúc dự án có chất lượng rất cao nên nhu cầu và yêu cầu cũng rất lớn, đòi hỏi nhiều ở chủ dự án mà không phải lúc nào chủ dự án cũng có khả năng và điều kiện đáp ứng được. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Nhân sự do người lãnh đạo cấu trúc chức năng quản lý nhưng lại nhận nhiệm vụ của người quản lý dự án. Nhân viên thì chịu sự “song trùng quản lý” còn nhà quản lý rơi vào tình trạng “ai có quyền hơn ai”.
Hoạt động khoa học Khi tìm hiểu khái niệm hoạt động khoa học, chúng ta xem xét một số khái niệm về khoa học như sau: Từ điển Larousse (2002) của Pháp định nghĩa: “Khoa học là một tập hợp tri thức đã được kiểm chứng bằng thực nghiệm về các sự kiện, sự vật và hiện tượng tuân theo một quy luật xác định”. Từ điển Triết học của Liên Xô (bản tiếng Việt, 1975) định nghĩa: “Khoa học là lĩnh vực hoạt động nhằm mục đích sản xuất ra những tri thức mới về tự nhiên, xã hội và tư duy bao gồm tất cả những điều kiện và những yếu tố của sự sản xuất này”. Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô (1986) định nghĩa: “Khoa học là lĩnh vực hoạt động của con người, có chức năng xử lý và hệ thống hóa về mặt lý thuyết các tri thức khách quan”, “Là một trong những hình thái ý thức xã hội, bao gồm trong đó cả những hoạt động nhằm thu nhận các kiến thức mới, và cả những kết quả của các hoạt động đó”. Từ điển MacMillan English Dictionary for Advanced Learners (2006) định nghĩa: “Khoa học là một hoạt động nghiên cứu và kiến thức về thế giới vật lý và hành vi của nó, dựa trên các thực nghiệm và các sự kiện được kiểm chứng và được tổ chức thành hệ thống”.
Tiếp theo định nghĩa này, trong từ điển MacMillan tách ra hai từ mục: (1) Khoa học là một lĩnh vực nghiên cứu (an area of study) sử dụng các phương pháp khoa học, và (2) Khoa học là một chủ đề nghiên cứu (a subject), chẳng hạn, vật lý học, hóa học. [31] Từ điển Cobuild Learner’s Dictionary (2001) định nghĩa: “Khoa học là một study về giới tự nhiên và hành vi của giới tự nhiên”, đồng thời cũng đưa ra định nghĩa thứ hai: “Khoa học là những tri thức đạt được từ công việc nghiên cứu”. Còn study thì được định nghĩa là một “activities of studying”, nghĩa là một loại hoạt động. [31] 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Từ điển Hutchinson Dictionary of Ideas (1994) định nghĩa: Khoa học là “any systematic field of study”, nghĩa là một lĩnh vực nghiên cứu có hệ thống và “nhằm sản xuất ra (to produce) các tri thức”.
Định nghĩa này dựa trên nghiên cứu của một nhà nghiên cứu lịch sử khoa học người Mỹ, D. Từ những khái niệm khác nhau về hoạt động khoa học được nêu ở trên, trong đề tài này tôi hiểu khái niệm hoạt động khoa học là quá trình nghiên cứu nhằm khám phá ra những kiến thức mới, học thuyết mới về tự nhiên và xã hội. Những kiến thức hay học thuyết mới này, tốt hơn, có thể thay thế dần những cái cũ không còn phù hợp. Chất lƣợng nghiên cứu khoa học Nghiên cứu khoa học là một dạng hoạt động xã hội, là một dạng nhân công lao động xã hội, tuy nhiên nghiên cứu khoa học có đặc điểm khác với các loại hình lao động khác, nhất là so với lao động trong lĩnh vực sản xuất vật chất.
Marx đã nói: “Sản phẩm của lao động khoa học luôn luôn được đánh giá kém xa so với giá trị thực của nó, bởi vì giá trị lao động sống nhằm tái tạo ra nó không thể nào so sánh được với giá trị lao động quá khứ đã sáng tạo ra nó lần đầu tiên”. Nội hàm của nghiên cứu là tìm kiếm những tri thức mới; hoàn thiện, mở rộng những tri thức đã có, sáng tạo ra các nguyên lý, giải pháp hay các mô hình khả thi về kỹ thuật; dự báo trạng thái tương lai của sự vật, hiện tượng. Ngoại diên nghiên cứu được hiểu là tất cả các hoạt động tìm kiếm tri thức mới trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Nói cách khác, nghiên cứu là toàn bộ các hoạt động trong các lĩnh vực khoa học và công nghệ nhằm tìm kiếm tri thức mới, hoàn thiện, mở rộng những tri thức đã có về sự vật, hiện tượng, bản chất của sự vật, hiện tượng hay các quy luật hoặc các dự báo trạng thái tương lai của chúng 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghiên cứu khoa học là một hoạt động tìm kiếm, xem xét, điều tra, hoặc thử nghiệm.
Dựa trên những số liệu, tài liệu, kiến thức… đạt được từ các thí nghiệm nghiên cứu khoa học để phát hiện ra những cái mới về bản chất sự vật, về thế giới tự nhiên và xã hội, để sáng tạo phương pháp và phương tiện kỹ thuật mới cao hơn, giá trị hơn. Con người muốn làm NCKH phải có kiến thức nhất định về lĩnh vực nghiên cứu và phải rèn luyện cách làm việc tự lực, đặc biệt phải có phương pháp nghiên cứu.