Mở đầu Chương này trình bày ly do chọn đề tài, mục tiêu mà nghiên cứu sẽ hướng đến, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu. Giới thiệu sơ lược cau trúc khóa luận. Chương 2: Tổng quan Trình bày các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan trong nước và ngoài nước. Tổng quan về NLU cũng được mô tả trong chương này dé làm cơ sở cho phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến động lực NCKH của giảng viên Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu a Trình bày các cơ sở lý luận phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài bao gồm: khái niệm động lực, NCKH,.
Bên cạnh đó cũng trình bay về mô hình nghiên cứu đề xuất, quy trình nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và các thang đo được sử dụng trong khóa luận. Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận Mô tả thực trạng hoạt động NCKH của sinh viên NLU và phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến động lực NCKH của sinh viên NLU. Chương 5: Kết luận và kiến nghị. Trình bày các kết quả chính đạt được và rút ra kết luận và gợi ý một số giải pháp từ kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu, đề xuất giải pháp, kiến nghị dành cho nhà trường, các khoa/bộ môn, phòng Quản lý NCKH.
CHƯƠNG 2 TỎNG QUAN 2. Tông quan về tài liệu nghiên cứu 2. Các nghiên cứu trên thé giới Dựa trên các nghiên cứu kế thừa của các nghiên cứu trước về các yếu tố ảnh hưởng đến NCKH của sinh viên. Động lực NCKH của sinh viên được xây dựng trên cơ sở kết hợp các khái niệm của Bedeian (1993), Mathis và cộng sự (2002), Motta (1995) về động lực lao động là việc tự nguyện, khát khao, cô gắng làm việc mà công việc đó giúp người lao động đạt mục tiêu cá nhân và từ đó góp phần đạt mục tiêu của tô chức.
Động lực lao động được đo lường bởi sự cố gang hết sức để hoàn thành công việc của người đó dù gặp khó khăn, sẵn sảng bắt đầu ngày làm việc sớm hoặc ở lại muộn dé hoàn thành công việc, thường làm việc chăm chỉ hơn người khác có cùng công việc, làm việc quên thời gian (Wright, 2003). Theo Chen, Gupta & Hoshower (2006) nêu một cá nhân đánh giá cao va cho rằng việc thực hiện nghiên cứu là một hành vi tốt, mang lại lợi ích cho bản thân và xã hội thì cá nhân đó sẽ có nhiều động lực dé thực hiện NCKH. Ngược lại, nếu một cá nhân nghĩ rằng việc thực hiện NCKH là không quan trọng, không cần thiết đối với bản thân thì họ sẽ có ít động lực hơn hay thậm chí là không có ý định thực hiện nghiên cứu. Sax và ctg (2002) đã khảo sát mức độ ảnh hưởng của giới tính và các nhân tố thuộc nhóm các ảnh hưởng từ gia đình đến năng suất nghiên cứu.
Mô hình nghiên cứu đề xuất 5 nhóm nhân tố tác động đến năng suất nghiên cứu, bao gồm: (1) Các biến nhân khẩu học; (2) Đặc điểm của nơi công tác (loại hình viện nghiên cứu, loại hợp đồng kí kết với cơ quan.); (3) Đặc điểm cá nhân (như học hàm, lương bồng, định hướng nghiên cứu, stress trong công việc); (4) Lĩnh vực nghiên cứu; (5) Nhóm nhân tố liên quan đến gia đình, bao gôm tình trạng hôn nhân, con cái, tress ở nhà, áp lực tài chính, thời gian dành cho việc nhà, chăm sóc con cái. Với 8544 phản hồi từ các giảng viên toàn thời gian tại 57 trường đại học trên toàn Hoa Kỳ, kết quả hồi quy đa biến cho thấy các biến liên quan đến tình trạng gia đình có tác động không đáng kể, 2 nhóm nhân tố có tác động mạnh nhất là nhóm về đặc điểm môi trường làm việc và đặc điểm của cá nhân (như cấp bậc/ học hàm, Lương bồng, Dinh hướng/ Thái độ đối với nghiên cứu, Sự mong mỏi có sự công nhận từ người khác). Ngoài ra, cảm nhận về kiểm soát hành vi trong NCKH bao gồm các nhân tố cá nhân dùng dé đánh giá kha năng thành công của mình như: năng lực cá nhân (Azad & Seyyed, 2007), điều kiện và môi trường làm việc (Blackburn & Lawrence, 1995; Sax et al., 2002; Chen et al., 2006; Azad & Seyyed, 2007; Lertputtarak, 2008). Như vậy, khả năng tham gia NCKH của sinh viên chịu ảnh hưởng bởi các nhóm nhân tố: (1) Nhận thức và động cơ về việc thực hiện NCKH; (2) Chuẩn chủ quan của việc thực hiện NCKH (Kinh phí và thủ tục thực hiện NCKH); (3) Cảm nhận về kiểm soát hành vi trong NCKH (Năng lực cá nhân; Điều kiện và môi trường làm việc).
Azad và Seyyed (2007) đã áp dụng khung lý thuyết được xây dựng bởi Blackburn & Lawrence (1995). Kết quả phân tích dữ liệu từ 233 hồi đáp bằng cách so sánh giữa 2 nhóm: nhóm có năng suất nghiên cứu cao và có năng suất nghiên cứu thấp đã đưa ra các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến năng suất nghiên cứu tại các nước GCC (các tiểu vương quốc Ả Rập) như sau: (1) Nhóm các biến nhân khẩu học; (2) Nhóm các biến về Sự tự biết mình và năng lực cá nhân (Self-knowledge & individual competencies) thé hiện các động cơ dẫn đến việc thực hiện nghiên cứu, các quan niệm của cá nhân về ý nghĩa của việc thực hiện nghiên cứu đối với bản thân và việc đánh giá về các năng lực của bản thân dé có thé thực hiện nghiên cứu; (3) Nhóm nhân tố về môi trường làm việc (work environment) thể hiện về những kỳ vọng, quy định của nơi làm việc, các điều kiện cơ sở vật chất, hỗ trợ về nguồn lực. từ nơi làm việc để có thể thực hiện nghiên cứu; (4) Các mối quan tâm khác ngoài xã hội mà bản thân không thé kiểm soát (social contingencies), bao gồm các biến cố xảy ra voi riêng từng cá nhân. Các nghiên cứu trong nước Tran Mỹ Hương va Tạ Kiều An (2012) đã nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động NCKH cua sinh viên va kêt quả chi ra rang nhân tô sinh viên, cơ quan thực tập, môi 6 trường học tập và giáo viên hướng dẫn là các nhân tố chính tác động mạnh đến hoạt động NCKH của sinh viên.
Trong đó, nhân tố sinh viên có tác động mạnh nhất đến với hoạt động NCKH cua sinh viên. Nguyễn Thu Thủy (2013) đã chi ra rằng các nhân tố ảnh hưởng đến động lực NCKH của sinh viên như sau: tinh thần trách nhiệm thành viên nhóm, nhóm trưởng, giảng viên hướng dẫn, khả năng tiếp cận tài liệu, mục tiêu mà bạn đặt ra khi tham gia NCKH. Nghiên cứu cũng giải thích rõ các yếu tố là một trong những cơ sở quan trọng dé nâng cao động lực tham gia NCKH của sinh viên. Phạm Quang Văn và cộng sự (2018) đã nghiên cứu Một số yếu tổ tac động đến động lực NCKH của sinh viên và cho ra kết quả: ĐỀ tạo động lực NCKH cho sinh viên cần đưa ra giải pháp đề tác động đến từng nhân tố: chính sách của nhà trường, sinh viên, cơ sở vật chất, cơ quan thực tập — doanh nghiệp, giảng viên.
Trong đó, nhân tố giảng viên là nhân tố có ảnh hưởng nhiều nhất đến động lực của sinh viên. Hà Đức Sơn, Nông Thị Như Mai (2019) đã nghiên cứu Các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia NCKH của sinh viên và kết quả đưa ra được 04 yếu tố ảnh hưởng đến sự tham gia NCKH của sinh viên là: môi trường nghiên cứu, động cơ, năng lực của sinh viên và sự quan tâm khuyến khích của nhà trường. Trong đó, môi trường nghiên cứu là nhân tổ có tác động nhiều nhất đến sự tham gia NCKH của sinh viên. Tổng quan các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế cho thấy, các học giả đã kiểm định sự ảnh hưởng của các nhân tố: Cơ sở vật chất, Chính sách/khen thưởng, Nhận thức về khả năng NCKH, Nhận thức lợi ích của NCKH, Sự thích thú NCKH, Giảng viên hướng dẫn, Nhu cầu tự thân đến động lực NCKH.
Đây cũng là nền tảng trong việc xây dựng mô hình nghiên cứu của đê tài. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 2. Giới thiệu về Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh Trường Đại học Nông Lâm TP.
Hồ Chí Minh là trường Đại học đa ngành, trực thuộc Bộ Giáo dục và Đảo tạo, tọa lạc trên khu đất rộng 118 ha, thuộc phường Linh Trung, TP. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh và huyện Dĩ An, tỉnh Bình Dương. Logo Trường Đại học Nông Lâm TP.
Hồ Chí Minh Nguôn: NLU, 2022 Tiền thân là Trường Quốc gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc (1955), Trường Cao đẳng Nông Lâm Súc (1963), Học viện Nông nghiệp (1972), Trường Đại học Nông nghiệp Sài Gòn (thuộc Viện Đại học Bách khoa Thủ Đức (1974), Trường Đại học Nông nghiệp 4 (1975), Trường Đại Học Nông Lâm Nghiệp TP. Hồ Chí Minh (1985) trên cơ sở sát nhập Trường Đại học Nông nghiệp 4 (Thủ Đức - TP. Hồ Chí Minh) và Trường Cao đăng Lâm nghiệp (Trảng Bom - Đồng Nai), Trường Đại học Nông Lâm (thành viên Dai học Quốc gia TP. HCM - 1995), Trường Đại học Nông Lâm TP.
Hồ Chí Minh trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo (2000). Trải qua 67 năm hoạt động, Trường đã đạt nhiều thành tích xuất sắc về đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp, chuyên giao công nghệ, quan hệ quốc tế. Trường đã vinh dự được nhận Huân chương Lao động Hạng ba (năm1985), Huân chương Lao động Hạng nhất (năm 2000), Huân chương Độc lập Hạng ba (năm 2005). Tầm nhìn: Trường Đại học Nông Lâm TP.
Hồ Chí Minh sẽ trở thành Trường Đại học nghiên cứu với chât lượng quôc tê. Sứ mạng: Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh là một Trường Đại học đa ngành, đào tạo nguồn nhân lực giỏi chuyên môn và tư duy sáng tạo; thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu, phát triển, phô biến, chuyền giao tri thức - công nghệ, đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững kinh tế - xã hội của Việt Nam và khu vực. Mục tiêu chiến lược: Trường Đại học Nông Lâm TP.
Hồ Chí Minh tiếp tục xây dựng, phát triển thành một trường Đại học có chất lượng về đào tạo, nghiên cứu, chuyên giao khoa học công nghệ và hợp tác quốc tế, sánh vai với các trường Dai học tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Nhiệm vụ chính: - Đào tạo cán bộ kỹ thuật có trình độ đại học và sau đại học trong các lĩnh vực: Nông lâm ngư nghiệp, Cơ khí, Kinh tế, Quản lý, Ngoại ngữ, Sư phạm, Môi trường, Sinh học, Hoá hoc, Công nghệ thông tin. - NCKH va hợp tác NCKH với các don vi trong và ngoài nước. - Chuyên giao tiến bộ khoa học kỹ thuật đến doanh nghiệp và người sản xuất.