Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hoạt động nghiên cứu khoa học (NCKH) của sinh viên là một trong những chỉ số quan trọng phản ánh chất lượng đào tạo và năng lực học thuật của cơ sở giáo dục đại học. Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh (NLU) là trường đại học công lập đa ngành trực thuộc Bộ Giáo dục và Đào tạo với bề dày hơn 67 năm xây dựng và phát triển, định hướng trở thành trường đại học nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế. Quy mô đào tạo của trường đạt trên 23.000 sinh viên tại cơ sở chính (TP. Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh - Dĩ An, Bình Dương) cùng 2 phân hiệu tại Gia Lai và Ninh Thuận. Mặc dù Đảng ủy, Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý NCKH và các đơn vị chức năng đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách quản lý và tạo điều kiện hỗ trợ, hoạt động NCKH của sinh viên NLU trong thực tế vẫn chưa thực sự sôi nổi và có dấu hiệu chững lại qua các năm.

Theo số liệu thống kê của Phòng Quản lý NCKH giai đoạn 2001 - 2021:

  • Số lượng đề tài NCKH sinh viên cấp cơ sở có xu hướng sụt giảm rõ rệt: Năm 2003 ghi nhận 57 đề tài, tăng lên 91 đề tài vào năm 2004, nhưng giai đoạn 2005 - 2011 giảm mạnh xuống mức trung bình 30 đề tài/năm. Giai đoạn 2012 - 2015 phục hồi dao động ở mức 54 - 61 đề tài/năm, tuy nhiên giai đoạn 2016 - 2021 số lượng đề tài lại giảm gần một nửa, đến năm 2021 chỉ còn 27 đề tài.
  • Phong trào tham gia các cuộc thi học thuật có dấu hiệu đối phó và sụt giảm: Tiêu biểu như Cuộc thi Ý tưởng NCKH sinh viên từ 34 ý tưởng đăng ký năm 2017 tăng lên 169 ý tưởng năm 2021, nhưng đến năm 2022 giảm mạnh xuống còn 68 ý tưởng.
  • Tỷ lệ sinh viên trực tiếp tham gia hoạt động NCKH ước tính chỉ chiếm khoảng 0,001% so với tổng quy mô sinh viên toàn trường.
  • Sự phân bổ không đồng đều giữa các đơn vị đào tạo: Các khoa khối kỹ thuật và công nghệ (Công nghệ Thực phẩm, Công nghệ Hóa học, Môi trường & Tài nguyên, Cơ khí - Công nghệ, Nông học) vẫn duy trì đăng ký đề tài hàng năm; trong khi các khoa như Kinh tế, Thủy sản, Lâm nghiệp, Công nghệ Thông tin, Quản lý Đất đai & Bất động sản có số lượng đề tài giảm dần, thậm chí nhiều năm liền không có đề tài nào tham gia.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác lập như sau:

  1. Mục tiêu chung: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến động lực tham gia NCKH của sinh viên Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao động lực, thúc đẩy sinh viên tích cực tham gia hoạt động NCKH trong nhà trường.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Mục tiêu 1: Phân tích thực trạng hoạt động NCKH của sinh viên tại Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh.
    • Mục tiêu 2: Xác định các yếu tố và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến động lực tham gia NCKH của sinh viên NLU.
    • Mục tiêu 3: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao động lực tham gia NCKH của sinh viên NLU.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Động lực NCKH và các yếu tố ảnh hưởng đến động lực NCKH của sinh viên Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh.
  • Phạm vi dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu thống kê về đề tài, ý tưởng NCKH từ Phòng Quản lý NCKH NLU giai đoạn 2001 - 2022.
  • Phạm vi dữ liệu sơ cấp: Khảo sát điều tra sinh viên từ năm 2 đến năm 4 tại các khoa thuộc Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh, thời gian thu thập dữ liệu từ tháng 11/2022 đến tháng 12/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống các lý thuyết quản trị nhân sự, tâm lý học hành vi và mô hình thực nghiệm về động lực NCKH:

  • Khái niệm NCKH: Căn cứ Luật Khoa học và Công nghệ Việt Nam, kết hợp quan điểm của Dương Thiệu Tống (2005), Vũ Cao Đàm, Nguyễn Đình Thọ (2011).
  • Khái niệm động lực và động lực lao động: Kế thừa quan điểm của Bedeian (1993), Motta (1995), Mathis và cộng sự (2002), Wright (2003), Robbins (2012), Trần Kim Dung và Nguyễn Ngọc Lan Vy (2011). Động lực NCKH của sinh viên được định nghĩa là sự khao khát, tự nguyện của sinh viên nhằm hướng tới kết quả nghiên cứu nhất định, là nhân tố bên trong kích thích tính say mê học tập và sáng tạo sản phẩm khoa học.
  • Các lý thuyết nền tảng về tạo động lực:
    • Thuyết phân cấp nhu cầu của Abraham Maslow (1943): 5 bậc nhu cầu từ sinh học, an toàn, xã hội, tự trọng đến tự khẳng định bản thân.
    • Thuyết hai nhân tố của Frederick Herzberg (1959): Phân định nhân tố duy trì (điều kiện vật chất, chính sách, sự giám sát) và nhân tố thúc đẩy (sự công nhận, bản chất công việc, trách nhiệm, cơ hội phát triển).
    • Thuyết đặt mục tiêu của Edwin Locke và Gary P. Latham (cuối thập niên 1960): Mối quan hệ giữa mục tiêu cụ thể, thách thức và hiệu suất thực hiện.
    • Thuyết kỳ vọng của Victor Vroom (1964), bổ sung bởi Porter & Lawler (1968): Mối liên hệ giữa nỗ lực, kết quả và giá trị phần thưởng.
    • Thuyết hành vi hoạch định (TPB) của Icek Ajzen (1991): Ý định hành vi bị chi phối bởi thái độ (nhận thức hành vi), chuẩn chủ quan (chính sách, kinh phí) và cảm nhận kiểm soát hành vi (năng lực cá nhân, môi trường nghiên cứu).
    • Thuyết công bằng của J. Stacy Adams: Nhận thức về sự cân đối giữa nỗ lực bỏ ra và sự đãi ngộ nhận được so với người khác.
  • Kế thừa các công trình thực nghiệm: Blackburn & Lawrence (1995), Sax và cộng sự (2002), Chen, Gupta & Hoshower (2006), Azad & Seyyed (2007), Trần Thị Mỹ Hương và Tạ Kiều An (2012), Nguyễn Thu Thủy (2013), Phạm Quang Văn và cộng sự (2018), Hà Đức Sơn và Nông Thị Như Mai (2019).

Mô hình nghiên cứu đề xuất ban đầu bao gồm 5 nhóm yếu tố tác động cùng chiều (+) đến biến phụ thuộc Động lực NCKH (ĐL):

  1. Sự quan tâm và khuyến khích của khoa, trường (QT - H1+)
  2. Môi trường nghiên cứu (MT - H2+)
  3. Giảng viên hướng dẫn (GV - H3+)
  4. Nhận thức đối với việc thực hiện NCKH (NT - H4+)
  5. Năng lực của sinh viên (NL - H5+)

Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng:

  • Nghiên cứu sơ bộ (định tính): Sử dụng phương pháp thảo luận nhóm và phỏng vấn thử giảng viên, cán bộ quản lý NCKH và sinh viên nhằm rà soát nội dung, điều chỉnh bảng hỏi khảo sát và hiệu chỉnh thang đo dự kiến (gồm 34 biến quan sát cho các biến độc lập và 5 biến quan sát cho biến phụ thuộc, sử dụng thang đo Likert 5 mức độ từ 1 = Hoàn toàn không đồng ý đến 5 = Hoàn toàn đồng ý).
  • Nghiên cứu chính thức (định lượng):
    • Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện theo tỷ lệ sinh viên phân bổ tại 12 khoa/bộ môn của trường. Mẫu khảo sát tập trung vào sinh viên năm 2, năm 3 (đối tượng chính được giao đề tài) và năm 4 (chuẩn bị làm khóa luận tốt nghiệp); chủ động loại trừ sinh viên năm nhất do mới nhập học, chưa tiếp cận hoạt động NCKH nhằm hạn chế hiện tượng nhiễu dữ liệu.
    • Kích thước mẫu: Phát ra 300 phiếu khảo sát trực tuyến qua Google Forms, sau quá trình sàng lọc và làm sạch dữ liệu thu được 270 quan sát hợp lệ (đáp ứng tiêu chuẩn cỡ mẫu tối thiểu cho EFA n $\ge$ 5 $\times$ số biến quan sát = 170 và phân tích hồi quy bội n $\ge$ 8m + 50 = 90).
  • Phương pháp phân tích và xử lý dữ liệu: Sử dụng phần mềm SPSS 22 với các kỹ thuật:
    • Thống kê mô tả đặc điểm nhân khẩu học và thực trạng NCKH.
    • Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach's Alpha (điều kiện: Alpha $\ge$ 0,6 và hệ số tương quan biến tổng Corrected Item-Total Correlation $\ge$ 0,3).
    • Phân tích nhân tố khám phá (EFA) kiểm định độ giá trị cấu trúc, hội tụ và phân biệt (điều kiện: 0,5 $\le$ KMO $\le$ 1; Kiểm định Bartlett có Sig. < 0,05; Hệ số tải nhân tố Factor Loading $\ge$ 0,5; Tổng phương sai trích Cumulative of Variance $\ge$ 50% với Eigenvalue > 1).
    • Phân tích tương quan Pearson xác định quan hệ đơn biến và phát hiện sớm hiện tượng đa cộng tuyến.
    • Phân tích hồi quy tuyến tính bội theo phương pháp Enter đánh giá tác động của các nhân tố đến động lực NCKH.
    • Kiểm định mức độ phù hợp mô hình thông qua hệ số $R^2$ hiệu chỉnh, kiểm định ANOVA (F-test), kiểm định đa cộng tuyến qua chỉ số phóng đại phương sai (VIF) và độ chấp nhận (Tolerance), kiểm tra phân phối chuẩn của phần dư bằng biểu đồ Histogram và P-P plot, kiểm tra phương sai phần dư không đổi bằng hệ số tương quan hạng Spearman.
    • Kiểm định ANOVA và Independent Samples T-Test kiểm tra sự khác biệt về động lực NCKH theo các biến nhân khẩu học (giới tính, khóa học, khoa, điểm GPA tích lũy).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Mở đầu

Chương mở đầu tập trung xác lập tính cấp thiết của đề tài trong bối cảnh Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh định hướng nâng tầm nghiên cứu khoa học. Tác giả chỉ ra mâu thuẫn thực tiễn giữa mục tiêu đào tạo của trường với sự suy giảm số lượng đề tài cấp cơ sở (từ đỉnh cao 91 đề tài năm 2004 xuống còn 27 đề tài năm 2021) và sự sụt giảm ý tưởng dự thi (từ 169 ý tưởng năm 2021 xuống 68 ý tưởng năm 2022). Chương 1 đồng thời xác định hệ thống mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu thời gian - không gian và khái quát cấu trúc 5 chương của khóa luận.

Chương 2: Tổng quan

Chương 2 tổng hợp bức tranh học thuật quốc tế và trong nước về động lực nghiên cứu khoa học:

  • Nghiên cứu quốc tế: Phân tích mô hình của Sax và cộng sự (2002) trên 8.544 giảng viên tại 57 trường đại học Hoa Kỳ; mô hình của Azad & Seyyed (2007) tại các nước GCC; nghiên cứu của Chen, Gupta & Hoshower (2006) về vai trò nhận thức lợi ích nghiên cứu.
  • Nghiên cứu trong nước: Tổng kết công trình của Trần Thị Mỹ Hương và Tạ Kiều An (2012), Nguyễn Thu Thủy (2013), Phạm Quang Văn và cộng sự (2018), Hà Đức Sơn và Nông Thị Như Mai (2019) về các yếu tố giảng viên, chính sách, môi trường và năng lực sinh viên.
  • Tổng quan địa bàn nghiên cứu: Giới thiệu chi tiết Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh (diện tích 118 ha, cơ cấu tổ chức gồm 13 khoa, 1 bộ môn trực thuộc, 2 phân hiệu, 1 viện nghiên cứu, 10 trung tâm, 3 trại - vườn thực nghiệm, quy mô hơn 23.000 người học với 34 ngành đại học và 28 chuyên ngành sau đại học).
  • Tổng quan vấn đề nghiên cứu: Khái quát vai trò của NCKH sinh viên và tổng thuật các tài liệu phương pháp luận nghiên cứu của Nguyễn Văn Tuấn, Vũ Cao Đàm, Nguyễn Đình Thọ và Trần Tiến Khai.

Chương 3: Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương 3 trình bày cơ sở lý luận, mô hình và quy trình nghiên cứu chi tiết:

  • Hệ thống hóa các khái niệm NCKH, động lực làm việc, động lực NCKH sinh viên và vai trò của việc tạo động lực trong tổ chức giáo dục.
  • Luận giải 6 học thuyết cốt lõi: Maslow (1943), Herzberg (1959), Locke (1960), Vroom (1964), Ajzen (1991), Adams.
  • Xây dựng mô hình nghiên cứu đề xuất gồm 5 biến độc lập (QT, MT, GV, NT, NL) và 1 biến phụ thuộc (ĐL) cùng 5 giả thuyết từ H1+ đến H5+.
  • Xây dựng bảng mã hóa 39 biến quan sát chi tiết: Nhóm QT (9 biến: từ QT1 đến QT9), nhóm MT (5 biến: từ MT1 đến MT5), nhóm GV (5 biến: từ GV1 đến GV5), nhóm NT (5 biến: từ NT1 đến NT5), nhóm NL (7 biến: từ NL1 đến NL7) và nhóm ĐL (5 biến: từ ĐL1 đến ĐL5).
  • Mô tả quy trình nghiên cứu qua 2 giai đoạn (sơ bộ và chính thức), quy chuẩn chọn mẫu phân tầng với quy mô 300 sinh viên, và các tiêu chuẩn kiểm định định lượng trên SPSS 22 (Cronbach's Alpha, EFA, hồi quy bội, ANOVA).

Chương 4: Kết quả nghiên cứu

Chương 4 công bố toàn bộ dữ liệu khảo sát và kết quả kiểm định mô hình thực nghiệm:

  • Thực trạng NCKH tại NLU: Trình bày biểu đồ thống kê đề tài cơ sở sinh viên giai đoạn 2001 - 2021, số lượng đề tài theo từng khoa/bộ môn, số lượng ý tưởng dự thi cuộc thi cấp trường, phân tích tỷ lệ sinh viên làm NCKH và hình thức tốt nghiệp dự định.
  • Thống kê mô tả mẫu (N = 270): Phân tích cơ cấu mẫu theo giới tính, khoa đào tạo, khóa học (năm 2, 3, 4) và điểm trung bình tích lũy (GPA).
  • Kiểm định độ tin cậy thang đo Cronbach's Alpha: Đánh giá lần lượt 5 thang đo độc lập và thang đo biến phụ thuộc; loại bỏ các biến quan sát có hệ số tương quan biến tổng không đạt chuẩn (< 0,3).
  • Phân tích nhân tố khám phá EFA: Thực hiện xoay ma trận nhân tố EFA 2 lần cho các biến độc lập và 1 lần cho biến phụ thuộc. Kết quả EFA đã cơ cấu lại các nhóm nhân tố: một số biến thuộc môi trường cơ sở vật chất gộp cùng nhóm sự quan tâm khuyến khích thành nhân tố mới "Cơ sở vật chất và sự quan tâm, khuyến khích của khoa, trường".
  • Phân tích hồi quy tuyến tính bội: Kiểm định mức độ giải thích của mô hình ($R^2$ hiệu chỉnh), kiểm định ANOVA đánh giá sự phù hợp của mô hình hồi quy, kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến (VIF < 5), kiểm định phương sai phần dư và tính độc lập của sai số.
  • Kết quả kiểm định mô hình xác định 4 yếu tố có ý nghĩa thống kê đều tác động cùng chiều (+) đến động lực NCKH sinh viên: Năng lực của sinh viên (Beta = 0,389 - tác động mạnh nhất), Cơ sở vật chất và sự quan tâm khuyến khích của khoa, trường, Nhận thức đối với việc thực hiện NCKH, Giảng viên hướng dẫn (Beta = 0,149 - tác động yếu nhất).
  • Kiểm định khác biệt (ANOVA/T-test): Đánh giá sự khác biệt về mức độ động lực NCKH giữa các nhóm sinh viên phân theo giới tính, năm học, khoa và kết quả học tập.
  • Đề xuất các nhóm giải pháp tương ứng với 4 nhân tố có ý nghĩa thống kê.

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Chương 5 tóm tắt các kết quả chính đạt được từ mô hình hồi quy và phân tích thực trạng. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra các nhóm giải pháp và kiến nghị cụ thể phân cấp cho 3 nhóm đối tượng:

  • Đối với Nhà trường (Ban Giám hiệu): Đổi mới cơ chế tài chính, bổ sung kinh phí đề tài, nâng cấp trang thiết bị phòng thí nghiệm và thư viện, chuẩn hóa chính sách cộng điểm rèn luyện, khen thưởng học bổng.
  • Đối với Phòng Quản lý NCKH và các Khoa/Bộ môn: Tăng cường truyền thông, tổ chức định kỳ các hội thảo phương pháp NCKH, rút ngắn thủ tục phê duyệt đề tài, gắn kết đề tài của sinh viên với hướng nghiên cứu của giảng viên.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã làm rõ thực trạng hoạt động NCKH của sinh viên Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh qua chuỗi số liệu 20 năm (2001 - 2021) và chỉ ra các yếu tố chi phối động lực nghiên cứu thông qua phân tích hồi quy từ 270 mẫu khảo sát hợp lệ.

Yếu tố ảnh hưởng (sau EFA và Hồi quy) Chiều tác động Mức độ ảnh hưởng (Hệ số Beta chuẩn hóa) Thứ tự tác động
Năng lực của sinh viên (NL) Cùng chiều (+) 0,389 Tác động mạnh nhất (1)
Cơ sở vật chất và sự quan tâm, khuyến khích của khoa, trường Cùng chiều (+) Có ý nghĩa thống kê (2) / (3)
Nhận thức đối với việc thực hiện NCKH (NT) Cùng chiều (+) Có ý nghĩa thống kê (2) / (3)
Giảng viên hướng dẫn (GV) Cùng chiều (+) 0,149 Tác động yếu nhất (4)

Các số liệu thực trạng chính được xác lập trong nghiên cứu:

  • Đề tài cấp cơ sở sinh viên đạt cao nhất vào năm 2004 (91 đề tài), giảm sâu giai đoạn 2005 - 2011 (trung bình 30 đề tài/năm) và chạm mức thấp 27 đề tài vào năm 2021.
  • Cuộc thi Ý tưởng NCKH sinh viên đạt đỉnh năm 2021 với 169 ý tưởng, giảm còn 68 ý tưởng năm 2022.
  • Tỷ lệ sinh viên NLU tham gia NCKH ở mức rất thấp, chỉ chiếm 0,001% trên quy mô hơn 23.000 sinh viên.

Đóng góp của nghiên cứu:

  • Đóng góp về mặt lý luận: Kiểm chứng và tích hợp thành công mô hình hành vi hoạch định (TPB) với các thuyết động lực (Herzberg, Maslow, Vroom, Locke) trong bối cảnh trường đại học khối nông - lâm - kỹ thuật - kinh tế tại Việt Nam. Kết quả EFA cho thấy sự tích hợp giữa điều kiện cơ sở vật chất phòng thí nghiệm/thư viện với chính sách quan tâm của nhà trường thành một nhóm nhân tố thống nhất.
  • Đóng góp về mặt thực tiễn: Cung cấp bằng chứng định lượng cho thấy Năng lực tự thân của sinh viên (kỹ năng nghiên cứu, phương pháp tìm kiếm tài liệu, lựa chọn đề tài) là nhân tố chi phối mạnh nhất (Beta = 0,389), trong khi Giảng viên hướng dẫn có tác động thấp nhất (Beta = 0,149). Kết quả này giúp Nhà trường định hướng lại chính sách: chuyển trọng tâm từ việc hỗ trợ thụ động sang chủ động đào tạo năng lực, kỹ năng NCKH cho sinh viên ngay từ các năm học đầu.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số giới hạn được tác giả ghi nhận trong văn bản:

  • Quy mô mẫu khảo sát giới hạn ở 270 quan sát hợp lệ và chỉ thực hiện tại cơ sở chính ở TP. Thủ Đức/Dĩ An, chưa khảo sát được sinh viên đang theo học tại 2 phân hiệu Gia Lai và Ninh Thuận.
  • Phương pháp lấy mẫu phân tầng kết hợp thuận tiện trực tuyến có thể chưa phản ánh bao quát toàn bộ sự khác biệt giữa các nhóm ngành đào tạo có đặc thù thực hành cao (Nông học, Thú y, Chăn nuôi) và nhóm ngành khoa học xã hội - kinh tế.
  • Khóa luận mới khảo sát sinh viên từ năm 2 đến năm 4, chưa mở rộng sang học viên cao học dù trường có 16 chuyên ngành đào tạo thạc sĩ.

Hướng nghiên cứu tiếp theo:

  • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các phân hiệu và tăng quy mô mẫu trên từng khoa chuyên ngành.
  • Đưa thêm các biến trung gian hoặc biến điều tiết như áp lực thời gian học tập, hỗ trợ tài chính từ gia đình hoặc định hướng nghề nghiệp vào mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM).

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Quản trị Kinh doanh, Quản lý Kinh tế, Phát triển Nông thôn: Tham khảo quy trình xây dựng đề tài định lượng từ lý thuyết đến bảng câu hỏi khảo sát Likert 5 mức độ; quy trình xử lý dữ liệu chuẩn trên SPSS 22 (đánh giá Cronbach's Alpha, phân tích EFA 2 lần, chạy hồi quy Enter, kiểm định ANOVA và các kiểm định vi phạm giả định hồi quy).
  • Cán bộ quản lý giáo dục, Phòng Quản lý NCKH, Đoàn Thanh niên - Hội Sinh viên các trường đại học: Tham khảo chuỗi dữ liệu thực trạng biến động đề tài NCKH sinh viên trong hơn 2 thập kỷ (2001 - 2021) và hệ số tác động của các nhân tố để hoạch định chính sách khuyến khích nghiên cứu khoa học phù hợp.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận khảo sát cỡ mẫu bao nhiêu và thu về bao nhiêu quan sát hợp lệ?

Tác giả phát ra 300 bảng câu hỏi khảo sát trực tuyến đối với sinh viên Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh. Sau khi sàng lọc và loại bỏ các phiếu không hợp lệ, dữ liệu chính thức đưa vào phân tích gồm 270 quan sát.

Bốn yếu tố nào ảnh hưởng đến động lực NCKH của sinh viên NLU và yếu tố nào tác động mạnh nhất?

Kết quả hồi quy bội xác định 4 yếu tố tác động cùng chiều (+) có ý nghĩa thống kê gồm: (1) Cơ sở vật chất và sự quan tâm, khuyến khích của khoa, trường; (2) Năng lực của sinh viên; (3) Nhận thức đối với việc thực hiện NCKH; (4) Giảng viên hướng dẫn. Trong đó, yếu tố Năng lực của sinh viên có tác động mạnh nhất với hệ số Beta chuẩn hóa là 0,389; yếu tố tác động yếu nhất là Giảng viên hướng dẫn với hệ số Beta là 0,149.

Số lượng đề tài NCKH cấp cơ sở của sinh viên NLU giai đoạn 2001 - 2021 biến động như thế nào?

Theo báo cáo của Phòng Quản lý NCKH: Năm 2003 trường có 57 đề tài, tăng lên 91 đề tài vào năm 2004; giai đoạn 2005 - 2011 sụt giảm mạnh, bình quân chỉ đạt 30 đề tài/năm; giai đoạn 2012 - 2015 phục hồi dao động ở mức 54 - 61 đề tài/năm; tuy nhiên từ năm 2016 đến 2021 giảm gần một nửa, đến năm 2021 chỉ còn 27 đề tài. Tỷ lệ sinh viên tham gia NCKH chỉ chiếm khoảng 0,001% so với tổng số sinh viên toàn trường.

Vì sao tác giả loại trừ sinh viên năm nhất khỏi mẫu khảo sát định lượng?

Sinh viên năm nhất vừa mới nhập học, chưa có đủ thời gian làm quen với môi trường đại học và chưa nắm bắt các quy định, hoạt động NCKH của Nhà trường. Việc đưa sinh viên năm nhất vào mẫu khảo sát có thể gây nhiễu kết quả đánh giá. Do đó, nghiên cứu chỉ tập trung vào sinh viên năm 2, năm 3 (đối tượng quy định được làm NCKH) và năm 4 (chuẩn bị làm khóa luận tốt nghiệp).

Khóa luận đã sử dụng những học thuyết quản trị và hành vi nào để xây dựng mô hình?

Nghiên cứu kết hợp 6 học thuyết: Thuyết phân cấp nhu cầu của Abraham Maslow (1943), Thuyết hai nhân tố của Frederick Herzberg (1959), Thuyết đặt mục tiêu của Edwin Locke (1960), Thuyết kỳ vọng của Victor Vroom (1964), Thuyết hành vi hoạch định (TPB) của Icek Ajzen (1991), và Thuyết về sự công bằng của J. Stacy Adams.


Kết luận

Khóa luận của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Duyên đã hoàn thành mục tiêu phân tích thực trạng và lượng hóa các yếu tố chi phối động lực tham gia NCKH của sinh viên Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh. Dựa trên dữ liệu thứ cấp giai đoạn 2001 - 2021 và dữ liệu khảo sát từ 270 sinh viên hợp lệ, nghiên cứu xác định 4 yếu tố tác động cùng chiều đến động lực nghiên cứu, trong đó Năng lực của sinh viên là yếu tố có ảnh hưởng sâu sắc nhất (Beta = 0,389). Kết quả nghiên cứu là căn cứ thực nghiệm để Ban Giám hiệu, Phòng Quản lý NCKH và các khoa chuyên môn của NLU xây dựng các chính sách tập trung bồi dưỡng kỹ năng học thuật, đổi mới điều kiện nghiên cứu và thúc đẩy phong trào NCKH sinh viên phát triển bền vững.