Chương I : Những vấn đề pháp lý cơ bản về kiếm soát của bên nhượng quyền trong NQTM Chương II: Thực trạng pháp luật về kiểm soát của bên nhượng quyền trong NQTM ở Việt Nam Chương III: Hoàn thiện pháp luật về kiểm soát của bên nhượng quyền trong NQTM ở Việt Nam hiện nay. 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG I : NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CƠ BẢN VỀ KIỂM SOÁT CỦA BÊN NHƢỢNG QUYỀN TRONG NHƢỢNG QUYỀN THƢƠNG MẠI 1. Những vấn đề pháp lý về hoạt động NQTM 1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại hoạt động NQTM 1.
Khái niệm về hoạt động NQTM: Có xuất xứ từ châu Âu nhưng phát triển mạnh nhất tại Mỹ từ những năm 60, NQTM (còn gọi là NQTM) là một trong những hoạt động thương mại thu hút được sự chú ý của đông đảo các doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực như kinh doanh đồ uống, đồ ăn, khách sạn, nhà hàng, thời trang, bất động sản, giáo dục, đào tạo … trên thế giới. Do sự khác biệt về quan điểm và môi trường kinh tế, chính trị, xã hội giữa các quốc gia, các định nghĩa về NQTM của các nước thường khác nhau. Theo từ điển Anh - Việt của Viện Ngôn ngữ học “NQTM có nghĩa là cho phép một thương nhân hoặc một doanh nghiệp chính thức được bán hàng hoá hay dịch vụ của một công ty ở một khu vực cụ thể nào đó”, trong khi đó Từ điển Webster của Anh thì định nghĩa “NQTM là một đặc quyền được trao cho một người hay một nhóm người để phân phối hay bán sản phẩm của chủ thương hiệu”. Do nằm trong khuôn khổ từ điển nên cả hai định nghĩa trên đều ngắn gọn nên chưa mô tả được hết nội dung của từ NQTM.
Hội đồng Thương mại Liên bang Hoa Kỳ (Federal Trade Commission) đã đưa ra định nghĩa “NQTM là một hợp đồng hay một thoả thuận giữa ít nhất hai người, trong đó người mua quyền thương mại được cấp quyền bán hay phân phối sản phẩm, dịch vụ theo cùng một kế hoạch hay hệ thống tiếp thu này gắn liền với nhãn hiệu, thương hiệu, biểu tượng, khẩu hiệu, tiêu chí, quảng cáo và những biểu tượng khác của chủ thương hiệu. Người mua quyền phải trả một khoản phí, trực tiếp hay gián tiếp, gọi là phí NQTM”. Định nghĩa này tuy đã khá dài và chi tiết nhưng một số nước vẫn đưa ra 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiều định nghĩa khác mà nội dung có thêm một số ý mới. Trong cuốn “ Hướng dẫn NQTM tại Malaysia”, tác giả Awalan Abdul Aziz lại định nghĩa “NQTM là một hình thức tiếp thị và phân phối một sản phẩm hay dịch vụ dựa trên mối quan hệ giữa hai bên đối tác, một bên gọi là bên nhượng quyền hay bên bán quyền (franchisor) và một bên được gọi là bên được nhượng quyền hay bên mua quyền (NQTM).
Bên mua quyền được cấp phép sử dụng thương hiệu của bên bán quyền để kinh doanh tại một địa điểm hay một khu vực nhất định, trong một khoảng thời gian nhất định”. Hiệp hội nhượng quyền kinh doanh quốc tế (the International Fanchise Association) đã định nghĩa NQTM như sau: “Nhượng quyền thương mại là mối quan hệ theo hợp đồng, giữa Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền, theo đó Bên nhượng quyền đề xuất hoặc phải duy trì sự quan tâm liên tục tới doanh nghiệp của Bên nhận quyền trên các khía cạnh như bí quyết kinh doanh (know – how), đào tạo nhân viên; Bên nhận hoạt động dưới nhãn hiệu hàng hoá, phương thức, phương pháp kinh doanh do bên nhượng sở hữu hoặc kiểm soát”. Theo định nghĩa này, vai trò của Bên nhận quyền kinh doanh trong việc đầu tư vốn và điều hành doanh nghiệp được đặc biệt nhấn mạnh hơn so với trách nhiệm của Bên nhượng quyền. Trong khi đó, Liên minh Châu Âu EU lại định nghĩa NQTM theo hướng nhấn mạnh tới quyền của bên nhận.
Mặc dù có ghi nhận vai trò của thương hiệu và hệ thống bí quyết kinh doanh của Bên nhượng quyền, định nghĩa này không đề cập tới những đặc điểm khác của việc NQTM. EU định nghĩa NQTM là “tập hợp những quyền sở hữu công nghiệp và sở hữu trí tuệ liên quan tới nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, biển hiệu cửa hàng, giải pháp hữu ích, kiểu dáng, bản quyền tác giả, bí quyết hoặc sáng chế sẽ được khai thác bán sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ tới người sử dụng cuối cùng”. Luật Mêhicô đề cập tới lợi ích của việc NQTM về mặt hỗ trợ kỹ thuật (technical assistance) và nhấn mạnh tới việc chuyển giao “kiến thức kỹ thuật” (technical knowledge) để bán sản phẩm hoặc dịch vụ đồng bộ và 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com có chất lượng. Luật sở hữu công nghiệp của Mêhicô có hiệu lực từ tháng 6/1991 quy định “NQTM tồn tại khi có sự chuyển giao kiến thức công nghệ hoặc hỗ trợ kỹ thuật để một người sản xuất, chế tạo hoặc bán sản phẩm, hoặc cung cấp dịch vụ đồng bộ với các phương pháp vận hành (operative methods), các hoạt động thương mại hoặc hành chính đã được chủ thương hiệu (brand owner) thiết lập, với chất lượng, danh tiếng, hình ảnh của sản phẩm hoặc dịch vụ đã tạo dựng được dưới thương hiệu đó.
Định nghĩa này phản ánh một phần quan điểm của Mêhicô là một nước đang phát triển có nhu cầu rất lớn trong việc nhập khẩu công nghệ và bí quyết kinh doanh từ nước ngoài. Tương tự như định nghĩa của EU, định nghĩa của Nga nhấn mạnh tới việc Bên nhượng chuyển giao một số quyền sở hữu trí tuệ độc quyền cho Bên nhận để đổi lấy những khoản phí nhất định mà không đề cập đến vai trò, nghĩa vụ của bên nhận và được thể hiện tại Chương 54, Bộ Luật dân sự Nga như sau “ Theo Hợp đồng NQTM, một bên (bên có quyền) phải cấp cho bên kia (bên sử dụng) quyền được sử dụng đối với dấu hiệu, chỉ dẫn thương mại, quyền đối với bí mật kinh doanh và các quyền độc quyền theo hợp đồng đối với các đối tượng khác như nhãn hiệu hàng hoá, nhãn hiệu dịch vụ …với một khoản thù lao và theo một thời hạn xác định”. Tất cả các định nghĩa về NQTM trên đây đều dựa trên quan điểm cụ thể của các nhà làm luật tại mỗi quốc gia. Tuy nhiên, có thể nhận thấy rằng các điểm chung trong tất cả những định nghĩa này là việc một Bên nhận phân phối sản phẩm hoặc dịch vụ dưới nhãn hiệu hàng hoá, các đối tượng khác của quyền sở hữu trí tuệ và hệ thống kinh doanh đồng bộ do một bên khác (Bên nhượng) phát triển và sở hữu.
Để được phép làm việc này, bên nhận phải trả phí và chấp nhận một số hạn chế do bên nhượng quy định. Theo quan điểm của Việt Nam, tại mục 8, chương VI, Luật Thương mại (sửa đổi) được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2005, NQTM được định nghĩa “là hoạt động thương mại, theo 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đó bên nhượng quyền cho phép và yêu cầu bên nhận quyền tự mình tiến hành việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ theo các điều kiện sau đây: - Việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ được tiến hành theo cách thức tổ chức kinh doanh do bên nhượng quyền quy định và được gắn với nhãn hiệu hàng hoá, tên thương mại, bí quyết kinh doanh, khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, quảng cáo của bên nhượng quyền. - Bên nhượng quyền có quyền kiểm soát và trợ giúp cho bên nhận quyền trong việc điều hành công việc kinh doanh”. Định nghĩa này được xây dựng với mục đích xác định rõ phạm vi điều chỉnh hoạt động NQTM, trách nhiệm và nghĩa vụ của Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền ….và tương đối phù hợp với định nghĩa về NQTM của Hiệp hội NQTM quốc tế và của Liên minh châu Âu EU.
Đặc điểm của hoạt động NQTM: Theo quy định của Luật Thương mại Việt Nam năm 2005, có thể thấy rõ rằng về bản chất NQTM là “một hoạt động thƣơng mại”, trong đó bên nhượng quyền sẽ chuyển giao quyền sử dụng đối tượng nhượng quyền cho bên nhận quyền. Bên nhận quyền sau khi ký hợp đồng nhượng quyền (UFOC) được phép khai thác kinh doanh trên một không gian địa lý nhất định và phải trả một khoản phí chuyển nhượng cũng như tỷ lệ phần trăm doanh thu định kỳ cho bên nhượng quyền trong một khoảng thời gian nhất định. Điểm đặc trưng của hoạt động NQTM là tạo nên một mối quan hệ hợp tác cùng có lợi giữa bên nhượng quyền và bên nhận quyền trong việc cùng khai thác giá trị thương mại các đối tượng NQTM của bên nhượng quyền nhưng lại hoàn toàn riêng rẽ độc lập, không phụ thuộc nhau về mặt pháp lý và tài chính. Nói cách khác, NQTM là hoạt động thể hiện mối quan hệ hợp tác cả phụ thuộc lẫn bình đẳng, độc lập.
NQTM là quan hệ phụ thuộc khi xem xét dưới góc độ là các sản phẩm, dịch vụ được phân phối từ Bên nhượng quyền đến Bên nhận quyền rồi đến người tiêu dùng; Quan hệ 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NQTM là quan hệ bình đẳng khi xem xét dưới góc độ pháp lý, tài chính với nghĩa là các bên nhận quyền và bên nhượng quyền là các chủ thể độc lập với nhau về mặt pháp lý và tài chính, có sự cạnh tranh với nhau (và cạnh tranh cả với Bên nhượng quyền) ở cùng một cấp độ cạnh tranh trong việc đưa sản phẩm, dịch vụ đến người tiêu dùng. Sự khác biệt cơ bản giữa Bên nhượng quyền và Bên nhận quyền Điểm khác biệt Bên nhƣợng quyền Bên nhận quyền I- Sự khác biệt cơ - Sở hữu thương hiệu; - Được cấp giấy phép sử bản dụng thương hiệu; - Cung cấp hỗ trợ (đào - Điều hành cửa hàng tạo, quảng cáo, tiếp thị); với sự giúp đỡ của chủ - Nhận phí nhượng thương hiệu; quyền. - Trả phí nhượng quyền. II- Chức năng, nhiệm vụ: 1.
Chọn mặt bằng Hỗ trợ Chọn với sự đồng ý của chủ thương hiệu 2. Thiết kế Cung cấp mẫu thiết kế Áp dụng mẫu thiết kế trả phí 3. Nhân viên Giới thiệu hỗ trợ Tuyển dụng, giám sát, điều hành 4. Thực đơn Xây dựng, quy định Thay đổi khi được chấp thuận 5.
Giá Đề nghị tư vấn Quyết định 6. Nguồn cung cấp Có thể yêu cầu Bên Phối hợp, tuân theo nhận quyền mua hàng của mình hoặc mua theo chỉ định nguồn cung cấp cho hệ thống NQTM 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoặc yêu cầu theo các tiêu chuẩn nhất định. Quảng cáo Thiết kế chương trình, Trả phí quảng cáo. Phải yêu cầu đóng góp được chấp thuận 8.
Kiểm soát chất Xây dựng tiêu chuẩn.