phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm 4 chƣơng: CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Văn học từ tiếp cận xã hội học 1.2 Vấn đề căn tính – căn tính dân tộc 1.2 Cơ sở thực tiễn 1.1 Văn học di dân Việt Nam – cái nhìn toàn cảnh 1.2 Các tác giả di dân gốc Việt – những gƣơng mặt đại diện CHƢƠNG 2: VẤN ĐỀ CĂN TÍNH NHÌN TỪ KIỂU NHÂN VẬT KHÔNG CỘI RỄ 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1 Hiện tƣợng con ngƣời mất cội rễ 2.2 Các biểu hiện của kiểu nhân vật không cội rễ 2.1 Nhân vật mập mờ về lai lịch, hoàn cảnh xuất than 2.2 Nhân vật với những chấn thƣơng tinh thần của chiến tranh 2.3 Nhân vật nổi loạn 2.3 Nhân vật không cội rễ và niềm hoài niệm cố hƣơng CHƢƠNG 3: VẤN ĐỀ CĂN TÍNH NHÌN TỪ SỰ LAI GHÉP CĂN TÍNH VĂN HOÁ 3.1 Sự trình hiện của căn tính văn hoá Việt Nam 3.1 Căn tính Việt Nam qua mối quan hệ gia đình 3.2 Căn tính Việt Nam qua phong tục tập quán 3.3 Căn tính Việt Nam qua tính địa phƣơng 3.2 Sự trình hiện của văn hoá ngoại lai 3.3 Sự kiến tạo căn tính văn hoá mới CHƢƠNG 4: VẤN ĐỀ CĂN TÍNHTRÊN PHƢƠNG DIỆN HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT 4.1 Sự hiện đại hoá phƣơng thức trần thuật 4.1 Xu hƣớng cá nhân hoá điểm nhìn trần thuật 4.2 Kết cấu phức hợp và sự lồng ghép các thể loại 4.3 Giọng điệu vô âm sắc 4.2 Ngôn ngữ nhƣ một phạm trù của căn tính dân tộc 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN Trƣớc khi đi vào những khảo sát cụ thể về nội dung đề tài, chúng tôi muốn xác lập khung lí thuyết, đồng thời định nghĩa một số khái niệm cơ bản đƣợc sử dụng trong luận văn. Có hai vấn đề lý thuyết mà chúng tôi xem nhƣ cơ sở nền tảng ở đây là phƣơng pháp xã hội học trong nghiên cứu văn học và vấn đề căn tính cùng các khái niệm liên quan. Phƣơng pháp xã hội học (cùng với phƣơng pháp tâm lý học) trong nghiên cứu văn học vốn đã không còn xa lạ với giới nghiên cứu nói chung. Tuy nhiên, việc đi đến lựa chọn phƣơng pháp nào trong hai phƣơng pháp có quan điểm tƣơng đối trái ngƣợc này phụ thuộc vào mục đích của từng nghiên cứu.
Nếu nhƣ Phân tâm học đặt yếu tố cá nhân ngƣời nghệ sĩ với những ẩn ức tâm lý từ bên trong lên trên đầu để đi đến giải mã thông điệp của tác phẩm thì Xã hội học quan niệm tác giả cũng nhƣ tác phẩm đều là một sản phẩm của xã hội, do ý thức hệ và các chuẩn mực văn hoá, chính trị của xã hội quy định. Đến nay, cả hai phƣơng pháp này vẫn đƣợc giới nghiên cứu văn học áp dụng nhƣ những công cụ quan trọng của nghiên cứu.Mỗi phƣơng pháp, bên cạnh những ƣu điểm không thể phủ nhận cũng bộc lộ những hạn chế, cực đoan nhất định trên phƣơng diện nào đó. Công việc trƣớc tiên của ngƣời nghiên cứu là đƣa ra những kiến giải hợp lí về việc tại sao lựa chọn phƣơng pháp nào và tiếp thu quan điểm của mỗi phƣơng pháp ở mức độ nào để kết quả nghiên cứu phản ánh khách quan và chính xác nhất vấn đề đặt ra. Cùng với phƣơng pháp đọc xã hội học, các khái niệm về “căn tính”, “căn tính dân tộc”, “căn tính văn hoá” cũng đƣợc nhắc đến tƣơng đối nhiều trong những năm gần đây trên các diễn đàn văn học nghệ thuật.
Việc xác định một căn tính đến nay, thƣờng đƣợc các nhà nghiên cứu đặt trong bối cảnh của cá nhân với cộng đồng, dân tộc. Căn tính (identity) trƣớc hết là một dấu chỉ để phân biệt giữa ngƣời với ngƣời, nhóm ngƣời với nhóm ngƣời và thông qua đó, chúng ta có cái nhìn xuyên suốt hơn về quá trình hình thành, phát triển của các cộng đồng, dân tộc. Đi tìm sự 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com biểu hiện cũng nhƣ quá trình diễn biến, thay đổi của căn tính trong sáng tác của các tác giả di dân gốc Việt đƣợc chúng tôi coi nhƣ nền tảng quan trọng nhất để hiểu và diễn giải đúng những tác phẩm xa xứ này. Bên cạnh đó, một số cơ sở thực tiễn nhƣ bối cảnh văn hoá, xã hội tạo điều kiện cho các cuộc di dân cũng nhƣ hoàn cảnh sống, sáng tác của những tác giả có tác phẩm đƣợc chọn để khảo sát, cũng là những yếu tố tiền đề cần phải điểm đến trƣớc khi thực hiện những phân tích chuyên sâu về đề tài.1 Văn học từ tiếp cận xã hội học Trong lịch sử, mối quan hệ giữa văn học và xã hội đã đƣợc đặt ra cũng nhƣ thu hút sự quan tâm từ rất lâu.
Thời cổ đại, Platon1 đã lần đầu bàn về vai trò của nhà thơ trong xã hội, đồng thời đi đến đánh giá những ảnh hƣởng trên phƣơng diện tích cực cũng nhƣ tiêu cực của văn học.Điều đó cho thấy, từ xa xƣa, các triết gia đã công nhận ảnh hƣởng của tác phẩm văn học đến tƣ tƣởng, tình cảm vànhận thức của con ngƣời. Trong những công trình nổi tiếng của mình nhƣ Ion và Nền cộng hoà, Platon đã nhận xét: các hình tƣợng thơ ca (trong thần thoại và ngụ ngôn) sẽ ảnh hƣởng nhất định đến cảm xúc, suy nghĩ và hành động của độc giả; cùng với nó, nghệ thuật ngôn từ có thể đóng vai trò quan trọng nhƣ một vũ khí chính trị trong việc điều hành và kiểm soát nhà nƣớc. Tuy nhiên, quan điểm của Platon vẫn hƣớng về tính phê phán thơ ca không phù hợp với lợi ích của xã hội mà nên chịu sự chỉ đạo của triết học.Đối thoại với quan điểm này của Platon là học trò của ông – Aristote2.Theo Aristote, thơ ca và văn xuôi đều có vai trò hết sức quan trọng trong đời sống xã hội. Thậm chí, ông còn cực đoan khi cho rằng thơ ca quan trọng hơn 1Platon (427-347 TCN) - nhà triết học cổ đại Hy Lạp đƣợc xem là thiên tài trên nhiều lĩnh vực, có nhiều ngƣời coi ông là triết gia vĩ đại nhất mọi thời đại.
2 Aristote (384 – 322 TCN) - nhà triết học và bác học thời Hy Lạp cổ đại, học trò của Platon và thầy dạy của Alexandros Đại đế. Ông đƣợc xem là ngƣời đặt nền móng cho môn luận lý học. Ông cũng thiết lập một phƣơng cách tiếp cận với triết học bắt đầu bằng quan sát và trải nghiệm trƣớc khi đi tới tƣ duy trừu tƣợng. Cùng với Platon và Socrates, Aristoteles là một trong ba cột trụ của văn minh Hy Lạp cổ đại.
18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lịch sử, bởi lịch sử chỉ ghi chép lại các sự kiện cụ thể đã diễn ra còn thơ ca có khả năng đề cập tới các sự kiện giống nhƣ thật. Ông cũng cho rằng, thơ ca và nghệ thuật nếu đƣợc định hƣớng và sử dụng đúng đắn sẽ có tác dụng không nhỏ trong việc điều tiết các mối quan hệ cá nhân và xã hội1. Hai quan niệm khác nhau của văn học và vai trò của nó trong đời sống xã hội vẫn song song tồn tại từ đó đến nay.Thực chất, đó là quan hệ có tính hai mặt, khi lịch sử văn học luôn biến đổi và phát triển không ngừng từ thể loại cho đến các hình thức biểu hiện. Trải qua các giai đoạn từ thời Hy La cổ đại tới thời Trung Cổ tới nền văn học Phục Hƣng, đến thế kỷ XVII, mối quan hệ giữa văn học và xã hội ngày càng phong phú hơn khi nhà văn đƣợc xã hội coi trọng nhƣ một nhân vật xã hội có vai trò tích cực.
Những thông điệp, tƣ tƣởng mà nhà văn thể hiện trong tác phẩm không nằm ngoài những vấn đề mà xã hội đang đặt ra và quan tâm.Đề tài, chủ đề và quan niệm nghệ thuật của tác giả không nằm ngoài thị hiếu của xã hội. Có nhiều định nghĩa về “xã hội học văn học” đã đƣợc giới nghiên cứu, trên cơ sở mối quan hệ giữa văn học và xã hội suốt nhiều thế kỷ đƣa ra. Tiêu biểu có thể kể đến định nghĩa của G. Trommsdorff trong cuốn Từ điển xã hội học, cho rằng: “Xã hội học văn học với tƣ cách một bộ môn xã hội học đặc thù, không phải là một ngành khoa học thống nhất về đối tƣợng, cách đặt vấn đề và phƣơng pháp.
(…) Nhƣ vậy, mỗi một quan sát khoa học về thi ca và văn học có thể xem nhƣ là xã hội học văn học, nếu nó quan tâm nghiên cứu chủ yếu đến ảnh hƣởng về xã hội lên văn học, nếu ngƣợc lại nó tìm hiểu tác động xã hội của văn học và nếu nó làm ta có thể nhận thức đƣợc những quan hệ phụ thuộc lẫn nhau này bằng một minh chứng có thể kiểm tra đƣợc”2.Theo đó, xã hội học văn học sẽ nghiên cứu quá trình hình thành, truyền tải và tiếp nhận tác phẩm cũng nhƣ tất cả những gì liên quan đến quá trình đó, trong một dòng thời gian liên tục vận động. Tính đặc trƣng của xã hội học là thiết lập và miêu tả mối quan hệ giữa xã hội và tác phẩm văn học, 1Tham khảo nguồn: http://www.vn/chuyen-muc-goc-nhin-van- hoa/nhung-goc-nhin-van-hoa/phac-thao-lich-su-hinh-thanh-xa-hoi-hoc-van-hoc 2 G. Trommsdorff, Từ điển xã hội học, (Nguỵ Hữu Tâm và Nguyễn Hoài Bão dịch từ nguyên bản tiếng Đức), Nxb Thế giới, 2002, trang 858 – 859. 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com theo chiều xã hội có trƣớc tác phẩm nên sẽ chi phối tới sự trình hiện của tác phẩm.
Đồng thời, tác phẩm phản ánh xã hội nên ngƣời đọc sẽ dễ tìm thấy hình ảnh tồn tại của xã hội trong tác phẩm.Theo quan điểm của các tác giả trong công trình Lí luận văn học (Nxb Giáo dục, Tái bản lần thứ 2, 1996), “nội dung của tác phẩm bắt nguồn từ mối quan hệ giữa văn học với hiện thực. Đó là một quan hệ nhất định của con ngƣời đối với hiện tƣợng đời sống đã đƣợc phản ánh. Đó vừa là cuộc sống đƣợc ý thức, vừa là sự ý thức cảm xúc – đánh giá đối với cuộc sống đó. Nói cách khác, nội dung tác phẩm văn học là một thể thống nhất giữa khách quan và chủ quan, trong đó có phần nhà văn khái quát, tái hiện đời sống khách quan vừa có phần bắt nguồn từ cảm xúc, huyết mạch, lí tƣởng của tác giả”1.
Nhà văn, với tƣ cách chủ thể sáng tạo của tác phẩm sẽ vừa bị chi phối bởi thế giới khách quan, vừa có xu hƣớng kháng cự lại ý thức hệ do xã hội áp đặt bằng cách thoát ra khỏi nó, để nói lên cái nhìn, quan điểm của riêng mình.