Tổng quan luận án
Văn chương khoa cử giữ vai trò hạt nhân trong nền giáo dục và tuyển chọn quan lại của các triều đại quân chủ Việt Nam. Tuy nhiên, trong lịch sử nghiên cứu học thuật, các công trình về thể chế khoa cử chiếm số lượng áp đảo so với các công trình nghiên cứu trực tiếp về văn chương khoa cử. Bên cạnh đó, ở thời kỳ hiện đại, do sự đứt gãy về mặt văn hóa và chữ viết Hán Nôm, văn chương khoa cử thường bị nhìn nhận giản đơn là khuôn sáo, gò bó, ít giá trị nghệ thuật hoặc tiêu biểu cho sự lạc hậu của chế độ phong kiến. Luận án tiến sĩ Hán Nôm Văn chương khoa cử trong thi Hội, thi Đình triều Nguyễn của nghiên cứu sinh Đinh Thanh Hiếu (người hướng dẫn khoa học: GS. Trần Ngọc Vương, bảo vệ năm 2018 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội) được thực hiện nhằm bổ khuyết khoảng trống này, phục dựng diện mạo học thuật và văn thể khoa cử của triều đại quân chủ cuối cùng ở Việt Nam.
Mục tiêu khoa học của luận án được xác định rõ:
- Trực tiếp khảo sát, kiểm kê và xử lý nguồn tư liệu văn bản Hán Nôm các bài thi đại khoa (thi Hội và thi Đình trong khoa thi Tiến sĩ) triều Nguyễn hiện còn lưu trữ.
- Làm rõ "tứ trường văn thể" (gồm kinh nghĩa, văn sách, thơ phú, "tứ lục" với tám thể văn cụ thể: kinh nghĩa, văn sách, thơ, phú, chiếu, chế, biểu, luận), phân tích hệ thống đề thi, quy chuẩn thể thức, phương pháp rèn tập và công dụng của từng thể văn.
- Đặt văn chương khoa cử trong mối quan hệ với thể chế chuyên chế và yêu cầu tuyển chọn quan chức theo phương châm "văn quan trị quốc" và "dĩ văn thủ sĩ".
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án bao gồm:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống văn bài thi Hội và thi Đình trong các khoa thi Tiến sĩ văn của triều Nguyễn còn được bảo tồn trong các văn bản Hán Nôm.
- Phạm vi nội dung: Tập trung khảo sát "tứ trường văn thể" truyền thống với tám thể văn từ triều Minh Mệnh đến triều Thành Thái. Các nội dung mới bổ sung trong giai đoạn cải lương khoa cử (1909–1919) dưới triều Duy Tân và Khải Định được đề cập ở mức độ tổng quát để bảo đảm tính hoàn chỉnh của diễn trình.
- Phạm vi tư liệu và không gian: Khảo sát nguồn văn bản Hán Nôm chép tay và khắc in hiện lưu trữ tập trung tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Quốc gia Việt Nam, Viện Văn học cùng các tư liệu gia phả, thi tập cá nhân.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử vấn đề trong luận án được phân định qua các nhóm ý kiến và công trình nghiên cứu chính:
Nhóm nhận xét, luận bàn về văn chương khoa cử:
- Các chí sĩ đầu thế kỷ XX: Xuất phát từ yêu cầu duy tân đất nước, các nhà khoa bảng như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp, Ngô Đức Kế, Phan Bội Châu đã lên tiếng phê phán sự bất cập của khoa cử. Cụ thể: Thân Trọng Huề dâng sớ năm 1903 xin bỏ thi Hội, thi Đình để chuyển sang làm và bảo vệ luận án; Văn minh tân học sách (1904) của Đông Kinh Nghĩa Thục đề nghị sửa đổi phép thi; Cao Xuân Dục dâng Sớ nghị (1905) xin bỏ chế nghĩa, phú để học tân thư; Ngô Đức Kế dâng Từ bẩm (1907) đề nghị bãi bỏ chế nghĩa, thơ phú, chiếu biểu, chỉ giữ lại văn sách và luận bàn thực học. Sau khi khoa cử bãi bỏ, Phan Khôi (1930) và Hoa Bằng (1943) viết bài nhìn nhận văn cử nghiệp thiên về tiểu xảo và phân biệt lối văn cử nghiệp với văn chương ngoài trường ốc.
- Các nhà nghiên cứu văn học cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI: Đặt văn chương khoa cử về đúng vị trí là bộ phận văn học chính thống của nhà Nho. Tiêu biểu là các nhận định của Trần Đình Hượu về chế độ tuyển quan định hình hệ thống thể loại văn thơ phú lục; Nguyễn Văn Thịnh nhấn mạnh quan niệm văn chương chính thống chi phối sáng tác cử nghiệp; Trần Nho Thìn khẳng định văn trường thi thuộc văn học cung đình và bồi dưỡng lực lượng sáng tác; Phan Ngọc phân tích mô hình tư duy thi cử trong các tập thơ văn chữ Hán; Trần Ngọc Vương đặt vấn đề nghiên cứu mỹ học của văn chương khoa cử truyền thống.
Các công trình nghiên cứu và sưu tầm văn thể khoa cử:
- Khảo sát văn thể theo thể loại: Phan Kế Bính (Việt Hán văn khảo, 1930), Bùi Kỵ (Quốc văn cụ thể, 1932), Bùi Văn Nguyên – Hà Minh Đức (Thơ ca Việt Nam – hình thức và thể loại, 1965), Trần Thị Kim Anh – Hoàng Hồng Cẩm (Các thể văn chữ Hán Việt Nam, 2010), Đinh Khắc Thuân (Giáo dục và khoa cử Nho học thời Lê ở Việt Nam qua tài liệu Hán Nôm, 2010).
- Nghiên cứu văn chương khoa cử chuyên biệt: Tùng Vân Nguyễn Đôn Phục (1925), Hoa Bằng (1942), Nguyễn Văn Thịnh (Bước đầu tìm hiểu văn chương khoa cử thời Lê sơ, Luận án 1996; Khoa cử và văn chương khoa cử Việt Nam thời trung đại, 2010), Tạ Đức Tú (Văn chương khoa cử Việt Nam, 2011 giới thiệu tập Văn hành lược thuật của Trương Vĩnh Ký).
- Nghiên cứu văn chương khoa cử triều Nguyễn: Đinh Thanh Hiếu (Bước đầu tìm hiểu văn sách Đình đối đời Nguyễn, Luận văn Thạc sĩ 2003); Phùng Minh Hiếu khảo sát kinh nghĩa bát cổ (2011); Bùi Anh Chưởng khảo sát thể luận thi Hội (2010); các bài viết của Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Minh Tường về bài văn sách của Vũ Phạm Hàm, Đào Nguyên Phổ, Vũ Duy Thanh.
- Sưu tầm và dịch thuật: Tuyển tập Văn sách thi Đình Thăng Long – Hà Nội (Nguyễn Văn Thịnh chủ trì, Đinh Thanh Hiếu, Phùng Minh Hiếu tham gia, 2010) dịch 18 bài văn sách của các tác giả Hà Nội; Phạm Văn Khoái công bố tư liệu khoa thi 1919; Nguyễn Thị Chân Quỳnh công bố văn bài thi Hội, thi Đình; cùng các bản dịch lẻ tẻ thơ văn thi cử của Phạm Văn Nghị, Trần Bích San, Nguyễn Quang Bích, Nguyễn Khuyến, Phan Đình Phùng.
- Sử dụng văn bài làm tư liệu lịch sử – tư tưởng: Phan Trọng Báu, Lê Thị Thanh Hoà, Trần Văn Giàu, Cao Xuân Huy, Phạm Thị Kim (1975), Nguyễn Thế Anh (1965).
- Nghiên cứu của học giả nước ngoài: Vương Tam Khánh (Đài Loan) khảo sát sách vấn của vua Tự Đức trong Thánh chế văn tam tập; Tôn Phúc Hiên (Trung Quốc) nghiên cứu thể phú qua bộ Hoàng Việt lịch khoa thi phú; Lưu Chí Cường nghiên cứu đặc sắc văn thể khoa cử triều Nguyễn; Trần Văn (Việt Nam khoa cử chế độ nghiên cứu, 2006, 2015).
Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết:
Các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào chế độ khoa cử hơn là văn chương khoa cử, hoặc chỉ khảo sát riêng lẻ thể văn sách Đình đối. Luận án của Đinh Thanh Hiếu là công trình đầu tiên khảo sát toàn diện, có hệ thống trên nguồn tư liệu gốc bao quát đầy đủ cả bốn trường văn thể (tám thể văn) của các kỳ thi Hội và thi Đình triều Nguyễn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án xây dựng cơ sở lý thuyết dựa trên quan niệm Nho gia truyền thống về "Văn" và "Văn thể":
- Khái niệm "Văn" có cội nguồn thiêng liêng từ "Đạo" và chức năng biểu hiện Đạo để giáo hóa xã hội (Văn tâm điêu long: "Đạo沿thánh dĩ thùy văn, thánh nhân văn nhi minh đạo"). Văn chương cử nghiệp là thứ văn chương quy phạm, tiếp cận văn chương kinh điển của thánh nhân, được nhà nước phong kiến dùng làm công cụ định lượng tài năng và phẩm chất của sĩ tử.
- Khái niệm "Văn thể" được tiếp cận ở hai tầng nghĩa: thứ nhất là thể tài văn chương với các dạng thức, kết cấu, quy chuẩn niêm luật được thể chế hóa thành "văn thức", "khoa trường văn thể"; thứ hai là ngữ thể, phong cách, khí thế của bài văn trường thi.
- Khung phân tích liên kết ba yếu tố: Thể chế chính trị Nho giáo ("văn trị", "văn quan trị quốc") $\rightarrow$ Tiêu chuẩn tuyển chọn quan lại ("thông tài") $\rightarrow$ Chuẩn mực kiểm tra, đánh giá qua kỹ pháp thể thức bài thi.
Nguồn dữ liệu và tư liệu gốc:
- Văn bản hành chính và chính sử: Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Đại Nam thực lục, Minh Mệnh chính yếu, Quốc triều khoa bảng lục, Quốc triều Hương khoa lục...
- Các tuyển tập văn bài thi chép tay và khắc in: Quốc triều Đình đối sách văn (VHv.318/1,2), Quốc triều Đình đối văn (VHv.329/1,2), Hội Đình văn tuyển, Lịch khoa Hội Đình văn tuyển, Đăng long sách tuyển (A.115/1,2), Hội thí văn (VHv.471/2), Long tuyển thí sách (VHv.319/1,2), Điện thí chế sách (VHv.477), Chiếu biểu phú hợp tuyển (VHv), cùng các tập thơ văn cá nhân và gia phả dòng họ.
Phương pháp nghiên cứu thực tế:
- Phương pháp ngữ văn học Hán Nôm: Phiên âm, dịch nghĩa, chú thích và minh giải các văn bài thi cử chữ Hán.
- Phương pháp văn bản học: Khảo sát, giám định, phân loại, so sánh dị bản và thống kê định lượng trữ lượng văn bài thi Hội, thi Đình hiện còn.
- Phương pháp từ chương học: Thẩm bình kết cấu, niêm luật, cú pháp, quy cách lập ý và đối ngẫu của từng thể văn cử nghiệp.
- Phương pháp so sánh lịch sử: Đối chiếu văn thể khoa cử triều Nguyễn với các triều đại Lý, Trần, Lê sơ, Lê Trung hưng và chế độ khoa cử Minh – Thanh (Trung Quốc).
- Phương pháp tiếp cận liên ngành: Đặt văn chương khoa cử trong mối liên hệ giữa văn học, thể chế giáo dục, lịch sử tư tưởng và văn hóa chính trị.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VÀ XÁC ĐỊNH NHỮNG LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU CHỦ YẾU CỦA LUẬN ÁN
Chương này tổng kết toàn diện lịch sử nghiên cứu văn chương khoa cử ở Việt Nam và quốc tế qua hai thời kỳ lớn (đầu thế kỷ XX và cuối thế kỷ XX – đầu thế kỷ XXI). Tác giả làm rõ các khái niệm công cụ, khẳng định văn chương khoa cử là loại văn chương chức năng đặc thù, lấy văn thể và thể thức làm trọng tâm khảo sát. Chương 1 xác lập bốn nhiệm vụ nghiên cứu: (1) Khảo sát văn bản học và thống kê trữ lượng văn bài thi Hội, thi Đình triều Nguyễn; (2) Làm rõ thể chế và diện mạo tổng thể của văn thể khoa cử đại khoa gắn với tiêu chí tuyển chọn nhân tài; (3) Khảo sát chuyên sâu trường kinh nghĩa và trường văn sách; (4) Khảo sát chuyên sâu trường thơ phú và trường tứ lục.
Chương 2. HỆ THỐNG VĂN BÀI THI HỘI, THI ĐÌNH TRIỀU NGUYỄN
Chương 2 tập trung khảo sát tình hình văn bản và thể chế văn thể khoa cử đại khoa triều Nguyễn. Nguồn văn bản được phân chia thành ba nhóm: tuyển tập bao quát nhiều khoa thi liên tiếp, tuyển tập theo từng khoa thi đơn lẻ (Hội Đình văn tuyển), và các văn bản chép tản mát trong gia phả, thi tập. Kết quả kiểm kê văn bản cho thấy trữ lượng văn bài thi đại khoa triều Nguyễn hiện còn rất phong phú:
| STT |
Thể văn |
Có tên tác giả |
Không có tên tác giả |
Đủ bài |
Trích lục |
Tổng cộng |
| 1 |
Kinh nghĩa |
79 |
108 |
153 |
34 |
187 |
| 2 |
Thơ |
28 |
27 |
48 |
7 |
55 |
| 3 |
Phú |
27 |
38 |
56 |
9 |
65 |
| 4 |
Chiếu |
20 |
23 |
37 |
6 |
43 |
| 5 |
Chế |
1 |
2 |
1 |
2 |
3 |
| 6 |
Biểu |
22 |
22 |
38 |
6 |
44 |
| 7 |
Luận |
44 |
15 |
59 |
0 |
59 |
| 8 |
Tấu sớ |
11 |
1 |
12 |
0 |
12 |
| 9 |
Văn sách thi Hội |
160 |
55 |
184 |
31 |
215 |
| 10 |
Văn sách thi Đình |
84 |
1 |
85 |
0 |
85 |
Về thể chế, kỳ thi Hương đầu tiên mở năm 1807 (Gia Long thứ 6), kỳ thi Hội đầu tiên mở năm 1822 (Minh Mệnh thứ 3). Năm 1825, triều đình định lệ ba năm một khoa thi (thi Hương năm Tý, Ngọ, Mão, Dậu; thi Hội năm Thìn, Tuất, Sửu, Mùi). Năm 1828 đổi danh xưng Hương cống thành Cử nhân, Sinh đồ thành Tú tài. Năm 1829 đặt thêm học vị Phó bảng và áp dụng thang điểm 10 phân. Thi Đình tổ chức tại cung điện (điện Cần Chánh, điện Khâm Văn), do nhà vua trực tiếp chuẩn định thứ bậc; triều Nguyễn không lấy đỗ Trạng nguyên, học vị cao nhất thực tế là Bảng nhãn.
Về văn thể thi Hội, diễn trình biến đổi qua ba giai đoạn:
- Giai đoạn Minh Mệnh – Thiệu Trị: Chuyển đổi từ định chế tứ trường sang tam trường theo mô hình Minh – Thanh từ năm Minh Mệnh 13 (1832/1835). Trường 1 thi kinh nghĩa bát cổ; Trường 2 thi thơ ngũ ngôn bài luật và phú luật; Trường 3 thi văn sách theo lối Trạng nguyên sách. Năm 1833, vua Minh Mệnh ban hành 31 bộ văn mẫu chuẩn của Bắc triều do Phan Bá Đạt chủ trì sao lục.
- Giai đoạn Tự Đức – Thành Thái: Duy trì quy chuẩn tam trường, chú trọng văn phong điển nhã, kết hợp kiểm tra năng lực trước thuật và thực tế chính trị.
- Giai đoạn Duy Tân – Khải Định (1909–1919): Cải lương khoa cử, đưa chữ Quốc ngữ, toán pháp, luận kim thời vào khoa trường trước khi chính thức bãi bỏ khoa cử Nho học vào năm 1919.
Chương 3. TRƯỜNG KINH NGHĨA VÀ TRƯỜNG VĂN SÁCH
Chương 3 phân tích hai thể văn chuyên biệt mang tính lý thuyết và chính sách của khoa cử:
- Trường kinh nghĩa: Khảo sát thể văn chế nghĩa bát cổ trong thi Hội triều Nguyễn. Đề thi ra trong Ngũ kinh và Tứ thư theo các cách thức: tiệt hạ, tiệt thượng hạ, phân giảng, hấp hạ, kính hoa thủy nguyệt. Kết cấu một bài bát cổ gồm các phần nghiêm ngặt: Phá đề, Thừa đề, Khởi giảng, Nhập thủ, Khởi cổ, Trung cổ, Hậu cổ, Thúc cổ và Kết thúc (Đại kết). Sĩ tử phải đại ngôn cho thánh hiền, tuân theo chú giải của Trình Di, Chu Hy. Công dụng của trường kinh nghĩa là khảo sát mức độ thấu triệt kinh điển Nho gia và khả năng tư duy logic quy phạm.
- Trường văn sách:
- Văn sách thi Hội: Thí sinh làm một bài đối sách trường thiên (độ dài trên 1600 chữ) trả lời đạo văn sách do quan trường ra đề, bao quát các vấn đề lý luận kinh điển và lịch sử trị loạn.
- Văn sách thi Đình: Thí sinh trả lời bài chế sách do chính Hoàng đế ngự chế ra đề. Kết cấu bài đối sách gồm phần mở đầu (tạ ơn, tôn kính thiên tử), phần thân bài (lần lượt đối đáp các điều sách vấn về đạo trị nước, quốc kế dân sinh, quân sự, ngoại giao, chấn hưng phong tục), và phần kết bài (bày tỏ lòng trung thành, khiêm nhường). Văn sách Đình đối là thước đo cao nhất về tầm nhìn chiến lược, mưu lược trị quốc và bản lĩnh chính trị của bậc đại khoa.
Chương 4. TRƯỜNG THƠ PHÚ VÀ TRƯỜNG “TỨ LỤC”
Chương 4 khảo sát các thể tài kiểm tra năng lực từ chương và kỹ năng soạn thảo văn bản hành chính:
- Trường thơ phú:
- Thơ thi Hội: Quy định sử dụng thể ngũ ngôn bài luật (hạn 6 hoặc 8 vần), đòi hỏi niêm luật nghiêm ngặt, đối ngẫu chặt chẽ, từ ngữ đoan chính, tao nhã.
- Phú thi Hội: Sử dụng thể luật phú bát vận (hạn 300 chữ trở lên), gieo vần theo quy định, đề tài thường vịnh cảnh vật, nhân vật lịch sử, ca ngợi cảnh thái bình thịnh trị.
- Công dụng: Đánh giá khiếu thẩm mỹ, tài hoa ngôn từ và cốt cách văn hóa của kẻ sĩ.
- Trường tứ lục:
- Khảo sát bốn thể văn hành chính biền ngẫu: Chiếu (lời vua ban bố đại sự), Chế (mệnh lệnh phong thưởng quan tước), Biểu (lời bầy tôi dâng mừng, tạ ơn vua), Luận (nghị luận về một sự kiện lịch sử hoặc đạo lý).
- Kết cấu sử dụng lối văn biền ngẫu câu bốn chữ xen sáu chữ (tứ - lục), hiệp vần và đối ngẫu đối xứng, dẫn dụng điển tích uyên bác.
- Công dụng: Rèn tập và kiểm tra trực tiếp kỹ năng soạn thảo văn kiện quốc gia, bảo đảm quan lại khi được bổ nhiệm có thể đảm đương công việc thư ký, hành chính trong bộ máy triều đình.
Kết quả và những đóng góp mới
- Tổng quan lịch sử nghiên cứu: Hệ thống hóa toàn diện các giai đoạn tiếp cận văn chương khoa cử Việt Nam từ góc độ tiếp cận văn bản học và thể loại văn học.
- Khảo sát và xác lập trữ lượng tư liệu văn bản: Thống kê, giám định và xác lập danh mục hơn 700 đơn vị văn bài thi Hội và thi Đình triều Nguyễn hiện còn (gồm 187 bài kinh nghĩa, 55 bài thơ, 65 bài phú, 43 bài chiếu, 3 bài chế, 44 bài biểu, 59 bài luận, 12 bài tấu sớ, 215 bài văn sách thi Hội, 85 bài văn sách thi Đình), chứng minh độ tin cậy và sự thống nhất nội dung của các truyền bản Hán Nôm.
- Phục dựng toàn diện diện mạo "tứ trường văn thể": Làm rõ quy chuẩn cấu trúc, nghệ thuật thể thức, phương thức ra đề, quá trình rèn tập cử nghiệp của toàn bộ tám thể văn (kinh nghĩa bát cổ, văn sách, thơ ngũ ngôn bài luật, luật phú, chiếu, chế, biểu, luận) trong thi Hội và thi Đình triều Nguyễn.
- Làm rõ bản chất chức năng của văn chương cử nghiệp: Luận giải khoa học về tính hợp lý tự thân của văn chương khoa cử; chứng minh đây là công cụ chuẩn mực của chế độ phong kiến nhằm tuyển chọn mẫu hình quan lại "thông tài", kết hợp giữa đạo đức Nho gia, năng lực từ chương và kỹ năng quản trị hành chính.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Do nguồn tư liệu Hán Nôm tản mát trong các gia phả dòng họ và thi tập cá nhân ở nhiều địa phương, luận án chưa thể bao quát triệt để mọi bản chép tay ngoài các kho lưu trữ trọng điểm tại Hà Nội. Đối với giai đoạn cải lương khoa cử (1909–1919), luận án mới dừng lại ở mức độ phác thảo diện mạo tổng thể mà chưa đi sâu giải mã chi tiết các bài luận chữ Quốc ngữ và đề thi môn mới.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng công tác sưu tầm, dịch thuật toàn bộ các văn bài thi Hội còn lại; tiến hành so sánh đối chiếu sâu hơn giữa văn thể cử nghiệp triều Nguyễn với văn thể khoa cử triều Lê và khoa cử hai triều Minh – Thanh (Trung Quốc).
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh và giảng viên ngành Hán Nôm, Văn học trung đại: Cung cấp hệ thống văn bản, danh mục tư liệu và phương pháp thẩm bình các thể văn chức năng cổ (bát cổ, văn sách, tứ lục, luật phú).
- Đối với giới nghiên cứu Lịch sử và Văn hóa: Cung cấp bức tranh chân thực về nền giáo dục, phương thức đào tạo và hệ tiêu chuẩn khảo thí nhân tài của vương triều Nguyễn trong thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX.
- Đối với người làm chính sách giáo dục: Cung cấp góc nhìn lịch sử về mối quan hệ giữa nội dung khảo thí, chuẩn mực đánh giá và mục tiêu đào tạo đội ngũ công chức trong bộ máy quản lý nhà nước.
Câu hỏi thường gặp
1. Trữ lượng văn bản văn bài thi Hội và thi Đình triều Nguyễn được luận án thống kê cụ thể là bao nhiêu?
Theo thống kê tại các kho lưu trữ lớn (Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Thư viện Quốc gia Việt Nam), luận án xác định được 187 bài kinh nghĩa, 55 bài thơ, 65 bài phú, 43 bài chiếu, 3 bài chế, 44 bài biểu, 59 bài luận, 12 bài tấu sớ, 215 bài văn sách thi Hội và 85 bài văn sách thi Đình.
2. Cải cách khoa cử năm Minh Mệnh thứ 13 (1832) đã thay đổi cơ cấu văn thể thi Hội như thế nào?
Triều Nguyễn đã chuyển từ định chế tứ trường truyền thống sang định chế tam trường theo mô hình Minh – Thanh: Trường 1 thi kinh nghĩa theo thể văn bát cổ; Trường 2 thi thơ ngũ ngôn bài luật và luật phú bát vận; Trường 3 thi một bài văn sách trường thiên theo lối Trạng nguyên sách; trút bỏ trường thi văn tứ lục (chỉ giữ lại ở kỳ phúc hạch thi Hương).
3. Thể văn bát cổ (chế nghĩa) trong trường kinh nghĩa triều Nguyễn có cấu trúc bắt buộc gồm những phần nào?
Một bài văn bát cổ gồm chín phần theo trình tự quy chuẩn: Phá đề (2 câu mở ý), Thừa đề (3-4 câu tiếp nối), Khởi giảng (lời dẫn giải chung), Nhập thủ (chuyển tiếp vào bài), Khởi cổ (cặp vế đối thứ nhất), Trung cổ (cặp vế đối thứ hai, trọng tâm), Hậu cổ (cặp vế đối thứ ba), Thúc cổ (cặp vế đối thứ tư, thu tóm ý) và Kết thúc hay Đại kết (kết luận bài văn).
4. Vì sao trong lịch sử khoa cử triều Nguyễn không có ai đỗ học vị Trạng nguyên?
Quy chế thi Đình triều Nguyễn quy định thí sinh phải đạt điểm tuyệt đối (10 phân) bài văn sách Đình đối mới được lấy đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ Đệ nhất danh (Trạng nguyên). Qua các khoa thi, không có quyển thi nào đạt thang điểm này, do đó học vị cao nhất thực tế trao cho các thí sinh đỗ đầu là Bảng nhãn (Đệ nhất giáp Đệ nhị danh) và Thám hoa (Đệ nhất giáp Đệ tam danh).
5. Điểm khác biệt căn bản giữa văn sách thi Hội và văn sách thi Đình là gì?
Văn sách thi Hội (văn sách đạo) do các quan trường ra đề, tập trung khảo sát kiến thức kinh sử và lý thuyết trị đạo tổng quát; văn sách thi Đình (chế sách) do chính Hoàng đế ra đề và ngự duyệt, tập trung chất vấn trực tiếp các vấn đề thời sự cấp bách về chính trị, quốc kế dân sinh, quân sự và ngoại giao, nhằm phân định thứ bậc đỗ đạt của các tân Tiến sĩ.
Kết luận
Luận án Văn chương khoa cử trong thi Hội, thi Đình triều Nguyễn của Đinh Thanh Hiếu là công trình nghiên cứu chuyên khảo về văn bản và văn thể khoa cử đại khoa triều Nguyễn. Thông qua việc xử lý trực tiếp nguồn tư liệu Hán Nôm phong phú, tác giả đã phục dựng thành công cấu trúc, quy cách và công dụng của tám thể văn trong "tứ trường văn thể" truyền thống. Công trình khẳng định vị thế của văn chương khoa cử như một thành tố cốt lõi trong nền học thuật trung đại, phản ánh trực tiếp cơ chế đào tạo và tuyển dụng quan chức của nhà nước quân chủ Việt Nam thế kỷ XIX.