Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ luật học "Vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam" do nghiên cứu sinh Trần Hoài Nam thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Tuấn Khải, bảo vệ tại Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2017 (Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật; Mã số: 62 38 01 01).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (NNPQXHCN) theo tinh thần Hiến pháp năm 2013, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật giữ vai trò nền tảng. Thực tiễn lập pháp tại Việt Nam cho thấy Chính phủ là cơ quan trình khoảng 90% tổng số các dự án luật, pháp lệnh trước Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH). Tuy nhiên, tồn tại hai luồng quan điểm trái chiều: một phía cho rằng Quốc hội thực hiện quyền lập pháp thì phải trực tiếp soạn thảo toàn bộ văn bản để tránh tình trạng cục bộ ngành; phía khác khẳng định việc chuẩn bị dự án luật thuộc chức năng tự nhiên của nhánh hành pháp, còn Quốc hội tập trung vào thẩm tra, phản biện và quyết định thông qua.
Bên cạnh các kết quả đạt được, hoạt động soạn thảo dự án luật, pháp lệnh của Chính phủ còn bộc lộ hạn chế: nhiều văn bản chỉ dừng lại ở dạng "luật khung", tình trạng chậm tiến độ trình dự án, hoặc văn bản vừa ban hành đã phải sửa đổi, bổ sung do thiếu tính khả thi. Việc Quốc hội thông qua Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) năm 2015 đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện về cơ sở lý luận, phương diện thể chế và trách nhiệm chính trị - pháp lý của Chính phủ trong quy trình lập pháp.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh trong điều kiện xây dựng NNPQXHCN ở Việt Nam; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động này.
Để đạt được mục tiêu nêu trên, luận án xác định 6 nhiệm vụ cụ thể:
- Làm rõ quan niệm về NNPQ và sự phát triển nhận thức về NNPQXHCN Việt Nam, xác định các yêu cầu đối với Chính phủ trong xây dựng pháp luật.
- Nghiên cứu bản chất của Chính phủ và mối quan hệ giữa Chính phủ với Quốc hội trong cơ chế phân công, phối hợp và kiểm soát quyền lực nhà nước đối với hoạt động lập pháp.
- Phân tích cơ sở lý luận về việc đề cao vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh.
- Phân tích kinh nghiệm quốc tế về vai trò, trách nhiệm của cơ quan hành pháp trong hoạt động lập pháp.
- Đánh giá thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực hiện vai trò, trách nhiệm của Chính phủ trong xây dựng dự án luật, pháp lệnh; chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
- Đề xuất quan điểm và hệ thống giải pháp nâng cao vai trò, trách nhiệm của Chính phủ trong giai đoạn mới.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cơ sở lý luận về NNPQXHCN và vị trí của Chính phủ trong bộ máy nhà nước; các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh của Chính phủ Việt Nam; kinh nghiệm lập pháp của một số quốc gia.
- Phạm vi nghiên cứu: Luận án tập trung vào hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh do Chính phủ chuẩn bị để trình Quốc hội, UBTVQH. Tư liệu và thực tiễn khảo sát tập trung chủ yếu từ sau Hiến pháp năm 1992 đến thời điểm nghiên cứu (năm 2017), gắn liền với việc thi hành Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 và Luật Ban hành VBQPPL năm 2015.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tổng hợp và phân loại các công trình nghiên cứu tiền nhiệm theo các nhóm nội dung:
Các công trình nghiên cứu trong nước
- Luận án tiến sĩ: Luận án của NCS Trần Quốc Bình (2011) về vai trò của Chính phủ trong quy trình lập pháp; NCS Lê Văn Hòe (1995) về nâng cao chất lượng hoạt động lập pháp theo định hướng NNPQ; NCS Trần Hồng Nguyên (2007) về chất lượng hoạt động lập pháp của Quốc hội; NCS Nguyễn Đình Hào (2011) về quyền lập quy của Chính phủ; NCS Hoàng Văn Tú (2004) về hoàn thiện quy trình lập pháp; NCS Đỗ Ngọc Hải (2003) về tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong hoạt động lập pháp, lập quy.
- Đề tài nghiên cứu khoa học: Đề tài cấp nhà nước KHXH 05 do GS. Đào Trí Úc làm chủ nhiệm; Đề tài cấp bộ CT11-16-03 của Viện Nhà nước và Pháp luật do PGS. Nguyễn Thị Việt Hương làm chủ nhiệm; Đề tài cấp bộ năm 2012 của Bộ Tư pháp do TS. Lê Thành Long làm chủ nhiệm; Chương trình khoa học cấp nhà nước KX.04 do GS. Nguyễn Duy Quý làm chủ nhiệm (gồm các đề tài nhánh KX 04.02 của GS. Đào Trí Úc, KX 04.04 của GS. Trần Ngọc Đường, KX 04.05 của TS. Vũ Đức Khiển); Đề tài cấp bộ năm 2001 của Văn phòng Quốc hội do ông Vũ Mão làm chủ nhiệm; Đề tài năm 2006 của Văn phòng Chính phủ và các đề tài của Bộ Tư pháp.
- Sách chuyên khảo: "Chính phủ trong Nhà nước pháp quyền" (2008) và "Sự hạn chế quyền lực nhà nước" (2005) của PGS. Nguyễn Đăng Dung; "Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa" (2011) của PGS. Nguyễn Minh Đoan; "Mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, Chính phủ trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam" (2008) của GS. Trần Ngọc Đường và TS. Ngô Đức Mạnh; "Đổi mới và hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội" (2004) của Văn phòng Quốc hội; "Đổi mới, hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam hiện nay" (2011) của PGS. Lê Minh Thông.
- Báo cáo và bài viết khoa học: Báo cáo thực trạng phân tích chính sách trong quá trình xây dựng luật của Viện Khoa học Pháp lý (2014); Báo cáo số 06b/BC-BTP (2014) tổng kết thi hành Luật Ban hành VBQPPL năm 2008; các bài viết của GS. Phạm Hồng Thái, GS. Lê Minh Tâm, PGS. Phạm Hữu Nghị, PGS. Bùi Xuân Đức, PGS. Lương Thanh Cường, TS. Nguyễn Sỹ Dũng, TS. Phạm Tuấn Khải, ThS. Nguyễn Phước Thọ.
Tài liệu nghiên cứu nước ngoài và kinh nghiệm quốc tế
- Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu pháp luật về ban hành văn bản pháp luật nước ngoài của Bộ Tư pháp (nghiên cứu quy trình lập pháp của Canada, Nhật Bản, Trung Quốc, Lào, Gruzia, Azerbaijan, Kyrgyzstan, Uganda, Kenya).
- Công trình dịch thuật và chuyên khảo: "Soạn thảo Luật pháp vì tiến bộ xã hội dân chủ" của Ann Seidman, Robert B. Seidman, Nalin Abeyesekere; "Đổi mới hoạt động của Chính phủ" của David Osborne và Ted Gaebler; "Những vấn đề cơ bản của luật pháp Mỹ" của Alan B. Morrison; "Nền dân trị Mỹ" của Alexis de Tocqueville; "Quốc hội và các thành viên" của Roger H. Davidson; "Các mô hình quản lý nhà nước hiện đại" của David Held; "Quá trình lập pháp: Một cách nhìn so sánh" của David M. Olson; các ấn phẩm lập pháp tiếng Anh của Michael Zander (2004), G. Thornton (2006), Ian McLeod (2009), Robert U. Goehlert & Fenton S. Martin (1980).
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| KHOẢNG TRỐNG KHOA HỌC LUẬN ÁN GIẢI QUYẾT |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
| 1. Phần lớn các công trình trước đây hoàn thành trước khi ban hành Hiến pháp 2013 |
| và Luật Ban hành VBQPPL 2015, chưa cập nhật khung khổ pháp lý mới. |
| 2. Chưa làm rõ trách nhiệm chính trị - pháp lý của Chính phủ đối với chất lượng |
| và tính khả thi của hệ thống chính sách, đạo luật. |
| 3. Chưa phân định rõ ràng giữa giai đoạn hoạch định chính sách độc lập và quy |
| trình kỹ thuật soạn thảo văn bản luật, pháp lệnh. |
+-----------------------------------------------------------------------------------+
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết
- Hệ tư tưởng và lý luận nền tảng: Chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về xây dựng NNPQXHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; nguyên tắc quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.
- Khung lý thuyết chuyên ngành:
- Lý thuyết Nhà nước pháp quyền: Tính tối thượng của Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm quyền con người, trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền.
- Lý thuyết phân chia quyền lực và hành chính công hiện đại: Học thuyết phân quyền (Montesquieu), lý thuyết về "Chính phủ xúc tác/điều tiết" (Osborne & Gaebler, Morrison) và vai trò hoạch định chính sách quốc gia của nhánh hành pháp (Davidson).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và phân tích dữ liệu văn bản:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Sử dụng xuyên suốt toàn bộ luận án để mổ xẻ các khái niệm, quy định pháp luật và đánh giá các quan điểm khoa học.
- Phương pháp phân tích thống kê: Xử lý và lượng hóa dữ liệu về số lượng dự án luật, pháp lệnh do Chính phủ trình Quốc hội, tỷ lệ thông qua, cơ cấu nguồn gốc sáng kiến pháp luật.
- Phương pháp lịch sử cụ thể: Khảo cứu tiến trình phát triển quy định về thẩm quyền, trách nhiệm lập pháp của Chính phủ qua các bản Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992, 2013).
- Phương pháp luật học so sánh: Đối chiếu mô hình tổ chức, quy trình lập pháp và mức độ tham gia của chính phủ tại các quốc gia theo chính thể đại nghị, tổng thống và hỗn hợp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết của Đề tài
Chương 1 hệ thống hóa các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến NNPQ, thiết chế Chính phủ và quy trình xây dựng pháp luật. Tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây thường tiếp cận hoạt động lập pháp thuần túy dưới góc độ cơ quan dân cử hoặc xem hành pháp chỉ là cơ quan chấp hành thụ động. Chương này xác lập khung lý thuyết khẳng định Chính phủ trong nhà nước hiện đại là trung tâm hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội, từ đó việc nắm giữ sáng quyền lập pháp và chuẩn bị dự án luật là tất yếu khách quan.
Chương 2: Cơ sở lý luận về vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Chương 2 luận giải các khái niệm cốt lõi:
- Nhà nước pháp quyền và tiêu chuẩn xây dựng pháp luật: Tiếp cận các tiêu chí của Dự án Công lý Thế giới (World Justice Project) và Nghị quyết số 48-NQ/TW của Bộ Chính trị, tác giả đúc kết ba yêu cầu căn bản đối với pháp luật trong NNPQXHCN:
- Bảo đảm tính hợp lý: Chứng minh được lợi ích đem lại cho xã hội lớn hơn chi phí tuân thủ.
- Bảo đảm sự đơn giản: Quy định rõ ràng, ngôn ngữ chuẩn mực để người dân dễ hiểu và thi hành.
- Bảo đảm tính công khai, minh bạch: Ngăn ngừa lợi ích nhóm, cục bộ ngành trong xây dựng chính sách.
- Vị trí trung tâm của Chính phủ: Xuất phát từ chức năng quản lý điều hành trực tiếp mọi mặt đời sống xã hội, Chính phủ là cơ quan nhận diện sớm nhất các bất cập kinh tế - xã hội và có đầy đủ nguồn lực chuyên môn để chuyển hóa chính sách thành dự thảo luật.
- Kinh nghiệm quốc tế: Luận án viện dẫn số liệu so sánh quốc tế của David M. Olson khảo sát tại 40 quốc gia, chứng minh sự phổ biến của việc chính phủ giữ vai trò áp đảo trong việc trình dự án luật trước nghị viện.
| Nhóm tỷ lệ dự án luật do Chính phủ trình |
Số lượng quốc gia |
Tỷ lệ (%) |
| Chính phủ trình trên 90% tổng số dự án luật |
19 |
48% |
| Chính phủ trình từ 60% đến 89% tổng số dự án luật |
10 |
25% |
| Chính phủ trình dưới 60% tổng số dự án luật |
11 |
27% |
| Tổng số quốc gia khảo sát |
40 |
100% |
Chương 3: Thực trạng vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh tại Việt Nam trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
Chương 3 phân tích lịch sử lập hiến và khảo sát thực tiễn lập pháp tại Việt Nam:
- Tiến trình lập hiến: Từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 2013, vị trí và thẩm quyền lập pháp/lập quy của Chính phủ (hoặc Hội đồng Chính phủ, Hội đồng Bộ trưởng) từng bước được hoàn thiện theo hướng phân công, phối hợp chặt chẽ với Quốc hội.
- Thực trạng lập pháp: Chính phủ luôn đảm nhận việc soạn thảo và trình khoảng 90% các dự án luật, pháp lệnh được Quốc hội, UBTVQH xem xét, thông qua.
- Hạn chế và nguyên nhân: Tồn tại tình trạng dự thảo luật mang tính "khung", phải chờ văn bản quy định chi tiết mới thi hành được; tiến độ chuẩn bị dự án thường xuyên bị lùi, hoãn; chất lượng phân tích chính sách và đánh giá tác động văn bản (RIA) còn hình thức. Nguyên nhân xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ về vai trò hành pháp, sự phối hợp liên bộ ngành còn lỏng lẻo, thiếu cơ chế xác định rõ trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu bộ ngành chủ trì soạn thảo.
Chương 4: Quan điểm và giải pháp tiếp tục đổi mới, nâng cao vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Chương 4 đề xuất các nhóm giải pháp toàn diện:
- Quan điểm chỉ đạo: Giữ vững sự lãnh đạo của Đảng; bảo đảm quyền lực nhân dân; phát huy tính năng động, sáng tạo của Chính phủ kiến tạo; gắn kết chặt chẽ khâu xây dựng chính sách với khâu tổ chức thi hành pháp luật.
- Các nhóm giải pháp cụ thể:
- Đổi mới quy trình xây dựng chính sách: Tách bạch giai đoạn hoạch định, phân tích chính sách độc lập trước khi chuyển sang kỹ thuật soạn thảo điều khoản luật theo Luật Ban hành VBQPPL năm 2015.
- Nâng cao trách nhiệm chính trị và trách nhiệm giải trình: Quy định rõ chế độ chịu trách nhiệm của Bộ trưởng và thành viên Chính phủ đối với các dự án do bộ, ngành mình chủ trì soạn thảo; bảo đảm Chính phủ bảo vệ quan điểm chính sách đến cùng trước Quốc hội.
- Kiểm soát xung đột lợi ích: Thiết lập cơ chế thẩm định độc lập của Bộ Tư pháp và tăng cường sự tham gia, phản biện của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức xã hội, chuyên gia và người dân để triệt tiêu tính cục bộ ngành.
- Nâng cao năng lực bộ máy và nguồn lực: Xây dựng đội ngũ chuyên gia phân tích chính sách và kỹ thuật lập pháp chuyên nghiệp; tăng cường nguồn kinh phí tương xứng cho công tác nghiên cứu, khảo sát thực tiễn.
Kết quả và những đóng góp mới
- Về mặt lý luận: Luận giải sâu sắc bản chất quyền hành pháp trong NNPQXHCN; làm rõ rằng quyền trình dự án luật là một bộ phận hữu cơ cấu thành quyền hành pháp, không đồng nghĩa với việc Quốc hội chuyển giao gánh nặng lập pháp cho Chính phủ.
- Về mặt nhận thức: Khẳng định Chính phủ phải giữ vai trò chủ động, đi đầu trong công tác lập pháp và phải chịu trách nhiệm chính trị - pháp lý đến cùng đối với sự ổn định, chất lượng và tính khả thi của hệ thống pháp luật quốc gia.
- Về mặt thực tiễn và giải pháp: Cung cấp luận cứ khoa học phục vụ việc triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Chính phủ năm 2015 và Luật Ban hành VBQPPL năm 2015; đưa ra hệ thống kiến nghị đồng bộ từ khâu lập đề nghị xây dựng luật, phân tích chính sách, soạn thảo cho đến bảo vệ dự án trước Quốc hội.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án tập trung vào hoạt động chuẩn bị các dự án luật, pháp lệnh của Chính phủ trình cơ quan lập pháp trung ương, chưa đi sâu vào toàn bộ hệ thống văn bản lập quy dưới luật ở cấp chính quyền địa phương.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Cần tiếp tục theo dõi, đánh giá thực chứng hiệu quả áp dụng quy trình phân tích chính sách theo Luật Ban hành VBQPPL năm 2015 sau thời gian dài vận hành; nghiên cứu sâu hơn về cơ chế kiểm soát lợi ích nhóm trong hoạt động xây dựng chính sách kinh tế - xã hội.
Giá trị tham khảo
- Đối với cơ quan nhà nước: Là tài liệu tham khảo cho Văn phòng Chính phủ, Bộ Tư pháp, các Vụ Pháp chế thuộc bộ, cơ quan ngang bộ trong việc đổi mới quy trình phân tích chính sách và soạn thảo văn bản; hỗ trợ các cơ quan của Quốc hội (Ủy ban Pháp luật, Viện Nghiên cứu Lập pháp) trong công tác thẩm tra, phối hợp lập pháp.
- Đối với cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu chuyên sâu các học phần Lý luận về Nhà nước và Pháp luật, Luật Hiến pháp, Luật Hành chính, Kỹ thuật lập pháp tại các trường đại học, viện nghiên cứu chuyên ngành luật.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao Chính phủ lại là cơ quan trình phần lớn các dự án luật, pháp lệnh tại Việt Nam?
Chính phủ là cơ quan thực hiện quyền hành pháp, trực tiếp quản lý và điều hành các mặt đời sống kinh tế - xã hội, nắm giữ nguồn lực thông tin, ngân sách và đội ngũ chuyên gia thực tiễn. Do đó, Chính phủ có điều kiện phát hiện sớm nhất các vướng mắc pháp lý nảy sinh từ đời sống và có nhu cầu cấp thiết về công cụ pháp lý để quản trị quốc gia.
2. Tỷ lệ dự án luật do Chính phủ trình Quốc hội tại Việt Nam và các nước trên thế giới được ghi nhận như thế nào?
Tại Việt Nam, thực tiễn cho thấy Chính phủ trình khoảng 90% tổng số dự án luật, pháp lệnh trước Quốc hội và UBTVQH. Số liệu khảo sát so sánh quốc tế của David M. Olson tại 40 quốc gia cũng chỉ ra có tới 48% số nước ghi nhận chính phủ trình trên 90% dự án luật, và 25% số nước ghi nhận tỷ lệ từ 60% đến 89%.
3. Ba yêu cầu cơ bản đối với pháp luật và hoạt động xây dựng pháp luật trong NNPQXHCN theo luận án là gì?
Luận án chỉ ra ba yêu cầu cốt lõi: (1) Bảo đảm sự hợp lý (lợi ích đem lại lớn hơn chi phí tuân thủ); (2) Bảo đảm sự đơn giản (ngôn ngữ rõ ràng, ngắn gọn, dễ tiếp cận); (3) Bảo đảm sự công khai, minh bạch (tạo điều kiện cho đối tượng chịu tác động tham gia, phòng ngừa cục bộ ngành).
4. Việc Chính phủ soạn thảo luật có làm suy giảm quyền lập pháp của Quốc hội không?
Không. Hoạt động lập pháp là quy trình trí tuệ tập thể gồm nhiều công đoạn. Chính phủ thực hiện quyền sáng kiến và soạn thảo dự án xuất phát từ nhu cầu điều hành thực tế; Quốc hội thực hiện quyền lực tối cao thông qua hoạt động thẩm tra, phản biện, chỉnh lý và quyết định biểu quyết thông qua hay bác bỏ dự án.
5. Khắc phục tình trạng "luật khung", "luật ống" được luận án tiếp cận qua những giải pháp nào?
Luận án đề xuất phải phân định rành mạch giữa giai đoạn hoạch định chính sách độc lập và giai đoạn soạn thảo kỹ thuật; nâng cao chất lượng đánh giá tác động chính sách (RIA); gắn kết trách nhiệm giải trình của người đứng đầu bộ ngành chủ trì soạn thảo; đồng thời nâng cao năng lực thẩm tra chính sách của các Ủy ban thuộc Quốc hội.
Kết luận
Luận án của NCS Trần Hoài Nam là công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về vị trí, vai trò và trách nhiệm của Chính phủ trong hoạt động lập pháp dưới góc độ Lý luận và Lịch sử Nhà nước và Pháp luật. Tác giả đã kết hợp hài hòa giữa cơ sở lý luận kinh điển, kinh nghiệm pháp lý quốc tế và thực tiễn vận hành thể chế tại Việt Nam qua các thời kỳ lập hiến. Hệ thống luận điểm và giải pháp do luận án đề xuất góp phần cung cấp luận cứ khoa học quan trọng nhằm kiện toàn bộ máy hành pháp, nâng cao chất lượng xây dựng luật, pháp lệnh đáp ứng yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.