đặt vấn đề về trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đạo đức, chính trị của những cá nhân, cơ quan, tổ chức tham gia vào hoạt động XDPL, vốn là những vấn đề cho đến nay vẫn chưa được pháp luật Việt Nam quy định thỏa đáng. Thứ tư,“Mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, Chính phủ trong nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam” (2008), GS. Trần Ngọc Đường và TS. Ngô Đức Mạnh chủ biên [72].
Công trình đã nghiên cứu về mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của Quốc hội, Chính phủ trong điều kiện xây dựng NNPQXHCN Việt Nam, góp phần làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đổi mới mô hình, phương thức hoạt động của Quốc hội, Chính phủ theo định hướng pháp quyền XHCN; đề xuất quan điểm, nguyên tắc và giải pháp có tính tổng thể cho quá trình tiếp tục đổi mới của Quốc hội, Chính phủ trong giai đoạn những năm 2010 và các năm tiếp theo. Thứ năm, “Đổi mới và hoàn thiện quy trình lập pháp của Quốc hội” (2004), Văn phòng Quốc hội biên soạn [125]. Cuốn sách trình bày có hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn đổi mới công tác lập pháp; giới thiệu khá đầy đủ quy trình lập pháp qua các thời kỳ; phân tích nội dung quy trình lập pháp gắn liền với việc đổi mới tổ chức và hoạt động của Quốc hội, các cơ quan Quốc hội, phương thức hoạt động của kỳ họp Quốc hội. Nhìn chung, cuốn sách đã cập nhật thông tin và nêu rõ những bất cập đang tồn tại; đề xuất phương hướng và giải pháp phù hợp cho vấn đề.
14 z Thứ sáu, “Đổi mới, hoàn thiện bộ máy Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa của dân, do dân, vì dân ở Việt Nam hiện nay” (2011), PGS. Lê Minh Thông [141]. Với nội dung và phạm vi nghiên cứu rộng, đề tài đã tiếp cận toàn diện tới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước (Quốc hội, Chính phủ, TANDTC, VKSNDTC, chính quyền địa phương .) nên Chính phủ, các cơ quan của Chính phủ ch được nêu khái quát cùng phương hướng gợi mở đổi mới nhằm nâng cao vị trí, vai trò của chúng. Từ đ , tác giả kiến nghị tăng cường nâng cao chất lượng các hoạt động liên quan đến công tác XDPL.
Bài viết, Báo cáo khoa học liên quan đến Luận án Báo cáo “Thực trạng hoạt động phân tích chính sách trong quá trình xây dựng luật ở Việt Nam hiện nay” (2014), Viện Khoa học Pháp lý, Bộ Tư pháp thực hiện trong Dự án phát triển lập pháp quốc gia tại Việt Nam. Là một công trình khoa học công phu, phân tích, đánh giá vấn đề xây dựng chính sách trong bối cảnh Luật Ban hành VBQPPL năm 2008 chưa quy định đây là giai đoạn độc lập trong xây dựng luật. Các kết quả nghiên cứu của Báo cáo có giá trị tham khảo thiết thực đối với phần nghiên cứu đánh giá thực trạng vai trò, trách nhiệm của Chính phủ đối với hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh trong Luận án [169]. - Báo cáo số 06b/BC-BTP về tổng kết thi hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004, Bộ Tư pháp (2014).
Tại Báo cáo, Bộ Tư pháp đã nêu ra những định hướng lớn trong công tác xây dựng luật, pháp lệnh thời gian tới cần phân định rõ nội dung các việc thuộc thẩm quyền ban hành luật của Quốc hội, các việc thuộc thẩm quyền ban hành văn bản của Chính phủ trên cơ sở quy định của Hiến pháp về nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội, của Chính phủ [22]. - Bài viết “Luận bàn thêm về bản chất của hoạt động xây dựng pháp luật” của TS. Thông qua việc tổng hợp các quan niệm về hoạt động XDPL, bài viết đã đưa ra quan niệm khá toàn diện về bản chất của hoạt động này. Theo tác giả, XDPL thực chất là một quá trình ra quyết định; các cá nhân tham gia vào quá trình này có vai trò rất quan trọng, không đơn thuần ch là người “dịch” chủ trương, đường lối đã c từ trước.
Việc hiểu được sâu sắc bản chất của hoạt động XDPL sẽ đ ng g p rất nhiều vào chất lượng xây dựng luật, pháp lệnh của Chính phủ - chủ thể quản lý nhà nước và xã hội [39]. Ngoài ra, còn nhiều công trình khoa học, ấn phẩm và bài viết khác có liên quan đến đề tài Luận án, ví dụ: “Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 15 z của dân, do dân, vì dân - Lý luận và thực tiễn”, (2010), GS. Nguyễn Duy Quý - PGS. Nguyễn Tất Viễn (đồng chủ biên); “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam - Lý luận và thực tiễn” (2010), PGS.
Nguyễn Văn Mạnh; “Kiểm soát việc thực hiện quyền lập pháp: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, (2010), PGS. Trương Thị Hồng Hà; “Nhà nước và pháp luật của chúng ta trong sự nghiệp đổi mới” (1997), GS. Đào Trí Úc; “Bình luận Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật”, (2005), Nxb Tư pháp; “Nhà nước và trách nhiệm của nhà nước”, (2006), PGS, TS. Nguyễn Đăng Dung; “Xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam theo quan điểm Mác-xít” (2013), TS.
Trương Quốc Chính. Các quan điểm, ý tưởng ở những công trình trên rất hữu ích trong việc gợi ra nhiều nội dung cần được tiếp tục nghiên cứu, làm rõ trong quá trình đổi mới, hoàn thiện tổ chức và hoạt động bộ máy nhà nước. Trong đ c một nội dung quan trọng là vai trò, trách nhiệm của Chính phủ và các bộ, ngành, cơ quan của Chính phủ về hoạt động xây dựng dự án luật, pháp lệnh chưa được nhận thức cũng như phát huy đầy đủ, còn bất cập so với đòi hỏi của công cuộc xây dựng NNPQXHCN của dân, do dân, vì dân. Tình hình nghiên cứu về nư c ngoài và ở nư c ngoài - “Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu pháp luật về ban hành văn bản pháp luật nước ngoài” của Bộ Tư pháp là một nghiên cứu tương đối cụ thể và đầy đủ về hoạt động XDPL nói chung và vai trò của Chính phủ đối với hoạt động này nói riêng ở một số nước.
Trong Báo cáo, Bộ Tư pháp đã thu thập, lựa chọn dịch và tổng hợp văn bản về ban hành văn bản pháp luật về quy trình lập pháp của khá nhiều nước trên thế giới, như: Luật Ban hành văn bản pháp luật của Cộng hòa Azebaizan; Cộng hòa Gruzia; Cộng hòa Kyrgyzkistan; Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; Luật Lập pháp của Trung Quốc; Luật Ban hành văn bản pháp luật và quy trình lập pháp của Canada; Luật Giải thích luật của Canada; Quy trình lập pháp của Nhật Bản; Quy trình lập pháp của Uganda; Luật Ban hành văn bản pháp luật của Kenya … Tại Báo cáo này, Bộ Tư pháp đã đặt ra vấn đề ủy quyền lập pháp cho nhánh hành pháp; vai trò, trách nhiệm của Chính phủ trong chương trình xây dựng luật, pháp lệnh, trong sáng kiến lập pháp; về quy trình xây dựng chính sách, quy trình thẩm định, thẩm tra; và yêu cầu về sự chuyên nghiệp trong hoạt động XDPL. - Về quy trình lập pháp và vai trò, trách nhiệm của chính phủ các nước trong hoạt động lập pháp cũng được nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam chú trọng. Ví dụ, cuốn “Quy trình lập pháp của một số nước trên thế giới” do Văn phòng 16 z Quốc hội biên soạn từ năm 2006 đã giới thiệu chi tiết về quy trình lập pháp của một số quốc gia tiêu biểu trên thế giới [167]; hoặc công trình nghiên cứu “Kinh nghiệm quốc tế về quy trình lập pháp” của nhóm tác giả Nguyễn Văn Cương, Chu Thị Hoa, Dương Thu Hương thuộc Viện Khoa học pháp lý (Bộ Tư pháp) đã nêu khá kỹ mô hình quy trình lập pháp một số nước, trong đ đề cập đến chính phủ như một cơ quan chủ đạo trong quy trình và khẳng định việc tham gia vào hoạt động XDPL của Chính phủ là “quy luật” tất yếu không ch ở Việt Nam mà còn ở nhiều nước trên thế giới [42]. - Về kỹ thuật lập pháp, trong số tác phẩm được dịch sang tiếng Việt, đáng chú ý có cuốn: “Soạn thảo Luật pháp vì tiến bộ xã hội dân chủ” (Legislative Drafting for Democratic Social Change) của các tác giả Ann Seidman, Robert B.
Seidman, Nalin Abeyesekere. Công trình gồm 4 phần: Phần 1 - Soạn thảo dự án luật, quản lý nhà nước tốt và quá trình phát triển; Phần 2 - Giải trình cho một dự án luật (Báo cáo nghiên cứu); Phần 3 - Các kỹ thuật soạn thảo dự án luật; Phần 4 - Soạn thảo cho một nền quản lý nhà nước tốt. Sách đã đề cập đến lý thuyết lập pháp, phương thức tổ chức soạn thảo và kỹ năng, kỹ thuật soạn thảo văn bản dự án luật. Đặc biệt trong đ , khái niệm “nhà soạn thảo” được hiểu không ch là các chuyên gia pháp luật được đào tạo bài bản mà còn bao gồm cả những người giữ vị trí cấp cao của các cơ quan nhà nước ở trung ương, tức những người có vai trò ảnh hưởng lớn đến quá trình XDPL.
- “Đổi mới hoạt động của Chính phủ” (Reinventing Government) của David Osborne và Ted Gaebler. Từ nghiên cứu hoạt động của chính quyền Mỹ, các tác giả đã tổng kết kinh nghiệm và rút ra nhiều nguyên tắc mang tính ch đạo đối với đổi mới hoạt động của Chính phủ nhằm làm cho nó tinh gọn và năng động, đỡ tốn kém, đáp ứng kịp thời, có hiệu quả những nhu cầu do sự phát triển nhanh chóng của đời sống kinh tế và xã hội Mỹ đòi hỏi. Nổi bật với nguyên tắc “Chính phủ xúc tác: cầm lái chứ không phải là bơi chèo” và “Nhỏ hơn nhưng mạnh hơn”, tác giả cho rằng, các chính phủ tập trung vào việc cầm lái tích cực tạo nên dáng vóc cho các cộng đồng quốc gia và dân tộc của mình, đã đưa ra nhiều quyết định hơn về chính sách, đồng thời kiểm tra các cơ quan khác cung ứng dịch vụ và đáp ứng nhu cầu của cộng đồng hơn là thuê thêm nhiều công chức nhà nước [58, tr. - “Những vấn đề cơ bản của luật pháp Mỹ” (Fundamentals of American law) do Alan B.
Morrison chủ biên. Công trình này bao quát được mọi lĩnh vực cơ bản trong hệ thống pháp luật Mỹ. Trong đ , đề cập khá rõ về đặc trưng phân quyền tại Hoa Kỳ với chế độ tổng thống và sự xung đột chức năng của ngành hành pháp 17 z và lập pháp.