Phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Luận án tiến sĩ luật học phân tích phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở việt nam hiện nay, xây dựng cơ sở lý luận, kiểm chứng thực nghiệm, đóng góp tri thức mới

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

245
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Khái quát về hoạt động xây dựng pháp luật

1.2. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật

1.3. Chủ thể, đối tượng, hình thức, quy trình của phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật

1.3.1. Chủ thể phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật

1.3.2. Đối tượng phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật

1.3.3. Hình thức phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật

1.3.4. Quy trình phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam

1.5. Phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật tại một số quốc gia trên thế giới

1.6. Kết luận chương 1

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VỀ PHẢN BIỆN XÃ HỘI TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Cơ sở pháp lý của phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay

2.2. Những ưu điểm, thành tựu đạt được

2.3. Tồn tại, hạn chế và nguyên nhân

2.4. Kết luận chương 2

3. CHƯƠNG 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG PHẢN BIỆN XÃ HỘI TRONG HOẠT ĐỘNG XÂY DỰNG PHÁP LUẬT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

3.1. Yêu cầu của phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay

3.2. Những giải pháp nâng cao chất lượng phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay

3.2.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật

3.2.2. Nhóm giải pháp hoàn thiện biện pháp tổ chức thực hiện quy định của pháp luật về phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật

3.2.3. Nhóm giải pháp tạo lập các điều kiện bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện quy định của pháp luật về phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật

3.3. Kết luận chương 3

KẾT LUẬN

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC VÀ SƠ ĐỒ

Tóm tắt

I. Giới thiệu về phản biện xã hội trong xây dựng pháp luật tại Việt Nam

Phản biện xã hội (phản biện xã hội) là một hoạt động quan trọng trong quá trình xây dựng pháp luật tại Việt Nam. Hoạt động này không chỉ giúp nâng cao chất lượng các văn bản pháp luật mà còn thể hiện quyền con người và sự tham gia của người dân vào quản lý nhà nước. Luận án tiến sĩ luật học này tập trung vào việc phân tích vai trò của phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này. Theo Nghị quyết số 48-NQ/TW, việc thu hút ý kiến của các tổ chức xã hội và chuyên gia vào quá trình xây dựng pháp luật là cần thiết để đảm bảo tính khách quan và thực tiễn của các văn bản pháp luật.

1.1. Khái niệm và vai trò của phản biện xã hội

Khái niệm phản biện xã hội được hiểu là việc các tổ chức, cá nhân tham gia đánh giá, góp ý kiến về các dự thảo văn bản pháp luật. Vai trò của phản biện xã hội không chỉ dừng lại ở việc cung cấp ý kiến mà còn là một phần không thể thiếu trong quá trình xây dựng pháp luật. Điều này giúp đảm bảo rằng các văn bản pháp luật được xây dựng phù hợp với nhu cầu và lợi ích của xã hội. Theo Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, phản biện xã hội là một trong những chức năng quan trọng của MTTQ, góp phần nâng cao chất lượng quản lý nhà nước và bảo vệ quyền lợi của người dân.

II. Thực trạng phản biện xã hội trong xây dựng pháp luật ở Việt Nam

Thực trạng phản biện xã hội trong xây dựng pháp luật tại Việt Nam hiện nay cho thấy nhiều điểm tích cực nhưng cũng tồn tại không ít hạn chế. Mặc dù đã có nhiều văn bản pháp luật quy định về phản biện xã hội, nhưng việc thực hiện còn gặp nhiều khó khăn. Nhiều ý kiến phản biện chưa được tiếp thu một cách nghiêm túc, dẫn đến tình trạng các văn bản pháp luật không phản ánh đúng nhu cầu thực tế của xã hội. Theo báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, vai trò của MTTQ và các tổ chức xã hội trong việc phản biện còn hạn chế, chưa phát huy hết tiềm năng của mình trong việc tham gia xây dựng pháp luật.

2.1. Những thành tựu đạt được

Trong những năm qua, phản biện xã hội đã có những bước tiến đáng kể. Nhiều dự thảo văn bản pháp luật đã được đưa ra để lấy ý kiến từ các tổ chức xã hội và người dân. Điều này cho thấy sự quan tâm của Nhà nước đối với việc lắng nghe ý kiến của nhân dân. Các tổ chức xã hội đã có những đóng góp quan trọng trong việc xây dựng các chính sách, pháp luật, từ đó nâng cao chất lượng và tính khả thi của các văn bản pháp luật.

2.2. Hạn chế và nguyên nhân

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế trong hoạt động phản biện xã hội. Nhiều ý kiến phản biện chưa được tiếp thu, dẫn đến tình trạng các văn bản pháp luật không phản ánh đúng nhu cầu thực tế của xã hội. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu cơ chế rõ ràng trong việc tiếp nhận và xử lý ý kiến phản biện, cũng như sự thiếu hụt về năng lực của các tổ chức xã hội trong việc thực hiện chức năng này.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng phản biện xã hội trong xây dựng pháp luật

Để nâng cao chất lượng phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật, cần có những giải pháp cụ thể. Trước hết, cần hoàn thiện các quy định pháp luật về phản biện xã hội, đảm bảo tính đồng bộ và khả thi. Thứ hai, cần tăng cường năng lực cho các tổ chức xã hội, giúp họ có đủ kiến thức và kỹ năng để thực hiện chức năng phản biện. Cuối cùng, cần xây dựng cơ chế tiếp nhận và xử lý ý kiến phản biện một cách hiệu quả, đảm bảo rằng các ý kiến này được xem xét nghiêm túc trong quá trình xây dựng pháp luật.

3.1. Hoàn thiện quy định pháp luật

Cần có những quy định pháp luật rõ ràng về quy trình và hình thức phản biện xã hội. Điều này sẽ giúp các tổ chức xã hội và cá nhân có thể tham gia một cách hiệu quả hơn vào quá trình xây dựng pháp luật. Các quy định này cần được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật hiện hành, đảm bảo tính khả thi và thực tiễn.

3.2. Tăng cường năng lực cho các tổ chức xã hội

Việc nâng cao năng lực cho các tổ chức xã hội là rất cần thiết. Cần tổ chức các khóa đào tạo, hội thảo để trang bị kiến thức và kỹ năng cho các thành viên của các tổ chức này. Điều này sẽ giúp họ có thể thực hiện tốt hơn vai trò của mình trong việc phản biện xã hội.

06/02/2025
Luận án tiến sĩ luật học phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Lý luận vẻ phân biện xã hội trong hoạt động zây dung pháp luật. Thực trang vé phản biên sã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay. Yêu cầu va giải pháp nâng cao chất lượng phan biện zã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay.

l3 PHÀN TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài LL Tình hình nghiên cứu về phan biện xã hội Từ thời kỳ La Mã cỗ đại những công dân tư do được tham gia góp ý cho các chủ trương lớn của Nhà nước Chủ nô. Trong các tác phẩm của Platon, Aristotle đã nói đên PBXH của các nha thông thái đối với các quyết sich cia Nhà nước. Tuy nhiên phải đến thời kỹ khai sáng, PBXH mới thật sử trở thánh.

những van để quan trong trong đời sống chính trị với các tác phẩm kinh điển của các học giã như.Mill, Voltaire, Direrot. Tại các nước phát triển việc nghiên cửu được quan tâm, đặc biệt là trong mỗi quan hệ giữa Nha nước, xã hội và cá nhân. Mặc dù không có công trình nghiên cứu nao mang tỉnh chuyên biết, nhưng các nh nghiền cứu của chủ nghĩa Mác- Lê Nin đã nhắn mạnh PBXH trên tỉnh thân phát huy vai trỏ của quần chúng nhân dân trong sự phát triển của sã hội. PBXH chưa được quan tâm đúng mức trên phương diện nghiên cứu khoa học và ap dung vào hoạt động thực tiễn.

Cho nên đó là khoảng trắng để các thể hệ sau nghiên cứu và bỗ sung cho hoàn thiện về lý luận cia chủ nghĩa Mác ~ Lê Nin Các học giả nước ngoài để cập đến PBXH trên nhiều phương diện, điển hính như Michael Walzer trong cuốn sách: “Interpetation and Soctal Criticism’ (chi gid và phản biên xã hội). Michael Walzer đã phân tích làm sảng tö hoạt động PBXH với tu cách lả một hoạt động xã hội. Cuỗn sách phan ánh thực tiễn PBXH, giải thích nó vả việc hình thành các chuẩn mực đạo đức của PBXH. Nội dung cuốn sách còn để cập đến tranh luận vé các quan niệm khác nhau hiện nay khí nói đến PBXH.

Lý thuyết va vai trò của trí thức trong việc hình thành PBXH để tạo nên sự thay đỗi xã hội thông qua PBXH. PBXH 14 được nhìn nhân ở nhiễu góc độ khác nhau, cấp vi mô là sự hình thành, phát triển các lý thuyết, hệ tư tưởng chủ đao trong x8 hôi, ở cấp độ vi mô là sự phê tình, phân ánh, chỉ trích đường lôi chính sách và hoạt đồng của Nhà nước, đăng chính trị, phong trào sã hồi Với lập trường của những người theo chủ nghĩa da nguyên, David B.Truman: “The governmental Proceses “(các qua trình Chính phi) va Robert ADabl “Dilemas of Pluralistdemocracy” đã phân tích sự hình thành cia các nhóm lợi ích, các tổ chức chính trị xã hội cùng với quá trình sử dụng chính ti Nhà nước. Người dân sống trong zã hội déu phải tham gia vào các nhóm tổ. chức với những lợi ích khác nhau, nên dẫn dén có sự phân chia quyển lợi từ trong tổ chức nhằm nắm lầy quyển lực phủ hợp với kha năng vả mục tiêu của minh, Các nhóm lợi ich tác đông đền chính sch Nha nước trên nhiều góc độ nhưng không đất được ảnh hướng tuyệt đổi ngay cä đổi với Chính phủ.

chat của Nha nước nếu nhìn trên phương diện lợi ích thì có thể xem đó 1a lợi ích nhóm của một số người có vi trí đặc biệt trong x8 hội. Các tác giả đánh giá cao vai trò của các nhóm lợi ích trong việc ảnh hưởng đến qua trình thực hiện hiện chính sách của Nha nước Vi vậy toàn bô quá trình chính tri là qua trình tương tắc, kiếm chế đổi trong giữa các nhóm, ting lớp khác nhau trong xã hội. Cac tác giả thửa nhận rằng các tổ chức và các thé chế có xu hướng để cao lợi ích lâm cho chính sách của Nhà nước có thé bị thay đổi hoặc có thể bi phân. Qua trình hoạch định, quyết định, chính sách luôn bị ảnh.

thưởng của nhiễu yếu tố, sự cạnh tranh chỉnh trị, các chiến lược vận động tranh cỡ, lợi ích nhóm, lợi ích quốc gia và PBXH được hình thảnh từ đây. Trong cuốn sich: “ Jaterest Group Politis” (chính tri của nhóm lợi ich), Allan J. Cigler nghiên cứu vai tro của nhóm lợi ích trong quá trình hoạch định. chính sách của Nhà nước Bắt đầu từ việc cung cấp thông tin, dữliệu phn ánh nhiều chiêu của chính sách đến sự bình luân, chi trích, phê phán của các nhóm.

15 trên phương tiên truyền thông và dư luận. Các nhom lợi ich tập trung sự chủ ý và thu hút ngày cảng đồng đão sư quan tém của các nhà nghiền cứu, nhả khoa học, các học giã vào các vẫn để của minh. Méi quan hệ giữa các nhóm lợi ich ‘va các ủy ban trong quả trình hoạch định chính sách cũng có thé dẫn đến đồng. Các nhóm lợi ích có thể cam kết ting hộ nhất định về phiếu cử trị, sự quyên gop tài chính cho hoạt động đăng phái, vận động tranh cử và đổi lại các nha lập pháp ở các ủy ban có thé ra những quyết sách, quyết định thiên vị cho lợi ích của nhóm này, Ở đây PBXH được zem như một phương thức giải quyết mỗi quan hệ giữa các nhóm lợi ích Một sé học giả nước ngoài đã nghiên cứu vé PBXH ở Việt Nam đặt trong méi quan hệ với xã hôi đân sự, van dé dân chủ, quyền con người, chế độ một ding cảm quyền, cụ thể như (1) Ove Bring, Christer Gunnarsson,” Việt ‘Nam: Dân cini và Quyền con người” (Vietnam: Democracy and Human Right), Thụy Điển, Viện hợp tác quốc tế, (1998): tác giả cho rằng các tổ chức xã hội ở Việt Nam đã góp phan đáng kể vào thúc đẩy dan chủ vả quyển con người ở Việt Nam, (2) CarlyleA.

Thayer (2008), “Nguyên tắc một Đáng iãnit dao và sự thách thức của xã lội dân sựở Việt Nam” (One Party Rule and Challenge of Civil Society in Vietnam), hội thảo, Đại học Hồng Kong, 3/2008: nghiên cứu zuất phát từ cách nhin nhân của các nên dân chủ phương Tây cho rằng một đăng cảm quyển la thách thức đổi với xây dựng zã hội dn sự - mã xã hội dân sw la không gian tự do cho GSXH và PBXH, (3) Lux, Steven J. Straussman, “Nghiên cứu sựcân bằng của các tổ chức phi chính ph Việt Nam khi vân hành trong một xã lội dân sue cô tính cm hưởng " (Searching for Balance: Vietnamese NGOs Operating in a State- Led Civil Society), Tạp chi Hành chính công va phát triển, 24(2), (2004): tác giả nhân mạnh cách thức tạo ra sự cân bằng giữa xã hội dan sự với Nha nước. và thị trường, nhất là trong điều kiện Việt Nam đang chuyển sang nên kinh tế 16 thị trường Đây chính là điều kiện để các tổ chức xã hội giám sát tốt hơn thi trường và Nha nước. Mốt số tác giả đã nói lên vai trò của báo chí trong thực hiện PBXH như Tac phẩm “Quyền iực tint te và bến đời tổng bí tuc” của Vichto Aphanaxép, Nha xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, (1995).

Tác giả đã cho thấy vai trò, giá trị của bao chí là quyên lực thứ tư bên cạnh quyên lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chức năng PBXH của báo chi có vai trò quan trong trong việc hướng tới mục tiêu xây dựng vả phát triển xã hội tự do, dân chủ. Báo chỉ có chức năng PBXH một cách manh mế tạo diễn đàn rồng rồi, thu hút sự tham gia của xã hội vé thông tin phin hồi chính sách giữa người dên và Nha nước Tác phẩm từ thé giới thứ ba đến thé giới thứ nhất: Câu chuyện Singapore 1965-2000 From Third World to First The Singapore Story. 1965-2000), Nhà xuất ban Harper Collins, 1997 của Ly Quang Diệu.

Ông cho sang năng lực đối thoại của Nhà nước trước nhân dân phải có câu trả lời khí có sự phân biện của sã hôi. Giai đoạn nay, Lý Quang Diệu đã đối thoại thẳng thắn trên bao chí, trên mọi diễn dan va sau đó phe đổi lập phải lùi bước trước các phản bác từ phía chính quyển Điều nảy doi héi năng lực của người cảm quyển khi đối điên với phan biến từ nhân dân. Những công trình nêu trên đều thể hiện quan điểm cho rằng PBXH là yên câu khách quan của hệ thông quản ly Nhà nước. Nêu quyền lực không được kiểm soát thi dẫn đến lam quyên, quyền lực sẽ bi tha hoa.

Tuy nhiên van để PBXH trong hoạt đông XDPL chưa được nghiên cứu với những công trình khoa học cu thể. Do vay đây 18 một trong những vẫn để nghiên cứu sinh cản. tiếp tục nghiên cứu, bỗ sung lâm sáng tỏ trong Luận án. Tình hành nghiên cứn về phân biện xã hội trong hoạf động xâp dung pháp luật Tac giã Jean-Jacques Rousseau, khi dé cập đến vai trỏ quan trọng của dân chúng tham gia vào quá trình quản ly đắt nước, trước hết la làm luất, ông viết: “Luật chỉ la những điều Kiện chính thức của việc tập hop dân sự.

Dân chúng tuân theo luật phải là người làm ra luật”. Theo Rousseau, việc xây đựng một Nha nước pháp quyên chính la xây dựng một chính thé dân chủ, với những quan hệ sã hội mang tính "ương tôn pháp luật”, được van hank trong cuộc sống Và để duy trì quyển uy tôi cao của luật pháp, Rousseau khẳng. đính: “Quy luc tối cao không có sức manh nào ngoài quyên lập pháp, nên chỉ hoạt đông bằng các dao luật. Các đạo Iuật là hành vi hợp thức cũa ÿ chí chung.

Cho nên, quyền lực tối cao chi có 1 tác động khi dân chủng hop lại “ Quan điểm nay của Jean-Jacques Rousseau, dù không trực tiếp nói PBXH, nhưng nhận thay muén quản lý đất nước hiệu quả, cẩn có PBXH từ người dân, đặc tiệt là trong XDPL Tác giả John Stuart Mill (2014) trong tác phẩm Bản về tự do (Nguyễn. Van Trong dich), nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội đã khẳng định: “Ching ta không bao giờ chắc chắn được rằng cái ý kiến mà ta đang cổ sức dập tắt ia một ƒ kiến sai lầm; ngay cả nếu nửnt ciing ta tin chắc đi nika thi việc dập nó vẫn ià một điêu xẩu xa”; và ông cho rằng: “Khi mà người ta còn buộc phải Tổng nghe cả hai phía thi vẫn còn hy vọng: còn kit người ta chỉ chăm io tới mot phía thi các sai lầm sẽ kết lại thành thiên kiến và bẩn thân các chân iÿ s không. còn cho hiệu qua của chân i nữa, mà bị thôi phẳng lên thành nguy tạo”. Lập luận nay của J.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ luật học "Phản biện xã hội trong xây dựng pháp luật tại Việt Nam" đi sâu vào phân tích vai trò quan trọng của phản biện xã hội trong quá trình xây dựng pháp luật ở Việt Nam. Luận án làm rõ cơ sở lý luận, thực tiễn của phản biện xã hội, đồng thời đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động này. Đọc luận án này, bạn sẽ hiểu rõ hơn về tầm quan trọng của việc lắng nghe ý kiến từ xã hội để tạo ra những bộ luật phù hợp, công bằng và hiệu quả hơn.

Để hiểu rõ hơn về vai trò của các cơ quan nhà nước trong quá trình xây dựng pháp luật, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ vai trò trách nhiệm của chính phủ đối với hoạt động xây dựng dự án luật pháp lệnh trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa việt nam. Tài liệu này sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc hơn về trách nhiệm của Chính phủ trong việc đảm bảo chất lượng của hệ thống pháp luật.