Chương 1. Lý luận vẻ phân biện xã hội trong hoạt động zây dung pháp luật. Thực trang vé phản biên sã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay. Yêu cầu va giải pháp nâng cao chất lượng phan biện zã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay.
l3 PHÀN TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài LL Tình hình nghiên cứu về phan biện xã hội Từ thời kỳ La Mã cỗ đại những công dân tư do được tham gia góp ý cho các chủ trương lớn của Nhà nước Chủ nô. Trong các tác phẩm của Platon, Aristotle đã nói đên PBXH của các nha thông thái đối với các quyết sich cia Nhà nước. Tuy nhiên phải đến thời kỹ khai sáng, PBXH mới thật sử trở thánh.
những van để quan trong trong đời sống chính trị với các tác phẩm kinh điển của các học giã như.Mill, Voltaire, Direrot. Tại các nước phát triển việc nghiên cửu được quan tâm, đặc biệt là trong mỗi quan hệ giữa Nha nước, xã hội và cá nhân. Mặc dù không có công trình nghiên cứu nao mang tỉnh chuyên biết, nhưng các nh nghiền cứu của chủ nghĩa Mác- Lê Nin đã nhắn mạnh PBXH trên tỉnh thân phát huy vai trỏ của quần chúng nhân dân trong sự phát triển của sã hội. PBXH chưa được quan tâm đúng mức trên phương diện nghiên cứu khoa học và ap dung vào hoạt động thực tiễn.
Cho nên đó là khoảng trắng để các thể hệ sau nghiên cứu và bỗ sung cho hoàn thiện về lý luận cia chủ nghĩa Mác ~ Lê Nin Các học giả nước ngoài để cập đến PBXH trên nhiều phương diện, điển hính như Michael Walzer trong cuốn sách: “Interpetation and Soctal Criticism’ (chi gid và phản biên xã hội). Michael Walzer đã phân tích làm sảng tö hoạt động PBXH với tu cách lả một hoạt động xã hội. Cuỗn sách phan ánh thực tiễn PBXH, giải thích nó vả việc hình thành các chuẩn mực đạo đức của PBXH. Nội dung cuốn sách còn để cập đến tranh luận vé các quan niệm khác nhau hiện nay khí nói đến PBXH.
Lý thuyết va vai trò của trí thức trong việc hình thành PBXH để tạo nên sự thay đỗi xã hội thông qua PBXH. PBXH 14 được nhìn nhân ở nhiễu góc độ khác nhau, cấp vi mô là sự hình thành, phát triển các lý thuyết, hệ tư tưởng chủ đao trong x8 hôi, ở cấp độ vi mô là sự phê tình, phân ánh, chỉ trích đường lôi chính sách và hoạt đồng của Nhà nước, đăng chính trị, phong trào sã hồi Với lập trường của những người theo chủ nghĩa da nguyên, David B.Truman: “The governmental Proceses “(các qua trình Chính phi) va Robert ADabl “Dilemas of Pluralistdemocracy” đã phân tích sự hình thành cia các nhóm lợi ích, các tổ chức chính trị xã hội cùng với quá trình sử dụng chính ti Nhà nước. Người dân sống trong zã hội déu phải tham gia vào các nhóm tổ. chức với những lợi ích khác nhau, nên dẫn dén có sự phân chia quyển lợi từ trong tổ chức nhằm nắm lầy quyển lực phủ hợp với kha năng vả mục tiêu của minh, Các nhóm lợi ich tác đông đền chính sch Nha nước trên nhiều góc độ nhưng không đất được ảnh hướng tuyệt đổi ngay cä đổi với Chính phủ.
chat của Nha nước nếu nhìn trên phương diện lợi ích thì có thể xem đó 1a lợi ích nhóm của một số người có vi trí đặc biệt trong x8 hội. Các tác giả đánh giá cao vai trò của các nhóm lợi ích trong việc ảnh hưởng đến qua trình thực hiện hiện chính sách của Nha nước Vi vậy toàn bô quá trình chính tri là qua trình tương tắc, kiếm chế đổi trong giữa các nhóm, ting lớp khác nhau trong xã hội. Cac tác giả thửa nhận rằng các tổ chức và các thé chế có xu hướng để cao lợi ích lâm cho chính sách của Nhà nước có thé bị thay đổi hoặc có thể bi phân. Qua trình hoạch định, quyết định, chính sách luôn bị ảnh.
thưởng của nhiễu yếu tố, sự cạnh tranh chỉnh trị, các chiến lược vận động tranh cỡ, lợi ích nhóm, lợi ích quốc gia và PBXH được hình thảnh từ đây. Trong cuốn sich: “ Jaterest Group Politis” (chính tri của nhóm lợi ich), Allan J. Cigler nghiên cứu vai tro của nhóm lợi ích trong quá trình hoạch định. chính sách của Nhà nước Bắt đầu từ việc cung cấp thông tin, dữliệu phn ánh nhiều chiêu của chính sách đến sự bình luân, chi trích, phê phán của các nhóm.
15 trên phương tiên truyền thông và dư luận. Các nhom lợi ich tập trung sự chủ ý và thu hút ngày cảng đồng đão sư quan tém của các nhà nghiền cứu, nhả khoa học, các học giã vào các vẫn để của minh. Méi quan hệ giữa các nhóm lợi ich ‘va các ủy ban trong quả trình hoạch định chính sách cũng có thé dẫn đến đồng. Các nhóm lợi ích có thể cam kết ting hộ nhất định về phiếu cử trị, sự quyên gop tài chính cho hoạt động đăng phái, vận động tranh cử và đổi lại các nha lập pháp ở các ủy ban có thé ra những quyết sách, quyết định thiên vị cho lợi ích của nhóm này, Ở đây PBXH được zem như một phương thức giải quyết mỗi quan hệ giữa các nhóm lợi ích Một sé học giả nước ngoài đã nghiên cứu vé PBXH ở Việt Nam đặt trong méi quan hệ với xã hôi đân sự, van dé dân chủ, quyền con người, chế độ một ding cảm quyền, cụ thể như (1) Ove Bring, Christer Gunnarsson,” Việt ‘Nam: Dân cini và Quyền con người” (Vietnam: Democracy and Human Right), Thụy Điển, Viện hợp tác quốc tế, (1998): tác giả cho rằng các tổ chức xã hội ở Việt Nam đã góp phan đáng kể vào thúc đẩy dan chủ vả quyển con người ở Việt Nam, (2) CarlyleA.
Thayer (2008), “Nguyên tắc một Đáng iãnit dao và sự thách thức của xã lội dân sựở Việt Nam” (One Party Rule and Challenge of Civil Society in Vietnam), hội thảo, Đại học Hồng Kong, 3/2008: nghiên cứu zuất phát từ cách nhin nhân của các nên dân chủ phương Tây cho rằng một đăng cảm quyển la thách thức đổi với xây dựng zã hội dn sự - mã xã hội dân sw la không gian tự do cho GSXH và PBXH, (3) Lux, Steven J. Straussman, “Nghiên cứu sựcân bằng của các tổ chức phi chính ph Việt Nam khi vân hành trong một xã lội dân sue cô tính cm hưởng " (Searching for Balance: Vietnamese NGOs Operating in a State- Led Civil Society), Tạp chi Hành chính công va phát triển, 24(2), (2004): tác giả nhân mạnh cách thức tạo ra sự cân bằng giữa xã hội dan sự với Nha nước. và thị trường, nhất là trong điều kiện Việt Nam đang chuyển sang nên kinh tế 16 thị trường Đây chính là điều kiện để các tổ chức xã hội giám sát tốt hơn thi trường và Nha nước. Mốt số tác giả đã nói lên vai trò của báo chí trong thực hiện PBXH như Tac phẩm “Quyền iực tint te và bến đời tổng bí tuc” của Vichto Aphanaxép, Nha xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, (1995).
Tác giả đã cho thấy vai trò, giá trị của bao chí là quyên lực thứ tư bên cạnh quyên lập pháp, hành pháp và tư pháp. Chức năng PBXH của báo chi có vai trò quan trong trong việc hướng tới mục tiêu xây dựng vả phát triển xã hội tự do, dân chủ. Báo chỉ có chức năng PBXH một cách manh mế tạo diễn đàn rồng rồi, thu hút sự tham gia của xã hội vé thông tin phin hồi chính sách giữa người dên và Nha nước Tác phẩm từ thé giới thứ ba đến thé giới thứ nhất: Câu chuyện Singapore 1965-2000 From Third World to First The Singapore Story. 1965-2000), Nhà xuất ban Harper Collins, 1997 của Ly Quang Diệu.
Ông cho sang năng lực đối thoại của Nhà nước trước nhân dân phải có câu trả lời khí có sự phân biện của sã hôi. Giai đoạn nay, Lý Quang Diệu đã đối thoại thẳng thắn trên bao chí, trên mọi diễn dan va sau đó phe đổi lập phải lùi bước trước các phản bác từ phía chính quyển Điều nảy doi héi năng lực của người cảm quyển khi đối điên với phan biến từ nhân dân. Những công trình nêu trên đều thể hiện quan điểm cho rằng PBXH là yên câu khách quan của hệ thông quản ly Nhà nước. Nêu quyền lực không được kiểm soát thi dẫn đến lam quyên, quyền lực sẽ bi tha hoa.
Tuy nhiên van để PBXH trong hoạt đông XDPL chưa được nghiên cứu với những công trình khoa học cu thể. Do vay đây 18 một trong những vẫn để nghiên cứu sinh cản. tiếp tục nghiên cứu, bỗ sung lâm sáng tỏ trong Luận án. Tình hành nghiên cứn về phân biện xã hội trong hoạf động xâp dung pháp luật Tac giã Jean-Jacques Rousseau, khi dé cập đến vai trỏ quan trọng của dân chúng tham gia vào quá trình quản ly đắt nước, trước hết la làm luất, ông viết: “Luật chỉ la những điều Kiện chính thức của việc tập hop dân sự.
Dân chúng tuân theo luật phải là người làm ra luật”. Theo Rousseau, việc xây đựng một Nha nước pháp quyên chính la xây dựng một chính thé dân chủ, với những quan hệ sã hội mang tính "ương tôn pháp luật”, được van hank trong cuộc sống Và để duy trì quyển uy tôi cao của luật pháp, Rousseau khẳng. đính: “Quy luc tối cao không có sức manh nào ngoài quyên lập pháp, nên chỉ hoạt đông bằng các dao luật. Các đạo Iuật là hành vi hợp thức cũa ÿ chí chung.
Cho nên, quyền lực tối cao chi có 1 tác động khi dân chủng hop lại “ Quan điểm nay của Jean-Jacques Rousseau, dù không trực tiếp nói PBXH, nhưng nhận thay muén quản lý đất nước hiệu quả, cẩn có PBXH từ người dân, đặc tiệt là trong XDPL Tác giả John Stuart Mill (2014) trong tác phẩm Bản về tự do (Nguyễn. Van Trong dich), nhà xuất bản Tri thức, Hà Nội đã khẳng định: “Ching ta không bao giờ chắc chắn được rằng cái ý kiến mà ta đang cổ sức dập tắt ia một ƒ kiến sai lầm; ngay cả nếu nửnt ciing ta tin chắc đi nika thi việc dập nó vẫn ià một điêu xẩu xa”; và ông cho rằng: “Khi mà người ta còn buộc phải Tổng nghe cả hai phía thi vẫn còn hy vọng: còn kit người ta chỉ chăm io tới mot phía thi các sai lầm sẽ kết lại thành thiên kiến và bẩn thân các chân iÿ s không. còn cho hiệu qua của chân i nữa, mà bị thôi phẳng lên thành nguy tạo”. Lập luận nay của J.