Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ luật học với đề tài "Phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay" được tác giả Lê Viết Thiện thực hiện tại Trường Đại học Luật Hà Nội (Bộ Giáo dục và Đào tạo – Bộ Tư pháp), thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Dương Thị Thanh Mai và TS. Nguyễn Quốc Hoàn.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Phản biện xã hội (PBXH) là phương thức được áp dụng lâu đời trên thế giới nhằm kiểm soát quyền lực nhà nước và bảo đảm tính dân chủ trong quản lý xã hội. Tại Việt Nam, đây là vấn đề tương đối mới mẻ nhưng có ý nghĩa thời sự trong bối cảnh xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN).

Chủ trương của Đảng Cộng sản Việt Nam về PBXH đã được xác định qua nhiều văn kiện quan trọng:

  • Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, nhấn mạnh việc hình thành cơ chế thu hút các hiệp hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, chuyên gia tham gia hoạch định chính sách, soạn thảo, thẩm định dự thảo văn bản và xác định cơ chế PBXH của nhân dân đối với dự thảo văn bản quy phạm pháp luật (QPPL).
  • Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, XI, XII của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò giám sát và PBXH của Mặt trận Tổ quốc (MTTQ) Việt Nam, các đoàn thể nhân dân, các hội khoa học và công nghệ, khoa học xã hội, văn học nghệ thuật; ban hành Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị về Quy chế giám sát và PBXH, quy định nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng và chính quyền.
  • Về phương diện pháp luật, thuật ngữ "phản biện xã hội" lần đầu tiên được hiến định tại Điều 9 Hiến pháp năm 2013, sau đó được cụ thể hóa tại Chương VI Luật MTTQ Việt Nam năm 2015, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2020, cùng các văn bản liên quan như Quyết định số 22/2002/QĐ-TTg, Quyết định số 14/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ đối với Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) và Nghị định số 45/2010/NĐ-CP.

Mặc dù có cơ sở chính trị và pháp lý bước đầu, tác giả chỉ ra ba nhóm bất cập cơ bản trong thực tế:

  1. Về lý luận: Nhận thức về PBXH trong hoạt động xây dựng pháp luật (XDPL) chưa gắn chặt với lý thuyết quyền con người, quyền công dân và bản chất của Nhà nước pháp quyền. PBXH chưa được nhìn nhận đầy đủ như một phương thức thực hiện quyền dân chủ trực tiếp để nhân dân tham gia vào nhánh quyền lực lập pháp.
  2. Về pháp luật: Hệ thống quy định hiện hành còn tản mạn, thiếu tính đồng bộ. Pháp luật chủ yếu tiếp cận PBXH như một chức năng riêng biệt của MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội mà chưa quy định như quyền phổ quát của mọi công dân. Thiếu các quy định bắt buộc về cơ chế tiếp thu, phản hồi, giải trình của cơ quan soạn thảo và chế tài đối với việc không giải trình ý kiến phản biện.
  3. Về thực tiễn: Hoạt động PBXH đối với các dự thảo văn bản luật còn mang tính hình thức, bị động, chậm thời điểm; năng lực, kỹ năng của chủ thể phản biện còn hạn chế; việc tiếp thu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa thực chất. Các nghiên cứu trước đây chủ yếu tập trung vào PBXH nói chung dưới góc độ chính trị học hoặc xã hội học, chưa có công trình chuyên khảo nghiên cứu sâu sắc PBXH trong hoạt động XDPL dưới góc độ khoa học pháp lý.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn của việc thực hiện PBXH trong hoạt động XDPL tại Việt Nam, từ đó xác định nhu cầu, xu hướng và đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động này nhằm hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN.

Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa các quan điểm, khái niệm về PBXH trong hoạt động XDPL ở Việt Nam và xây dựng luận điểm khoa học của tác giả về vấn đề này.
  2. Phân tích, đánh giá thực trạng PBXH trong hoạt động XDPL ở Việt Nam, chỉ ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân chủ yếu dẫn đến thực trạng đó.
  3. Nghiên cứu kinh nghiệm thực hiện PBXH trong hoạt động XDPL của một số quốc gia trên thế giới nhằm rút ra bài học tham khảo cho Việt Nam.
  4. Xác định nhu cầu và đề xuất các định hướng, nhóm giải pháp nâng cao chất lượng PBXH trong hoạt động XDPL ở Việt Nam trong giai đoạn tới.

Giả thuyết và câu hỏi nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu của luận án khẳng định: Hoạt động XDPL có sự tham gia và PBXH tích cực của nhân dân sẽ nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính khả thi của các văn bản QPPL khi ban hành. PBXH là hình thức thực hiện quyền tham gia quản lý nhà nước của công dân và các tổ chức đại diện, giúp chính sách pháp luật đạt được sự đồng thuận xã hội và duy trì ổn định lâu dài.

Để chứng minh giả thuyết, luận án giải quyết 3 câu hỏi nghiên cứu:

  • Câu hỏi 1: Phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật là gì?
  • Câu hỏi 2: Ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân chính của phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay?
  • Câu hỏi 3: Giải pháp nào cho việc nâng cao chất lượng của phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động PBXH trong quá trình xây dựng các văn bản pháp luật, trọng tâm là quá trình xây dựng các đạo luật (văn bản luật).
  • Phạm vi không gian: Thực tiễn PBXH và hệ thống pháp luật tại Việt Nam, đồng thời mở rộng so sánh kinh nghiệm lập pháp và tham vấn tại một số quốc gia (Anh, Úc, Pháp, Nga, Thụy Điển, Trung Quốc, Hoa Kỳ...).
  • Phạm vi thời gian: Luận án tập trung nghiên cứu dữ liệu từ năm 2010 đến năm 2022 (mốc thời gian trước và sau khi Hiến pháp năm 2013 được thông qua và có hiệu lực).

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã tổng thuật toàn diện các công trình nghiên cứu trong nước và quốc tế liên quan đến đề tài theo hai trục nội dung chính.

Các hướng nghiên cứu ngoài nước

  • Tư tưởng cổ điển và khai sáng: Platon và Aristotle đề cập đến việc nhà thông thái phản biện các quyết sách của nhà nước chủ nô; các tác phẩm của Voltaire, Diderot, Jean-Jacques Rousseau và John Stuart Mill đặt nền móng cho tự do tư tưởng và phản biện. Rousseau khẳng định dân chúng tuân theo luật phải là người làm ra luật; J. S. Mill (Bàn về tự do) lập luận việc lắng nghe ý kiến trái chiều là điều kiện để ngăn chặn sai lầm trở thành thiên kiến.
  • Lý thuyết chính trị hiện đại và nhóm lợi ích: Michael Walzer (Interpretation and Social Criticism) phân tích PBXH như một hoạt động xã hội định hình các chuẩn mực đạo đức ở cả cấp độ vi mô và vĩ mô; David B. Truman (The Governmental Process) và Robert A. Dahl (Dilemmas of Pluralist Democracy) tiếp cận dưới góc độ chủ nghĩa đa nguyên, chỉ ra sự tương tác và kiềm chế giữa các nhóm lợi ích trong việc tác động lên chính sách công; Allan J. Cigler (Interest Group Politics) làm rõ vai trò cung cấp dữ liệu, chỉ trích chính sách của các nhóm trên truyền thông và quy trình lập pháp.
  • Nghiên cứu về Việt Nam: Ove Bring và Christer Gunnarsson (1998) nghiên cứu về dân chủ và quyền con người tại Việt Nam; Carlyle A. Thayer (2008) phân tích nguyên tắc một đảng lãnh đạo và xã hội dân sự; Steven J. Lux và Jeffrey D. Straussman (2004) xem xét sự vận hành của các tổ chức phi chính phủ (NGO) trong việc giám sát thị trường và nhà nước. Vichto Aphanaxép (1995) và Lý Quang Diệu (1997) nhấn mạnh năng lực đối thoại của nhà nước trước phản biện của báo chí và xã hội.
  • Quy trình lập pháp và tham vấn công chúng: Các chuyên đề lập pháp năm 2014 của Văn phòng Quốc hội nghiên cứu quy trình làm luật tại Trung Quốc, Australia, Pháp, Nga, Thụy Điển, Anh; chuyên đề của Viện Nghiên cứu Lập pháp (10/2014) về tham vấn công chúng tại Hoa Kỳ, Canada, Romania, Hungary, Thái Lan với các hình thức điều trần công khai, tham vấn phi chính thức và tham vấn tổ chức chuyên nghiệp.

Các hướng nghiên cứu trong nước

Tác giả phân loại nguồn tài liệu trong nước thành 3 nhóm lớn:

Nhóm nghiên cứu Tác giả và công trình tiêu biểu Nội dung và luận điểm chính
PBXH nói chung PGS. Trần Hậu (Đề tài KX.10-06/06-10 năm 2010; bài báo năm 2014); Hồ Bá Thâm và Nguyễn Tôn Thưởng (2010); TS. Trần Đăng Tuấn (2006); GS.TS. Nguyễn Minh Đoan (2011); PGS.TS. Trần Thái Dương (2006); Bùi Thị Hoa; Nguyễn Thị Tâm; Phạm Quang Tú; Nguyễn Trần Bạt. Phân tích khái niệm, bản chất, nguyên tắc, tiêu chí phân loại PBXH; khẳng định PBXH là công cụ kiểm soát quyền lực, giải quyết xung đột lợi ích nhằm đạt được đồng thuận xã hội.
PBXH trong hoạt động lập pháp và XDPL Nhóm tác giả Dương Thị Thanh Mai, Lê Thị Thiều Hoa, Trương Hồng Quang (Bộ Tư pháp, 2012); Vũ Hồng Anh; Trương Thị Ngọc Lan (Luận văn thạc sĩ 2005); Phạm Thị Thanh Nga (Luận văn thạc sĩ 2011); PGS.TS. Nguyễn Văn Đông (2011); GS.TS. Nguyễn Minh Đoan (2009); Nguyễn Ngọc Điện (2006). Nghiên cứu PBXH trong hoạt động lập pháp của Quốc hội; vai trò của giới khoa học đối với dự án luật; đề xuất hoàn thiện quy trình lập pháp. Đáng chú ý, tác giả Nguyễn Văn Đông đề xuất mô hình Luật Phản biện xã hội gồm 8 chương, 5 nhóm vấn đề.
Chủ thể thực hiện PBXH (MTTQ và Báo chí) PGS. Phạm Xuân Hằng (Đề tài 01X-11/02-2009-01); Nguyễn Thọ Ánh (2012); Vũ Thị Như Hoa (Luận án tiến sĩ 2013); Nguyễn Phúc Quỳnh (2014); Lê Thị Hồng Diễm (2008); Nguyễn Văn Pha (2013); Đỗ Duy Thường (2006); Đỗ Văn Quân (2013); Nguyễn Văn Minh (2014); Trần Xuân Thân (2017); Nguyễn Quang Vinh (2017); Phan Văn Kiền (2002); Nguyễn Văn Dũng (2017); Đặng Thị Thu Hương (2013); Hạnh Nguyên (2014). Làm rõ chức năng giám sát, PBXH của MTTQ các cấp và cơ quan báo chí (báo in, báo điện tử); kiến nghị luật hóa thẩm quyền và chế tài bảo đảm cho hoạt động phản biện của các chủ thể này.

Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết

Luận án xác định các khoảng trống học thuật cần tiếp tục làm sáng tỏ:

  • Các nghiên cứu hiện có chủ yếu tiếp cận PBXH dưới góc độ chính trị học, xã hội học hoặc báo chí, chưa xây dựng được hệ thống lý luận hoàn chỉnh về PBXH trong hoạt động XDPL dưới góc độ khoa học pháp lý chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật.
  • Chưa có công trình nào tiếp cận PBXH trong hoạt động làm luật xuất phát từ quyền con người, quyền công dân gắn liền với nghĩa vụ, trách nhiệm giải trình của Nhà nước pháp quyền khi thực thi nhánh quyền lực lập pháp.
  • Pháp luật hiện hành mới chỉ điều chỉnh trong phạm vi hẹp là hoạt động của MTTQ Việt Nam, để lại khoảng trống thể chế đối với sự tham gia trực tiếp của công dân, các hội nghề nghiệp và giới chuyên gia độc lập trong quy trình lập pháp.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Cơ sở lý luận nền tảng: Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về bản chất nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền con người và quyền công dân trong việc tham gia quản lý nhà nước và xã hội.
  • Khung phân tích tiếp cận quyền: Tác giả xây dựng khung lý thuyết tiếp cận hai chiều:
    1. Chiều công dân: PBXH là phương thức thực hiện quyền chính trị cơ bản (dân chủ trực tiếp), cho phép cá nhân và các tổ chức đại diện tham gia trực tiếp vào quy trình làm luật; công dân có quyền đòi hỏi nhà nước tạo điều kiện và bảo vệ an toàn pháp lý khi thực hiện phản biện.
    2. Chiều Nhà nước: Nhà nước pháp quyền có trách nhiệm và nghĩa vụ hiến định trong việc kiến tạo thể chế, cung cấp thông tin, tổ chức quy trình tiếp nhận, lắng nghe và giải trình minh bạch các ý kiến phản biện của xã hội; xử lý nghiêm minh các hành vi cản trở hoặc lợi dụng PBXH.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội và pháp lý cụ thể:

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp: Là phương pháp chủ đạo, được sử dụng xuyên suốt để làm rõ bản chất hiện tượng, phân tích các quan niệm khoa học về PBXH và XDPL, tổng thuật tình hình nghiên cứu và đánh giá hệ thống quy định pháp luật cũng như thực tiễn thi hành.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu các mô hình, quy chuẩn và kinh nghiệm về PBXH, tham vấn công chúng trong quy trình lập pháp giữa các quốc gia (Anh, Úc, Pháp, Mỹ, Nga, Trung Quốc...) với thực tế tại Việt Nam để rút ra các giá trị tham khảo.
  • Phương pháp nghiên cứu hệ thống: Xem xét PBXH như một yếu tố cấu thành trong cơ chế vận hành quyền lực nhà nước, đặt trong mối quan hệ hữu cơ với quá trình XDPL, tổ chức bộ máy nhà nước và nền tảng dân chủ XHCN; tổ chức các luận điểm, kết cấu chương mục bảo đảm tính kế thừa và logic khoa học.
  • Phương pháp thống kê: Thu thập, tổng hợp các dữ liệu thực tế về kết quả thực hiện PBXH, các vụ việc điển hình và những bất cập, sai sót trong quá trình ban hành văn bản QPPL giai đoạn 2010–2022.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Dữ liệu của luận án được trích xuất từ:

  • Hệ thống văn kiện Đại hội Đảng (X, XI, XII), các Nghị quyết (Nghị quyết 48-NQ/TW), Quyết định của Bộ Chính trị (Quyết định 217-QĐ/TW, 218-QĐ/TW).
  • Văn bản QPPL: Hiến pháp 2013, Luật MTTQ Việt Nam 2015, Luật Ban hành văn bản QPPL 2015 (sửa đổi, bổ sung 2020), Nghị định 45/2010/NĐ-CP, Quyết định số 22/2002/QĐ-TTg, Quyết định số 14/2014/QĐ-TTg.
  • Các báo cáo chính thức của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Báo cáo chuyên đề của Văn phòng Quốc hội, Viện Nghiên cứu Lập pháp, Viện Khoa học Pháp lý (Bộ Tư pháp) và số liệu thực tiễn phản ánh trên báo chí, tạp chí chuyên ngành.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Lý luận về phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật

Chương 1 thiết lập các luận điểm lý thuyết cơ bản về XDPL và PBXH:

  • Bản chất của hoạt động XDPL: Tác giả dẫn chiếu các quan điểm học thuật: GS.TS. Trần Ngọc Đường (2009) khẳng định XDPL là "quá trình tìm tòi các giá trị mà xã hội có, xã hội cần, xã hội ủng hộ"; TS. Dương Đăng Huệ và TS. Nguyễn Văn Dung (2021) nhấn mạnh XDPL theo nghĩa hẹp là hoạt động ban hành pháp luật của cơ quan có thẩm quyền, nghĩa rộng là hoạt động có sự tham gia của cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và cá nhân; TS. Nguyễn Quốc Văn (2020) xác định XDPL là "một hoạt động kỹ thuật - pháp lý mang tính chính trị"; GS.TS. Nguyễn Minh Đoan (2011) coi đây là quá trình hoạt động phức hợp nhằm chuyển hóa ý chí của Nhà nước và nhân dân thành các QPPL. Luận án chỉ rõ đặc điểm cơ bản đầu tiên của XDPL: là hình thức hoạt động mang tính quyền lực nhà nước, do cơ quan có thẩm quyền thực hiện, tạo ra các QPPL có tính bắt buộc chung.
  • Khái niệm, đặc điểm và vai trò của PBXH trong XDPL: Luận án định vị PBXH trong XDPL là hoạt động mang tính độc lập của các chủ thể xã hội (công dân, MTTQ, các tổ chức thành viên, hội nghề nghiệp, cơ quan nghiên cứu, báo chí) đưa ra nhận xét, đánh giá, phản bác hoặc kiến nghị đối với dự thảo văn bản QPPL nhằm nâng cao tính hợp lý, khả thi và hợp hiến của luật.
  • Cấu trúc của hoạt động PBXH: Phân tích cụ thể 4 yếu tố cấu thành: chủ thể (cơ cấu tổ chức và cá nhân có quyền phản biện), đối tượng (dự thảo văn bản pháp luật, chính sách lập pháp), hình thức (tổ chức hội thảo, tọa đàm, gửi văn bản nhận xét, điều trần, lấy ý kiến rộng rãi, truyền thông báo chí) và quy trình (các bước từ tiếp nhận dự thảo, thu thập dữ liệu, phân tích, gửi kiến nghị đến theo dõi tiếp thu).
  • Các yếu tố ảnh hưởng và kinh nghiệm quốc tế: Đánh giá tác động của thể chế chính trị, trình độ dân trí, trách nhiệm giải trình của nhà nước và năng lực chuyên gia đối với chất lượng phản biện; tổng thuật kinh nghiệm tham vấn công chúng và quy trình lập pháp tại các nước phát triển để so sánh.

Chương 2. Thực trạng về phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Chương 2 tập trung phân tích thực chứng giai đoạn từ năm 2010 đến năm 2022:

  • Cơ sở pháp lý: Phân tích khung pháp luật điều chỉnh PBXH gồm Điều 9 Hiến pháp 2013; Chương VI Luật MTTQ Việt Nam 2015; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2020 (chính thức ghi nhận vai trò PBXH của MTTQ Việt Nam và mở rộng cơ chế lấy ý kiến dự thảo). Đánh giá sự thiếu hụt các đạo luật mang tính nền tảng bảo đảm như Luật về hội, Luật trưng cầu ý dân, Luật tiếp cận thông tin.
  • Những ưu điểm, thành tựu đạt được: Bước đầu tạo lập được hành lang pháp lý hiến định và luật định; MTTQ và các tổ chức xã hội - nghề nghiệp (VUSTA, VCCI...) đã tham gia góp ý nhiều dự án luật quan trọng; báo chí phát huy vai trò diễn đàn phản ánh bức xúc xã hội và truyền tải ý kiến chuyên gia; cơ quan soạn thảo bước đầu chú trọng thủ tục lấy ý kiến công chúng.
  • Tồn tại, hạn chế: PBXH trong lập pháp vẫn còn biểu hiện dân chủ hình thức; việc tổ chức lấy ý kiến nhiều nơi chỉ mang tính thủ tục; thời gian dành cho việc nghiên cứu dự thảo quá ngắn khiến các chuyên gia và nhân dân khó đóng góp sâu; nhiều văn bản ban hành vẫn bộc lộ sơ hở, chồng chéo, xa rời thực tế.
  • Nguyên nhân: Nguyên nhân chủ quan xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ của cơ quan nhà nước về trách nhiệm giải trình, tâm lý ngại tiếp thu ý kiến trái chiều; năng lực phân tích chính sách của các chủ thể xã hội chưa đồng đều; nguyên nhân khách quan do thiếu chế tài pháp lý bắt buộc tiếp thu, thiếu cơ chế tài chính và thông tin hỗ trợ hoạt động phản biện độc lập.

Chương 3. Yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật ở Việt Nam hiện nay

Chương 3 xây dựng hệ thống quan điểm và 3 nhóm giải pháp đồng bộ:

  • Yêu cầu đối với PBXH trong XDPL: Phải bảo đảm tính khoa học, khách quan, xây dựng; tuân thủ nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ quyền con người, quyền công dân; kết hợp hài hòa giữa dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp; gắn liền với trách nhiệm minh bạch, giải trình của cơ quan chủ trì soạn thảo.
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật (3.2.1):
    • Thể chế hóa đầy đủ quyền phản biện của công dân thành quyền pháp lý cụ thể, không chỉ bó hẹp trong phạm vi MTTQ.
    • Hoàn thiện Luật Ban hành văn bản QPPL theo hướng quy định rõ trách nhiệm bắt buộc phải giải trình công khai việc tiếp thu hoặc không tiếp thu các kiến nghị PBXH.
    • Tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và ban hành đạo luật riêng về PBXH (kế thừa đề xuất của PGS.TS. Nguyễn Văn Đông về Luật PBXH).
    • Hoàn thiện các luật liên quan: Luật về hội, Luật tiếp cận thông tin, Luật trưng cầu ý dân.
  • Nhóm giải pháp hoàn thiện biện pháp tổ chức thực hiện (3.2.2): Chuẩn hóa quy trình PBXH trong quy trình lập pháp; đa dạng hóa các hình thức phản biện (kết hợp hội thảo khoa học, điều trần công khai, khảo sát dư luận và phản biện qua báo chí điện tử); đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các chủ thể phản biện.
  • Nhóm giải pháp tạo lập các điều kiện bảo đảm (3.2.3): Bảo đảm quyền tiếp cận thông tin dự thảo luật sớm và đầy đủ cho nhân dân và giới chuyên gia; xây dựng cơ chế bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất độc lập cho hoạt động phản biện; nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng lập pháp cho đội ngũ cán bộ MTTQ, các hội nghề nghiệp và nhà báo; thiết lập cơ chế bảo vệ người phản biện khỏi các hành vi trả thù hoặc xâm hại lợi ích hợp pháp.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về lý luận

  1. Đổi mới cách tiếp cận nghiên cứu: Luận án tiếp cận PBXH trong hoạt động XDPL dựa trên lý thuyết quyền con người, quyền công dân theo chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật. Luận án khẳng định PBXH là phương thức để nhân dân thực hiện quyền dân chủ trực tiếp và quyền tham gia quản lý nhà nước - trực tiếp can dự vào quá trình thực thi quyền lập pháp chứ không đơn thuần là hoạt động tư vấn, tham khảo.
  2. Làm rõ mối quan hệ pháp lý hai chiều: Xác lập luận điểm khoa học về nghĩa vụ của Nhà nước trong việc bảo đảm các điều kiện thực thi PBXH, bảo vệ người phản biện và trách nhiệm giải trình minh bạch; song hành với nghĩa vụ của công dân là thực hiện quyền trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, không lợi dụng dân chủ để vụ lợi hay chống đối.
  3. Chỉ ra bất cập cốt lõi trong tư duy lập pháp: Luận án làm rõ nút thắt lý luận hiện nay là pháp luật đang đồng nhất PBXH như một "chức năng riêng có" của MTTQ Việt Nam, làm hạn chế sự tham gia trực tiếp của công dân và các thiết chế xã hội độc lập khác vào quy trình làm luật.

Đóng góp mới về thực tiễn và kiến nghị giải pháp

  • Đánh giá thực trạng pháp lý và thực thi PBXH trong giai đoạn 2010–2022, chỉ rõ nguyên nhân của tính hình thức trong công tác lấy ý kiến nhân dân đối với các dự thảo luật.
  • Đề xuất định hướng lập pháp lâu dài là ban hành một đạo luật riêng biệt điều chỉnh hoạt động PBXH, đồng thời sửa đổi Luật Ban hành văn bản QPPL để quy định chặt chẽ chế tài và thời hạn giải trình ý kiến PBXH của cơ quan soạn thảo.
  • Đưa ra hệ thống giải pháp toàn diện về tổ chức thực hiện, minh bạch thông tin dữ liệu lập pháp và bảo đảm tài chính nhằm nâng cao tính khả thi của hệ thống pháp luật Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của luận án: Luận án chủ yếu tập trung phân tích PBXH trong quá trình xây dựng các đạo luật (văn bản luật của Quốc hội), chưa đi sâu phân tích toàn diện hoạt động PBXH đối với hệ thống văn bản dưới luật (nghị định của Chính phủ, thông tư của các bộ, nghị quyết của Hội đồng nhân dân và quyết định của Ủy ban nhân dân các cấp). Ngoài ra, các nguồn dữ liệu khảo sát thực tiễn chủ yếu tập trung từ mốc Hiến pháp năm 2013 đến thời điểm năm 2022.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu cơ chế PBXH đối với các văn bản quy phạm pháp luật của chính quyền địa phương; nghiên cứu sâu về mô hình điều trần công khai và kỹ thuật số hóa trong việc lấy ý kiến, tiếp nhận và xử lý phản hồi PBXH đối với chính sách công; khảo cứu chi tiết việc xây dựng dự thảo Luật Phản biện xã hội tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu nghiên cứu chuyên sâu, hữu ích cho các nhóm đối tượng:

  • Cơ quan hoạch định chính sách và lập pháp: Cung cấp luận cứ khoa học để Ủy ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Bộ Tư pháp và các ban soạn thảo hoàn thiện quy trình lập pháp trong Luật Ban hành văn bản QPPL; xây dựng cơ chế bắt buộc giải trình ý kiến phản biện xã hội.
  • Hệ thống Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức đoàn thể: Hỗ trợ cán bộ MTTQ, VUSTA, VCCI, các hội luật gia nắm vững quy trình, phương pháp và tiêu chí đánh giá chất lượng phản biện đối với các dự án luật.
  • Nghiên cứu sinh, giảng viên, sinh viên ngành Luật học: Làm tài liệu tham khảo giảng dạy và học tập các môn học Lý luận chung về Nhà nước và pháp luật, Xây dựng văn bản QPPL, Quyền con người và Luật Hiến pháp.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án định nghĩa phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật như thế nào?

Theo luận án, PBXH trong hoạt động XDPL là việc các cá nhân, tổ chức đại diện hợp pháp của nhân dân (công dân, MTTQ, các tổ chức thành viên, nhà khoa học, hội nghề nghiệp, báo chí) độc lập nhận xét, phân tích, đánh giá, nêu chính kiến và kiến nghị đối với dự thảo văn bản QPPL nhằm nâng cao chất lượng, tính khả thi, tính hợp hiến, hợp pháp và bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của xã hội.

2. Điểm mới cơ bản trong cách tiếp cận lý luận của luận án là gì?

Luận án tiếp cận PBXH dựa trên nền tảng quyền con người và quyền công dân theo lý luận Nhà nước và pháp luật. Luận án không coi PBXH chỉ là nhiệm vụ chính trị mang tính nội bộ của MTTQ, mà khẳng định đây là hình thức thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của công dân trong việc tham gia quản lý nhà nước và tham gia vào quy trình lập pháp.

3. Những văn bản pháp lý chủ yếu nào tại Việt Nam được luận án phân tích khi đánh giá cơ sở pháp lý của PBXH?

Các văn bản pháp lý chính gồm: Hiến pháp năm 2013 (Điều 9); Luật MTTQ Việt Nam năm 2015 (Chương VI); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2020; Quyết định số 217-QĐ/TW và Quyết định số 218-QĐ/TW (12/12/2013) của Bộ Chính trị; Quyết định số 22/2002/QĐ-TTg và Quyết định số 14/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ; Nghị định số 45/2010/NĐ-CP của Chính phủ.

4. Bất cập lớn nhất của quy định pháp luật hiện hành về PBXH được luận án chỉ ra là gì?

Bất cập lớn nhất là hệ thống pháp luật quy định tản mạn, chậm thể chế chế hóa chủ trương của Đảng; mới chỉ nhìn nhận PBXH là chức năng của MTTQ mà chưa quy định như quyền phổ quát của công dân; thiếu các quy định ràng buộc trách nhiệm của cơ quan soạn thảo về việc tiếp thu, phản hồi công khai và thiếu chế tài xử lý khi không giải trình ý kiến PBXH.

5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp nào để nâng cao chất lượng PBXH trong hoạt động xây dựng pháp luật?

Tác giả đề xuất 3 nhóm giải pháp:

  • Nhóm 1: Hoàn thiện quy định pháp luật (sửa đổi Luật Ban hành văn bản QPPL, hoàn thiện các luật về quyền công dân như Luật về hội, Luật tiếp cận thông tin, hướng tới xây dựng Luật Phản biện xã hội).
  • Nhóm 2: Hoàn thiện các biện pháp tổ chức thực hiện (chuẩn hóa quy trình, đa dạng hóa hình thức như điều trần, tọa đàm, truyền thông báo chí).
  • Nhóm 3: Tạo lập các điều kiện bảo đảm (bảo đảm quyền tiếp cận thông tin dự thảo, bảo đảm kinh phí, cơ sở vật chất, bồi dưỡng kỹ năng chuyên môn và bảo vệ người phản biện).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Viết Thiện là công trình nghiên cứu chuyên sâu về phản biện xã hội trong hoạt động xây dựng pháp luật dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Nhà nước và pháp luật. Công trình đã làm rõ tính tất yếu khách quan của hoạt động phản biện xã hội trong việc bảo đảm dân chủ trực tiếp và kiểm soát quyền lực nhà nước đối với nhánh quyền lực lập pháp. Trên cơ sở phân tích thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành giai đoạn 2010–2022, luận án đã xây dựng hệ thống luận cứ khoa học và các giải pháp đồng bộ từ việc hoàn thiện thể chế đến tổ chức thực hiện. Các kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc nâng cao chất lượng quy trình lập pháp, hướng tới hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam.