Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong cơ cấu kinh tế của Việt Nam, phát triển kinh tế nông thôn giữ vị trí then chốt đối với sự ổn định và phát triển bền vững của quốc gia. Báo cáo của Tổng cục Thống kê năm 2016 ghi nhận ngành nông nghiệp cả nước đạt mức tăng trưởng 1,36% so với năm 2015 (sau 6 tháng đầu năm tăng trưởng âm), đóng góp 32,1 tỷ USD vào tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 175,9 tỷ USD của cả nước. Trong chu trình chuyển giao kỹ thuật và triển khai các chủ trương chính sách nông nghiệp tại địa bàn cơ sở, cán bộ phụ trách nông nghiệp cấp xã đóng vai trò làm cầu nối trực tiếp giữa cơ quan quản lý nhà nước với người nông dân.

Xã Cư Lễ, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn là một xã miền núi thuần nông, có tới 85% số hộ sinh sống bằng nghề nông với các ngành nghề chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi và lâm nghiệp. Dù nhận được sự quan tâm của chính quyền địa phương qua các chương trình hỗ trợ giống, chuyển giao kỹ thuật và vốn vay, sản xuất nông nghiệp tại Cư Lễ vẫn chịu tác động tiêu cực từ thời tiết cực đoan, thị trường tiêu thụ bấp bênh, giá vật tư phân bón cao và tình trạng thiếu hụt lao động trẻ do dịch chuyển sang các khu công nghiệp. Do đó, tác giả Nông Văn Vĩnh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Tìm hiểu vai trò, nhiệm vụ, chức năng của cán bộ phụ trách nông nghiệp tại xã Cư Lễ huyện Na Rì tỉnh Bắc Kạn" nhằm nhận diện thực trạng vận hành bộ máy chuyên môn và đề xuất giải pháp cải thiện hoạt động thực tiễn.

Mục tiêu chung của nghiên cứu là tìm hiểu vai trò, nhiệm vụ, chức năng cùng những thuận lợi, khó khăn của cán bộ phụ trách nông nghiệp xã, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động chuyên môn trong thời gian tới. Bốn nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể được xác định gồm:

  1. Khái quát điều kiện tự nhiên, những thông tin về đặc điểm tình hình sản xuất nông nghiệp xã Cư Lễ.
  2. Tìm hiểu vai trò, chức năng và nhiệm vụ của cán bộ phụ trách nông nghiệp tại xã Cư Lễ, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
  3. Đánh giá những thuận lợi và khó khăn của cán bộ phụ trách nông nghiệp tại xã Cư Lễ, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
  4. Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của cán bộ phụ trách nông nghiệp trong việc thúc đẩy sản xuất nông nghiệp.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Vai trò, chức năng, nhiệm vụ chuyên môn và tình hình hoạt động của cán bộ phụ trách nông nghiệp cấp xã.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Cư Lễ, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn.
  • Phạm vi thời gian: Thực hiện từ ngày 15/01/2018 đến ngày 30/05/2018 (sử dụng chuỗi dữ liệu thống kê sản xuất nông - lâm - thủy sản của địa phương từ năm 2014 đến năm 2017).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận làm rõ hệ thống lý luận về kinh tế nông nghiệp và phân định các khái niệm chuyên ngành:

  • Nông nghiệp và các phân ngành (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản, sơ chế nông sản).
  • Phân biệt giữa nông nghiệp chuyên sâu (sản xuất quy mô lớn, ứng dụng cơ giới hóa, sử dụng phân bón hóa học chọn lọc, tạo giống mới hướng đến thương mại và xuất khẩu) và nông nghiệp sinh nhai hay thuần nông (sản xuất tự cung tự cấp, đầu vào hạn chế, thiếu cơ giới hóa).
  • Khái niệm nông thôn và chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn gắn với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo định hướng "ly nông bất ly hương".
  • Phân định địa vị pháp lý giữa cán bộ và công chức cấp xã theo Điều 4 Luật Cán bộ, công chức năm 2008: Cán bộ xã là công dân được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ; công chức cấp xã là công dân được tuyển dụng giữ chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc UBND cấp xã, nằm trong biên chế hưởng lương ngân sách nhà nước. Cán bộ phụ trách nông nghiệp xã được chia thành hai nhóm: cán bộ lãnh đạo quản lý và cán bộ chuyên môn (địa chính, khuyến nông, thú y).

Hệ thống căn cứ pháp lý và văn bản quy phạm pháp luật được tác giả trích dẫn gồm:

  • Luật Cán bộ, công chức năm 2008.
  • Nghị định số 01/2008/NĐ-CP ngày 03/01/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.
  • Các nghị định về khuyến nông qua các thời kỳ: Nghị định số 13/NĐ-CP ngày 02/03/1993, Nghị định số 56/NĐ-CP ngày 26/04/2005 và Nghị định số 02/2010/NĐ-CP ngày 08/01/2010.
  • Nghị định số 92/2009/NĐ-CP về chức danh, số lượng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức xã, phường, thị trấn và những người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã.
  • Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/08/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn.
  • Thông tư số 04/2009/TT-BNN hướng dẫn nhiệm vụ của cán bộ, nhân viên chuyên môn, kỹ thuật ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn công tác trên địa bàn cấp xã.
  • Thông tư số 06/2012/TT-BNV của Bộ Nội vụ hướng dẫn chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức cấp xã.
  • Thông tư liên tịch số 61/2008/TTLT-BNN-BNV ngày 15/05/2008 và Thông tư liên tịch số 14/2015/TTLT-BNNPTNT-BNV ngày 25/03/2015 của Bộ Nông nghiệp và PTNT - Bộ Nội vụ.

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp thông qua phỏng vấn sâu cán bộ phụ trách nông nghiệp xã Cư Lễ và phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp từ tài liệu, báo cáo chuyên môn của địa phương.

STT Loại thông tin cần thu thập Nguồn thu thập
1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, dân số và lao động Phòng Thống kê xã Cư Lễ
2 Vai trò, nhiệm vụ, chức năng của cán bộ phụ trách nông nghiệp Cán bộ Nông nghiệp xã Cư Lễ
3 Những thuận lợi, khó khăn trong công tác chuyên môn Cán bộ Nông nghiệp xã Cư Lễ
4 Cơ sở lý luận và các khái niệm liên quan đến nông nghiệp Giáo trình, bài giảng, tài liệu Internet

Sau khi thu thập, thông tin và số liệu được xử lý bằng phương pháp tổng hợp, thống kê mô tả, phân tích định tính và so sánh để đánh giá hiệu quả triển khai công tác chuyên môn tại cơ sở.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ đặc điểm phát triển nông nghiệp Việt Nam và thực tiễn hoạt động của cán bộ cơ sở tại xã Cư Lễ. Chương này xác định rõ mục tiêu tổng quát, 4 mục tiêu cụ thể, nội dung nghiên cứu, phương pháp thu thập thông tin sơ cấp và thứ cấp. Đồng thời, tác giả thiết lập hệ thống yêu cầu đối với sinh viên thực tập về nghiệp vụ chuyên môn, thái độ, kỷ luật lao động, tác phong ứng xử công sở và các nhiệm vụ chấp hành quy chế tại UBND xã Cư Lễ từ ngày 15/01/2018 đến 30/05/2018.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Chương này tổng kết cơ sở lý luận về nông nghiệp, kinh tế nông thôn, quy định pháp lý về cán bộ - công chức cấp xã và chức trách của nhân viên kỹ thuật ngành nông nghiệp cơ sở theo Thông tư 04/2009/TT-BNN. Tác giả tổng hợp 6 nhóm nhiệm vụ cốt lõi của cán bộ nông nghiệp xã: cung cấp kiến thức khoa học kỹ thuật; thúc đẩy sáng kiến sản xuất; thực hiện truyền thông; hỗ trợ nông dân giải quyết khó khăn; hỗ trợ thành lập tổ chức nông dân; xây dựng, giám sát, đánh giá hoạt động nông nghiệp.

Về cơ sở thực tiễn, tác giả phân tích mô hình Ban Nông nghiệp xã tại tỉnh Nam Định: toàn tỉnh có 211 ban nông nghiệp xã, thị trấn và 2 ban nông nghiệp phường với tổng số 1.094 cán bộ kỹ thuật (223 khuyến nông, 15 khuyến diêm, 106 khuyến ngư, 209 bảo vệ thực vật, 213 thú y, 171 quản lý đê, 157 giao thông thủy lợi). Sau hơn 5 năm hoạt động, mô hình tại Nam Định đạt tỷ lệ xếp loại: 16% ban hoạt động giỏi, 68% khá, 15% trung bình và 1% yếu; xây dựng được trên 250 mô hình trình diễn kỹ thuật (lúa Thiên ưu 1025, lạc L26, máy gặt đập liên hoàn, tôm he, nuôi ba ba, trồng hoa ly), đồng thời giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật tại huyện Hải Hậu từ 18 tấn (năm 2010) xuống còn 10 tấn (năm 2015). Từ mô hình Nam Định, khóa luận rút ra 5 bài học kinh nghiệm:

  • Chấp hành nghiêm lịch thời vụ và cơ cấu giống ngắn ngày để tránh rủi ro thiên tai.
  • Canh tác cùng một giống lúa trên cùng cánh đồng để thuận tiện điều tiết nước, quản lý dịch hại và thu hoạch.
  • Xử lý rét đậm, rét hại bằng cách tháo cạn nước tránh chết mầm, không vội gieo cấy lại mà chờ thời tiết ấm để phục hồi, chăm bón đúng quy trình kỹ thuật.
  • Bố trí cơ cấu luân canh cây trồng hợp lý trong năm để gia tăng giá trị kinh tế.
  • Thường xuyên học tập kinh nghiệm sản xuất từ các địa phương điển hình để áp dụng vào thực tiễn địa bàn.

Phần 3: Kết quả thực tập

Tác giả phản ánh chi tiết về điều kiện tự nhiên, hiện trạng kinh tế - xã hội và tổ chức bộ máy quản lý tại địa bàn thực tập:

  • Điều kiện tự nhiên: Xã Cư Lễ có tổng diện tích 6.017,36 ha (đất nông nghiệp 517,44 ha, đất lâm nghiệp 5.050,36 ha), gồm 493 hộ và 2.092 nhân khẩu thuộc 4 dân tộc Tày, Nùng, Dao, Kinh sinh sống tại 14 thôn bản. Địa hình núi cao nghiêng từ Tây Nam xuống Đông Bắc, độ cao trung bình 500m, điểm cao nhất là núi Phya Ngoàm. Địa hình chia thành vùng núi đá (tập trung phía Tây Nam, Đông Nam, độ cao trung bình 700m, hiện tượng karst mạnh gây khô hạn) và vùng núi đất (độ cao 300 - 500m gần trung tâm). Khí hậu có nhiệt độ trung bình năm 22,1°C, lượng mưa trung bình năm 1.384 mm (mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 9 chiếm 70% lượng mưa cả năm), độ ẩm trung bình 70 - 80%. Hệ thống thủy văn phụ thuộc vào hồ Kéo Coi và các suối Cư Lễ, Nà Dài, Khuổi Quân, Pác Phàn; diện tích đất mặt nước nuôi trồng thủy sản là 10,03 ha và sông suối chuyên dùng là 41,78 ha.
  • Tình hình sản xuất nông - lâm - thủy sản:
    • Trồng trọt: Năm 2017, tổng sản lượng lương thực cây có hạt đạt 1.797,6 tấn. Diện tích lúa đạt 223,61 ha, năng suất 44,38 tạ/ha, sản lượng 607,658 tấn. Diện tích ngô đạt 181,76 ha, năng suất 40,51 tạ/ha, sản lượng 263,32 tấn. Cây dong riềng đạt diện tích 32,17 ha, năng suất 724,37 tạ/ha, sản lượng 2.330,31 tấn.
    • Lâm nghiệp: Diện tích đất lâm nghiệp chiếm 83,93% tổng diện tích tự nhiên. Tình hình trồng rừng năm 2017 đạt 65,78 ha trồng tập trung (mỡ 30,97 ha, keo 5,36 ha) và 29,45 ha trồng phân tán (lát, xoan, keo, mỡ), tỷ lệ sống đạt 80%. Diện tích rừng được chăm sóc gồm: năm thứ 2 là 40,02 ha; năm thứ 3 là 82,2 ha; năm thứ 4 là 83 ha. Các dự án hỗ trợ gồm Dự án 661, 147 và Dự án 3PAD (Đối tác vì người nghèo trong phát triển nông lâm nghiệp bền vững).
    • Chăn nuôi và thú y: Quy mô chăn nuôi còn nhỏ lẻ, phân tán. Tổng đàn gia súc năm 2017 gồm: trâu 876 con (số liệu mục thành tựu ghi 919 con), bò 64 con (thành tựu ghi 73 con), ngựa 57 con (thành tựu ghi 59 con), dê 452 con (thành tựu ghi 522 con), lợn 3.475 con (thành tựu ghi 3.859 con), gia cầm đạt 11.195 con. Về dịch bệnh, xuất hiện lợn mắc bệnh xoắn khuẩn leptospira, gà mắc bệnh gà rù (Newcastle) và ký sinh trùng đường máu. Kết quả tiêm phòng năm 2017: trâu bò tiêm tụ huyết trùng đạt 395/753 con (52,4%), chó tiêm phòng dại 204/375 con (54%), khử trùng tiêu độc 3 đợt tại 14/14 thôn bản (100%). Về điều trị: lợn chữa khỏi 54/82 con (tỷ lệ khỏi 65%), gà chữa khỏi 105/250 con (tỷ lệ khỏi 42%).
    • Thủy sản: Toàn xã có 9,792 ha diện tích mặt nước nuôi thủy sản (riêng hồ Kéo Coi chiếm 2,2035 ha), năm 2017 tổng diện tích mặt nước đưa vào nuôi trồng đạt 13 ha (ruộng 0,38 ha, ao hồ 12,62 ha).
    • Tiến độ xây dựng nông thôn mới: Xã Cư Lễ hoàn thành 10/19 tiêu chí (quy hoạch, thủy lợi, điện, hạ tầng thương mại nông thôn, thông tin và truyền thông, tổ chức sản xuất, giáo dục và đào tạo, y tế, hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật, quốc phòng và an ninh); 9 tiêu chí chưa đạt gồm trường học, cơ sở vật chất văn hóa, nhà ở dân cư, thu nhập, hộ nghèo, lao động có việc làm, văn hóa, môi trường và an toàn thực phẩm, giao thông.
Danh mục thống kê sản xuất Đơn vị tính Năm 2014 Năm 2015 Năm 2016 Năm 2017
Trồng rừng: Cây Keo ha 0,60 0,50 0,50 5,36
Trồng rừng: Cây Mỡ ha 47,65 40,00 30,00 30,97
Trồng rừng: Cây khác ha 34,40 9,52 12,10 29,45
Đàn trâu con 687 733 743 876
Đàn bò con 39 35 39 64
Đàn ngựa con 10 20 43 57
Đàn dê con 70 115 196 452
Đàn lợn con 2.466 1.140 1.862 3.475
  • Về cơ cấu tổ chức và hoạt động chuyên môn của cán bộ phụ trách nông nghiệp: Bộ máy quản lý UBND xã Cư Lễ đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng ủy xã, giám sát của HĐND xã, phối hợp cùng Ủy ban MTTQ và các đoàn thể (Hội Nông dân, Hội Cựu chiến binh, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên). Cán bộ phụ trách nông nghiệp thuộc nhóm công chức chuyên môn, có chức năng tham mưu cho UBND xã quản lý nhà nước về sản xuất nông - lâm - thủy sản và xây dựng nông thôn mới; tuyên truyền chính sách pháp luật. Nhiệm vụ cụ thể gồm: chỉ đạo sản xuất mùa vụ (vụ đông xuân, hè thu); theo dõi sâu cuốn lá, sâu đục thân hại lúa; hướng dẫn quy trình phòng trừ bệnh lùn sọc đen, vàng lùn, lùn xoắn lá lúa (nhổ tiêu hủy ruộng bệnh nặng, phun thuốc tiếp xúc diệt rầy, cày vùi rơm rạ dọn tàn dư thực vật, bón vôi bột); triển khai tháng tiêu độc khử trùng chuồng trại; phối hợp với kiểm lâm địa bàn rà soát thiết kế trồng rừng và xử lý vi phạm phá rừng; đôn đốc các tổ thủy nông nạo vét kênh mương; kiểm tra nguồn nước sạch tại 14 thôn; tiếp nhận và xử lý công văn chỉ đạo từ Phòng Kinh tế và Trạm Khuyến nông huyện Na Rì.

Phần 4: Kết luận và kiến nghị

Chương này đúc kết toàn bộ kết quả nghiên cứu và đưa ra hệ thống kiến nghị:

  • Đối với Nhà nước: Cần hoàn thiện chế độ, chính sách tiền lương và phụ cấp trách nhiệm cho đội ngũ cán bộ phụ trách nông nghiệp, cán bộ khuyến nông, thú y cấp xã; chuẩn hóa tiêu chuẩn tuyển dụng và định kỳ mở các lớp đào tạo, tập huấn chuyên sâu.
  • Đối với chính quyền địa phương (UBND huyện Na Rì và UBND xã Cư Lễ): Tăng cường kinh phí hoạt động cho công tác khuyến nông cơ sở; đầu tư kiên cố hóa hệ thống thủy lợi, kênh mương nội đồng; hỗ trợ kỹ thuật và nguồn vốn kịp thời để nhân rộng các mô hình sản xuất nông lâm nghiệp hàng hóa; có cơ chế khen thưởng, động viên cán bộ gắn bó với cơ sở.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã thu thập và phản ánh cụ thể bức tranh sản xuất nông nghiệp của xã Cư Lễ giai đoạn 2014 - 2017:

  • Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2017 đạt 1.797,6 tấn, diện tích cây dong riềng đạt 32,17 ha với sản lượng 2.330,31 tấn tạo nguồn thu nhập quan trọng cho cư dân địa phương.
  • Diện tích trồng rừng tập trung năm 2017 đạt 65,78 ha (đạt 101% kế hoạch); duy trì chăm sóc trên 200 ha rừng trồng từ năm thứ 2 đến năm thứ 4.
  • Đàn vật nuôi duy trì mức tăng trưởng ổn định (đàn trâu tăng từ 687 con năm 2014 lên 876 con năm 2017; đàn dê tăng từ 70 con lên 452 con; đàn lợn phục hồi từ 1.140 con năm 2015 lên 3.475 con năm 2017 sau dịch bệnh).
  • Địa phương đã đạt 10/19 tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới.

Về giải pháp đề xuất, tác giả đã kiến nghị:

  • Đổi mới phương thức tập huấn kỹ thuật theo hướng cầm tay chỉ việc, tăng cường trình diễn mô hình thực tế.
  • Khuyến khích nông dân chuyển đổi tập quán chăn nuôi thả rông sang mô hình trang trại tập trung, chấp hành lịch tiêm phòng dịch bệnh bắt buộc (khắc phục tình trạng điều trị bằng mẹo dân gian hoặc bán chạy thịt lợn ốm).
  • Bố trí cơ cấu giống lúa thuần ngắn ngày trên cùng một cánh đồng nhằm thuận lợi cho việc cấp thoát nước và cắt đứt vòng đời sâu bệnh.
  • Nâng cao chính sách đãi ngộ và điều kiện làm việc cho cán bộ phụ trách nông nghiệp tại xã miền núi.

Đóng góp của khóa luận là đã phác thảo chi tiết khối lượng công việc, bảng mô tả vị trí việc làm thực tế của cán bộ phụ trách nông nghiệp cấp xã vùng cao - một vị trí chuyên môn phải kiêm nhiệm nhiều đầu mối (trồng trọt, bảo vệ thực vật, chăn nuôi, thú y, lâm nghiệp, thủy lợi, nước sạch và nông thôn mới) trong điều kiện thiếu thốn nguồn lực và hỗ trợ phụ cấp còn thấp.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số giới hạn thực tế:

  • Địa bàn khảo sát giới hạn tại một đơn vị hành chính cấp xã (xã Cư Lễ, huyện Na Rì), do đó các nhận định chưa bao quát được toàn diện sự khác biệt giữa các tiểu vùng sinh thái khác nhau của tỉnh Bắc Kạn.
  • Thời gian nghiên cứu tập trung trong 5 tháng (01/2018 - 05/2018), chủ yếu dựa vào phương pháp phỏng vấn sâu cán bộ chuyên trách và khai thác số liệu thứ cấp của phòng thống kê xã, chưa tiến hành điều tra bảng hỏi diện rộng đối với từng hộ nông dân để đo lường mức độ tiếp cận dịch vụ khuyến nông.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát so sánh hoạt động của cán bộ phụ trách nông nghiệp tại nhiều xã khác nhau trên địa bàn huyện Na Rì, hoặc xây dựng bộ chỉ số đánh giá mức độ hài lòng của người dân đối với hiệu quả chuyển giao khoa học kỹ thuật nông nghiệp tại cơ sở.

Giá trị tham khảo

Báo cáo tốt nghiệp có giá trị tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Khuyến nông, Quản lý kinh tế nông nghiệp khi thực hiện khóa luận tốt nghiệp hoặc báo cáo thực tập tại chính quyền địa phương cấp xã.
  • Cán bộ công chức phụ trách nông nghiệp, địa chính, khuyến nông cơ sở tại các xã miền núi khi cần tham khảo quy trình tham mưu công văn, lập kế hoạch mùa vụ, kỹ thuật tiêu hủy tàn dư thực vật phòng trừ rầy và bệnh virus trên cây lúa.
  • Các nhà quản lý cấp huyện trong việc hoạch định chính sách đào tạo, bố trí nhân sự và xây dựng quy chế phối hợp giữa Trạm Khuyến nông, Trạm Thú y huyện với bộ máy chuyên môn của Ủy ban nhân dân cấp xã.

Câu hỏi thường gặp

1. Xã Cư Lễ đã đạt được những tiêu chí nông thôn mới nào và còn những tiêu chí nào chưa đạt tính đến thời điểm nghiên cứu? Theo kết quả đánh giá trong văn bản, xã Cư Lễ đã hoàn thành 10/19 tiêu chí gồm: quy hoạch, thủy lợi, điện, cơ sở hạ tầng thương mại nông thôn, thông tin và tuyên truyền, tổ chức sản xuất, giáo dục và đào tạo, y tế, hệ thống chính trị và tiếp cận pháp luật, quốc phòng và an ninh. 9 tiêu chí chưa hoàn thành gồm: trường học, cơ sở vật chất văn hóa, nhà ở dân cư, thu nhập, hộ nghèo, lao động có việc làm, văn hóa, môi trường và an toàn thực phẩm, giao thông.

2. Công tác tiêm phòng dịch bệnh cho đàn vật nuôi tại xã Cư Lễ năm 2017 đạt kết quả như thế nào? Năm 2017, toàn xã thực hiện tiêm phòng vắc xin tụ huyết trùng cho đàn trâu, bò đạt 395/753 con (tỷ lệ 52,4%); tiêm phòng vắc xin dại cho đàn chó đạt 204/375 con (tỷ lệ 54%); thực hiện phun khử trùng tiêu độc chuồng trại được 3 đợt tại 14/14 thôn bản (tỷ lệ 100%). Tỷ lệ tiêm phòng ở đàn lợn và gia cầm chưa đạt yêu cầu do người dân còn chủ quan và chưa chủ động khai báo.

3. Tại sao tỷ lệ điều trị thành công bệnh trên đàn gia cầm tại xã Cư Lễ đạt thấp (chỉ 42%)? Theo phân tích của tác giả, nguyên nhân dẫn đến 61% đàn gà bị bệnh không khỏi là do người chăn nuôi phát hiện dịch bệnh chậm, không kịp thời can thiệp, và chưa tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật úm gà (không duy trì đủ nhiệt độ nhằm tiết kiệm điện) cũng như không cung cấp đủ chất dinh dưỡng trong khẩu phần ăn.

4. Cán bộ nông nghiệp xã Cư Lễ hướng dẫn xử lý bệnh lùn sọc đen, vàng lùn hại lúa bằng những biện pháp kỹ thuật nào? Biện pháp kỹ thuật bao gồm: đối với ruộng bị bệnh nặng mất khả năng cho năng suất, phải phun thuốc trừ rầy bằng các loại thuốc tiếp xúc trên toàn bộ diện tích ruộng bệnh và các ruộng xung quanh, sau đó cày vùi tiêu hủy; đối với ruộng chua, trũng thì rắc thêm vôi bột. Sau khi gặt lúa mùa, nông dân phải cày vùi gốc rạ ngay để diệt lúa chét, dọn sạch cỏ bờ, thu gom rơm rạ khô đem đốt để triệt tiêu nguồn bệnh và bố trí thời vụ xuống giống né rầy.

5. Mô hình Ban Nông nghiệp xã tại tỉnh Nam Định đem lại bài học kinh nghiệm gì cho cán bộ nông nghiệp xã Cư Lễ? Mô hình Nam Định cho thấy việc tập trung các chức danh kỹ thuật (khuyến nông, bảo vệ thực vật, thú y, thủy lợi) vào Ban Nông nghiệp giúp chính quyền cơ sở chỉ đạo sản xuất đồng bộ, giảm chi phí điều hành đóng góp của nông dân, hỗ trợ xây dựng hơn 250 mô hình sản xuất hiệu quả và giảm lượng thuốc bảo vệ thực vật sử dụng. Từ đó, cán bộ nông nghiệp xã Cư Lễ rút ra bài học về chấp hành lịch thời vụ, gieo cấy một giống trên một cánh đồng, kỹ thuật tháo cạn nước chống rét và kết hợp luân canh cây trồng hợp lý.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Nông Văn Vĩnh đã cung cấp bức tranh chi tiết về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và hiện trạng sản xuất nông - lâm - thủy sản tại xã Cư Lễ, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2014 - 2017. Công trình làm rõ vị trí, chức năng tham mưu và các nhiệm vụ kỹ thuật thực tế của người cán bộ phụ trách nông nghiệp cấp xã vùng cao đối với công tác mùa vụ, bảo vệ thực vật, thú y và xây dựng nông thôn mới. Các giải pháp và kiến nghị được xây dựng dựa trên sự kết hợp giữa bài học thực tiễn từ mô hình Ban Nông nghiệp tỉnh Nam Định và khảo sát trực tiếp tại địa bàn xã Cư Lễ. Đây là tài liệu phản ánh trung thực về năng lực vận hành của hệ thống khuyến nông - nông nghiệp cơ sở tại một địa bàn miền núi khó khăn.