Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Phát triển nông thôn giữ vị trí chiến lược trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội và hiện đại hóa đất nước. Nông nghiệp Việt Nam đóng góp khoảng 20% GDP, tạo việc làm cho hơn 50% lực lượng lao động và là nguồn thu nhập chính của trên 70% dân số. Tuy nhiên, phương thức canh tác tại nhiều địa phương nhìn chung vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ; đời sống nông dân còn nhiều khó khăn và tốc độ tăng trưởng nông nghiệp có xu hướng chậm lại. Để nâng cao năng lực cạnh tranh nông sản và chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật, vai trò của hệ thống cán bộ phụ trách nông nghiệp ở cấp cơ sở là yếu tố mang tính quyết định. Đội ngũ này đóng vai trò cầu nối truyền tải thông tin, quy trình sản xuất, công nghệ chăm sóc cây trồng, vật nuôi và định hướng thị trường đến từng hộ nông dân.

Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả Vương Thị Hường (chuyên ngành Phát triển nông thôn, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Trường Đại học Nông Lâm - Đại học Thái Nguyên) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp: "Tìm hiểu chức năng và nhiệm vụ của các cán bộ phụ trách nông nghiệp tại xã Cao Trĩ - huyện Ba Bể - tỉnh Bắc Kạn" vào năm 2017.

Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể như sau:

  • Mục tiêu chung: Tìm hiểu chức năng, nhiệm vụ của cán bộ phụ trách nông nghiệp cấp xã; trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của đội ngũ này trong thời gian tới.
  • Mục tiêu cụ thể:
    1. Tìm hiểu tình hình sản xuất nông nghiệp tại xã Cao Trĩ.
    2. Tìm hiểu chức năng, nhiệm vụ của cán bộ phụ trách nông nghiệp tại địa bàn xã Cao Trĩ.
    3. Đánh giá những thuận lợi và khó khăn trong công tác của cán bộ phụ trách nông nghiệp xã Cao Trĩ.
    4. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của cán bộ phụ trách nông nghiệp xã Cao Trĩ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức và hoạt động thực tế của đội ngũ cán bộ phụ trách nông nghiệp xã.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Cao Trĩ, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
  • Phạm vi thời gian: Đợt thực tập tốt nghiệp diễn ra từ ngày 15/02/2017 đến ngày 19/05/2017; các dữ liệu thứ cấp về kinh tế - xã hội và hiện trạng sản xuất nông nghiệp được thu thập mốc năm 2016.

Yêu cầu thực tập và nghiên cứu bao gồm việc đáp ứng các chuẩn mực chuyên môn nghiệp vụ (thu thập, xử lý, tổng hợp số liệu và phân tích báo cáo); chấp hành nghiêm kỷ luật lao động, nội quy công sở của Ủy ban nhân dân xã Cao Trĩ; bảo đảm tính trung thực của dữ liệu; duy trì tác phong làm việc chuẩn mực và ghi chép nhật ký thực tập thường xuyên.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập khung lý thuyết dựa trên hệ thống các khái niệm cơ bản về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và hoạt động khuyến nông. Khuyến nông được tiếp cận theo hai tầng nghĩa: theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt động hỗ trợ xây dựng và phát triển nông thôn; theo nghĩa hẹp là tiến trình giáo dục không chính thức nhằm cung cấp thông tin, chuyển giao kỹ thuật giúp nông dân tháo gỡ khó khăn trong sản xuất và đời sống. Về mặt tổ chức nhân sự, tác giả làm rõ khái niệm cán bộ, công chức và cán bộ nông nghiệp cấp xã — lực lượng trực tiếp chỉ đạo, hỗ trợ kỹ thuật và triển khai các chương trình phát triển nông nghiệp tại cơ sở.

Khung pháp lý điều chỉnh tổ chức bộ máy và nhiệm vụ của cán bộ cấp xã trong khóa luận bao gồm:

  • Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12 ngày 13/11/2008.
  • Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân ngày 26/11/2003.
  • Nghị định số 114/2003/NĐ-CP ngày 10/10/2003 của Chính phủ về cán bộ, công chức ở xã, phường, thị trấn.
  • Nghị định số 112/2011/NĐ-CP ngày 05/12/2011 của Chính phủ về công chức xã, phường, thị trấn.
  • Nghị định số 02/2010/NĐ-CP của Chính phủ về khuyến nông.
  • Thông tư số 04/2009/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn nhiệm vụ của cán bộ, nhân viên chuyên môn, kỹ thuật ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn công tác trên địa bàn cấp xã.
  • Thông tư số 06/2012/TT-BNV ngày 30/10/2012 của Bộ Nội vụ hướng dẫn về chức trách, tiêu chuẩn cụ thể, nhiệm vụ và tuyển dụng công chức xã, phường, thị trấn.
  • Các văn bản chỉ đạo điều hành tại địa phương: Văn bản số 917/UBND-KT (chỉ đạo chăn nuôi lợn và thức ăn công nghiệp), Văn bản số 402/UBND-VP (phòng trừ bệnh nghẹt rễ lúa xuân), Văn bản số 530/UBND-VP (phòng trừ châu chấu tre lưng vàng), Văn bản số 1417/UBND-KT (tiếp nhận hóa chất sát trùng phòng dại động vật), Văn bản số 564/UBND-VP và Công văn số 18/CV-NN (chăm sóc cây trồng vụ xuân), Văn bản số 571/UBND-VP (xử lý thực bì, trồng rừng năm 2017).

Bên cạnh khung pháp lý trong nước, khóa luận tổng quan kinh nghiệm quốc tế về chức năng, nhiệm vụ của kỹ sư/cán bộ nông nghiệp tại Úc, Canada, Mỹ (tập trung vào quản lý tài nguyên đất, nước, thiết kế thủy lợi, cơ giới hóa, kiểm soát môi trường và công nghệ sau thu hoạch), cùng bài học đào tạo, sử dụng nhân lực khoa học kỹ thuật phục vụ công nghiệp hóa nông nghiệp tại Mỹ và Nhật Bản.

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  • Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Tiếp cận và khai thác các báo cáo tổng kết kinh tế - xã hội, báo cáo thống kê đất đai, tài liệu chuyên môn của UBND xã Cao Trĩ; tài liệu sách báo, internet và hệ thống văn bản pháp quy liên quan.
  • Phương pháp tổng hợp và phân tích thông tin: Phân loại, tổng hợp số liệu thống kê mô tả, tính toán tỷ lệ cơ cấu và trình bày thông qua các bảng số liệu, sơ đồ tổ chức bộ máy.
  • Phương pháp quan sát: Quan sát trực tiếp tác phong, quy trình giải quyết thủ tục hành chính, phương thức triển khai công việc chuyên môn và tiếp xúc công dân của cán bộ xã tại cơ sở.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Phần này trình bày tính cấp thiết của việc nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ nông nghiệp cơ sở trong bối cảnh nông nghiệp manh mún; xác định mục tiêu nghiên cứu (1 mục tiêu chung, 4 mục tiêu cụ thể), các yêu cầu đối với sinh viên thực tập về nghiệp vụ, thái độ và kỷ luật; giới thiệu khái quát thời gian, địa điểm, chức năng nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức bộ máy hành chính của UBND xã Cao Trĩ; nêu rõ ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng thực tiễn của khóa luận.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Nội dung chương tập trung hệ thống hóa các định nghĩa lý luận về nông nghiệp, nông dân, nông thôn và dịch vụ khuyến nông; trích dẫn chi tiết các căn cứ luật định phân định nhiệm vụ của 7 chức danh công chức chuyên môn cấp xã theo Nghị định 112/2011/NĐ-CP; phân tích chức năng quản lý nhà nước và nhiệm vụ chuyên môn của cán bộ phụ trách nông nghiệp theo Thông tư 04/2009/TT-BNN và Thông tư 06/2012/TT-BNV. Đồng thời, phần này điểm lược thực tiễn quản lý và đào tạo nhân lực kỹ thuật nông nghiệp tại một số quốc gia phát triển nhằm rút ra bài học kinh nghiệm về sử dụng cán bộ khoa học kỹ thuật phù hợp với đặc thù địa phương.

Phần 3: Kết quả nghiên cứu

Đây là chương nội dung trọng tâm của khóa luận, phản ánh toàn diện điều kiện tự nhiên, tình hình kinh tế - xã hội, hiện trạng sản xuất nông nghiệp xã Cao Trĩ và phân tích thực trạng thực thi nhiệm vụ của cán bộ nông nghiệp địa phương.

1. Điều kiện tự nhiên và hiện trạng tài nguyên: Xã Cao Trĩ cách trung tâm huyện Ba Bể 5 km, nằm trên các trục giao thông gồm Quốc lộ 279, Tỉnh lộ 258A và Tỉnh lộ Quảng Khê; địa hình đồi núi đá vôi hiểm trở, chia cắt phức tạp, độ cao trung bình trên 600 m so với mực nước biển; có sông Năng chảy qua theo hướng Đông - Nam. Khí hậu nhiệt đới gió mùa chia hai mùa rõ rệt, lượng mưa bình quân 800 mm/năm (tập trung 70% vào các tháng 6, 7, 8; cao nhất 300–400 mm vào tháng 8, thấp nhất 10–30 mm vào tháng 1), nhiệt độ cao nhất trung bình 38°C, nhiệt độ trung bình năm 22,8°C, độ ẩm bình quân 75%.

Bảng tổng hợp hiện trạng sử dụng đất của xã Cao Trĩ năm 2016 thể hiện quy mô và cơ cấu quỹ đất địa phương:

STT Loại đất Mã đất Diện tích (ha) Cơ cấu (%)
1 Đất nông nghiệp NNP 2.325,26 95,88
1.1 Đất sản xuất nông nghiệp SXN 263,73 10,87
- Đất trồng cây hàng năm CHN 221,29 9,12
- Trong đó: Đất trồng lúa LUA 98,38 4,06
- Đất trồng cây hàng năm khác HNK 122,91 5,07
- Đất trồng cây lâu năm CLN 42,44 1,75
1.2 Đất lâm nghiệp LNP 2.059,23 84,91
- Đất rừng sản xuất RSX 1.666,49 68,72
- Đất rừng phòng hộ RPH 0,00 0,00
- Đất rừng đặc dụng RDD 392,74 16,19
1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản NTS 2,03 0,09
2 Đất phi nông nghiệp PNN 73,52 3,03
2.1 Đất ở tại nông thôn ONT 16,78 0,69
2.2 Đất chuyên dùng CDG 27,42 1,13
2.3 Đất trụ sở cơ quan TSC 0,61 0,03
2.4 Đất xây dựng công trình sự nghiệp DSN 2,11 0,09
2.5 Đất sử dụng vào mục đích công cộng CCC 24,70 1,02
2.6 Đất nghĩa trang, nghĩa địa NTD 0,03 0,00
2.7 Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối SON 29,29 1,21
3 Đất chưa sử dụng CSD 26,40 1,09
- Đất bằng chưa sử dụng BCS 24,27 1,00
- Đất đồi núi chưa sử dụng DCS 2,13 0,09
Tổng Tổng diện tích tự nhiên 2.425,17 100,00

2. Thực trạng kinh tế - xã hội, dân số và lao động: Năm 2016, xã có 451 hộ gia đình với 2.003 nhân khẩu sinh sống tại 8 thôn. Cơ cấu dân tộc gồm: dân tộc Tày (1.325 người), Nùng (607 người), Dao (38 người) và Kinh (33 người). Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên là 0,4%/năm, mật độ dân số 83 người/km².

Về kinh tế, tổng giá trị sản xuất toàn xã năm 2016 đạt 13.149 triệu đồng. Ngành nông - lâm - thủy sản giữ vai trò chi phối tuyệt đối với 9.872 triệu đồng (chiếm 75,1% GTSX); ngành thương mại - dịch vụ đạt 2.133 triệu đồng (chiếm 16,2%); ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng đạt 1.144 triệu đồng (chiếm 8,7%). Thu nhập bình quân đầu người đạt 6,6 triệu đồng/người/năm; bình quân lương thực đạt 727,8 kg/người/năm; giá trị sản xuất bình quân trên 1 ha canh tác đạt 40 triệu đồng; tỷ lệ hộ nghèo chiếm 8,1%; tổng thu ngân sách xã đạt 96 triệu đồng.

Cơ cấu lao động xã Cao Trĩ năm 2016 phản ánh chất lượng nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế:

Chỉ tiêu lao động Số lượng (người) Tỷ lệ so với tổng dân số (%) Cơ cấu trong nhóm (%)
Tổng số người trong độ tuổi lao động 989 49,37 100,00
- Lao động nữ 479 23,91 48,43
- Lao động nam 510 25,46 51,56
Lao động nông nghiệp 775 38,69 100,00
- Đã qua đào tạo 21 1,05 2,71
- Chưa qua đào tạo 754 37,64 97,30
Lao động phi nông nghiệp 214 10,68 100,00
- Đã qua đào tạo 87 4,34 40,65
- Chưa qua đào tạo 127 6,34 59,34
Lao động thiếu việc làm 123 6,14 12,44 (tính trên tổng LĐ)

3. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật nông thôn:

  • Giao thông: Đường Quốc lộ và Tỉnh lộ (18,5 km) được láng nhựa cứng hóa 100%. Tuy nhiên, hệ thống giao thông địa phương còn hạn chế: đường liên xã dài 7,5 km cứng hóa 40% (3,0 km cấp phối, 4,5 km đường đất); đường liên thôn dài 6,0 km cứng hóa 33,33% (2,0 km cấp phối, 4,0 km đường đất); đường nội thôn dài 18,9 km cứng hóa 6,9% (0,9 km bê tông, 0,4 km cấp phối, 17,6 km đường đất); đường phục vụ sản xuất dài 7,9 km cứng hóa 8,86%, chưa được bê tông hóa.
  • Thủy lợi và điện lưới: Xã chưa có trạm bơm kiên cố, tưới tiêu phụ thuộc vào tự nhiên và máy bơm dã chiến. Tổng chiều dài kênh mương phục vụ sản xuất là 13,2 km (gồm 28 tuyến), trong đó mới kiên cố hóa được 0,56 km (đạt tỷ lệ 4,24%), còn lại 12,64 km là mương đất. Mạng lưới điện hạ thế có chiều dài 11,3 km, tỷ lệ hộ sử dụng điện an toàn, thường xuyên đạt 57,4%.

4. Tình hình sản xuất nông - lâm nghiệp năm 2016:

  • Trồng trọt: Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 1.571,2 tấn (vượt kế hoạch 1.420 tấn, đạt 110,6% kế hoạch). Trong đó, sản lượng lúa đạt 718,5 tấn (vụ xuân gieo cấy 67 ha, năng suất 55 tạ/ha, sản lượng 368,5 tấn; vụ mùa gieo cấy 70 ha, năng suất 50 tạ/ha, sản lượng 350 tấn); sản lượng ngô đạt 852,7 tấn (vụ xuân gieo trồng 95,5 ha, sản lượng 522,1 tấn; vụ mùa gieo trồng 62,4 ha, năng suất 53 tạ/ha, sản lượng 330,7 tấn). Các cây trồng khác gồm: lạc (4 ha), mía (2 ha), đậu tương (5 ha, năng suất 15 tạ/ha, sản lượng 8,5 tấn). Diện tích canh tác giá trị trên 100 triệu đồng/ha đạt 42,5 ha/kế hoạch 8 ha (đạt 531,25% kế hoạch, gồm 30 ha lúa theo Nghị định 35, 10 ha ngô, 2,5 ha rau bồ khai). Kế hoạch trồng mới cây hồng không hạt và cây cam, quýt không đạt do nhân dân không đăng ký.
  • Chăn nuôi - Thú y: Tổng đàn trâu đạt 680 con, đàn bò đạt 178 con (trong giai đoạn 2012–2016 được hỗ trợ 30 trâu cái và 30 bò cái theo nguồn vốn Chương trình 30a); đàn lợn có 3.250 con; đàn dê đạt 250 con; đàn gia cầm đạt 11.000 con; diện tích thủy sản mặt nước nuôi cá truyền thống đạt 4,6 ha. Triển khai 2 mô hình nuôi lợn nái tại thôn Nà Chả và Bản Ngù 1, cùng 2 mô hình lợn thịt tại thôn Phiêng Toản và Bản Piềng 1. Đầu năm 2016, rét đậm rét hại làm chết 05 con trâu tại thôn Nà Chả. Công tác tiêm phòng thực hiện 02 đợt: trên trâu bò tiêm vắc xin lở mồm long móng (LMLM) và tụ huyết trùng đạt 410 con (đợt 1) và 476 con (đợt 2); trên lợn tiêm dịch tả đạt 125 con (đợt 1) và 248 con (đợt 2), tiêm tụ huyết trùng đạt 130 con (đợt 1) và 248 con (đợt 2); tiêm phòng dại chó đạt 146 con; phun tiêu độc khử trùng 2 đợt tại 8/8 thôn.
  • Lâm nghiệp: Quản lý 2.059,23 ha đất lâm nghiệp (1.666,49 ha rừng sản xuất trồng keo, mỡ; 392,74 ha rừng đặc dụng thuộc vườn quốc gia). Năm 2016 không giao chỉ tiêu trồng rừng mới; tổ chức diễn tập phòng cháy chữa cháy rừng đạt loại khá.

5. Thực trạng phân công chức năng, nhiệm vụ của cán bộ phụ trách nông nghiệp: Tại xã Cao Trĩ, bộ máy phụ trách nông nghiệp gồm 4 vị trí với thẩm quyền và hình thức đãi ngộ khác nhau:

  • Phó Chủ tịch UBND xã (phụ trách khối kinh tế): Cán bộ lãnh đạo cấp xã hưởng lương ngân sách, chỉ đạo toàn diện việc xây dựng đề án, quy hoạch, kiểm tra đôn đốc các bộ phận chuyên môn tổ chức thực hiện các chỉ thị, nghị quyết về phát triển nông - lâm nghiệp.
  • Công chức Địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường: Công chức chuyên môn trong biên chế hưởng lương ngân sách, tham mưu thu thập số liệu, lập báo cáo quy hoạch, thống kê biến động đất nông nghiệp, hướng dẫn kỹ thuật và theo dõi tiến độ sản xuất, xây dựng nông thôn mới.
  • Nhân viên thú y: Cán bộ không chuyên trách hưởng phụ cấp, chịu sự quản lý của UBND xã và hướng dẫn chuyên môn từ Trạm Thú y huyện Ba Bể; trực tiếp lập kế hoạch tiêm phòng, kiểm soát dịch bệnh động vật, thống kê đàn gia súc, gia cầm và phối hợp phun hóa chất tiêu độc khử trùng.
  • Nhân viên khuyến nông: Cán bộ không chuyên trách hưởng phụ cấp; chịu trách nhiệm chuyển giao tiến bộ kỹ thuật trồng trọt, bảo vệ thực vật, hướng dẫn phòng trừ sâu bệnh, xây dựng mô hình trình diễn và phản ánh tâm tư, nguyện vọng của nông dân tới cấp có thẩm quyền.

Phần Kết luận, kiến nghị

Tổng kết đánh giá hoạt động quản lý nông nghiệp của địa phương và đề xuất các nhóm kiến nghị đối với Ủy ban nhân dân xã Cao Trĩ, đối với các cán bộ phụ trách nông nghiệp và đối với người dân trên địa bàn.

Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu đã làm rõ thực trạng vận hành của bộ máy quản lý và dịch vụ nông nghiệp tại một địa bàn miền núi:

  • Khóa luận làm rõ mối quan hệ phối hợp giữa các vị trí nhân sự: Phó Chủ tịch phụ trách kinh tế định hướng chính sách; Công chức địa chính - nông nghiệp tổng hợp số liệu hành chính; hai nhân viên không chuyên trách (thú y và khuyến nông) trực tiếp bám sát đồng ruộng, thôn bản để triển khai chuyên môn.
  • Về kết quả phát triển kinh tế: Địa phương duy trì sản lượng lương thực vượt kế hoạch đề ra (1.571,2 tấn, đạt 110,6% kế hoạch); triển khai có hiệu quả các dự án hỗ trợ từ Chương trình 30a (60 con trâu, bò giống); xây dựng thành công 4 mô hình nuôi lợn tập trung tại 4 thôn; tổ chức hoàn thành 14/19 tiêu chí thuộc Chương trình Mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới tính đến hết năm 2016.

Hệ thống giải pháp và kiến nghị tác giả đề xuất:

  • Đối với UBND xã Cao Trĩ: Cần lập quy hoạch sản xuất đồng bộ, chủ động đề xuất ngân sách cấp trên đầu tư kiên cố hóa hệ thống thủy lợi (nâng tỷ lệ cứng hóa kênh mương vượt mức 4,24%) và bê tông hóa đường giao thông nội đồng; mở các lớp đào tạo nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn nhằm kéo giảm tỷ lệ 97,30% lao động nông nghiệp chưa qua đào tạo; bảo đảm chế độ phụ cấp và trang bị phương tiện làm việc cho cán bộ chuyên trách, không chuyên trách.
  • Đối với cán bộ phụ trách nông nghiệp: Cần chủ động nâng cao trình độ chuyên môn, thường xuyên bám sát cơ sở, thôn bản; đổi mới phương pháp tập huấn khuyến nông trực quan, dễ hiểu; tăng cường kiểm tra, phát hiện sớm các ổ dịch bệnh hại trên cây trồng và đàn gia súc; linh hoạt xử lý tình huống phát sinh theo chỉ đạo của cơ quan quản lý ngành cấp huyện.
  • Đối với người dân: Cần chủ động xóa bỏ tư tưởng sản xuất tự cấp tự túc manh mún; tích cực tham gia các lớp tập huấn kỹ thuật, đăng ký chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo quy hoạch; tuân thủ nghiêm ngặt lịch tiêm phòng bắt buộc cho đàn vật nuôi và chấp hành quy định bảo vệ rừng, không chặt phá rừng phòng hộ, rừng đặc dụng.

Về mặt đóng góp, khóa luận tự xác định giá trị trong việc tổng hợp có hệ thống các văn bản pháp lý chuyên ngành điều chỉnh chức năng của cán bộ nông nghiệp xã; cung cấp bức tranh dữ liệu thực chứng về bộ máy quản lý nông nghiệp cơ sở tại huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn; đồng thời là cơ sở thực tiễn phục vụ việc cải thiện công tác quản lý của chính quyền địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận chỉ ra một số hạn chế gắn liền với điều kiện thực tế tại địa bàn nghiên cứu:

  • Hệ thống hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp còn rất thiếu thốn: toàn xã chưa có trạm bơm kiên cố, 95,76% chiều dài kênh mương vẫn là mương đất; 91,14% chiều dài đường phục vụ sản xuất chưa được cứng hóa, gây cản trở lớn cho việc vận chuyển nông sản và cơ giới hóa đồng ruộng.
  • Trình độ nhận thức và tập quán canh tác của nhân dân chưa đồng đều: tỷ lệ lao động nông nghiệp qua đào tạo chỉ đạt 2,71%; hình thức chăn nuôi phần lớn vẫn phân tán theo quy mô hộ; tỷ lệ tiêm phòng trên đàn lợn thịt còn thấp do tâm lý nuôi ngắn ngày (3-4 tháng xuất bán) nên các chủ hộ không đăng ký tiêm phòng; một số chỉ tiêu phát triển cây ăn quả giá trị cao (cam, quýt, hồng không hạt) bị thất bại do người dân không tham gia đăng ký trồng mới.
  • Về phạm vi nghiên cứu của tác giả: Đợt thực tập tốt nghiệp diễn ra trong khoảng thời gian 3 tháng (từ giữa tháng 2 đến giữa tháng 5/2017), do đó nguồn dữ liệu chủ yếu khai thác từ các báo cáo định kỳ năm 2016 của UBND xã; các phương pháp đánh giá định lượng sâu hoặc khảo sát xã hội học bằng bảng hỏi chuyên biệt về mức độ hài lòng của người dân chưa được triển khai đầy đủ. Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng điều tra xã hội học trực tiếp đối với các hộ nông dân tại 8 thôn để đo lường cụ thể hiệu quả chuyển giao kỹ thuật của từng cán bộ khuyến nông, thú y.

Giá trị tham khảo

Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên các chuyên ngành Phát triển nông thôn, Khuyến nông, Quản lý đất đai, Kinh tế nông nghiệp và Quản lý hành chính công: Tài liệu cung cấp cách tiếp cận thực tế về phương pháp phân tích cơ cấu tổ chức bộ máy chính quyền cơ sở, cách phân định thẩm quyền giữa công chức biên chế và người hoạt động không chuyên trách cấp xã theo quy định của pháp luật Việt Nam.
  • Người thực hiện đề tài tại các địa bàn miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số: Cung cấp khung phương pháp thu thập, phân tích tài nguyên đất đai gắn với vùng đệm vườn quốc gia (Vườn quốc gia Ba Bể) và phương pháp đánh giá thực trạng cơ cấu kinh tế thuần nông.
  • Phần đáng tham khảo nhất của khóa luận là hệ thống bảng biểu thống kê chi tiết về sử dụng đất (Bảng 3.1), dân số (Bảng 3.4), lao động (Bảng 3.5) và phần trích lục chi tiết nhiệm vụ của công chức Địa chính - nông nghiệp, nhân viên khuyến nông và thú y xã theo các thông tư hướng dẫn của Bộ Nội vụ và Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn.

Câu hỏi thường gặp

1. Bộ máy phụ trách lĩnh vực nông nghiệp tại xã Cao Trĩ năm 2017 gồm những chức danh nào?
Bộ máy gồm 4 vị trí thuộc 3 nhóm nhân sự:

  • Lãnh đạo quản lý: Phó Chủ tịch UBND xã phụ trách khối kinh tế (cán bộ cấp xã, hưởng lương ngân sách).
  • Công chức chuyên môn: Công chức Địa chính - Nông nghiệp - Xây dựng và Môi trường (công chức cấp xã, hưởng lương ngân sách).
  • Cán bộ không chuyên trách: 01 Nhân viên khuyến nông và 01 Nhân viên thú y (hưởng phụ cấp từ ngân sách xã).

2. Quỹ đất nông nghiệp của xã Cao Trĩ có đặc điểm gì nổi bật trong cơ cấu sử dụng đất năm 2016?
Tổng diện tích tự nhiên của xã là 2.425,17 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm tỷ lệ áp đảo với 95,88% (2.325,26 ha). Do nằm trong vùng đệm của Vườn quốc gia Ba Bể, đất lâm nghiệp chiếm phần lớn diện tích với 2.059,23 ha (tương đương 84,91% diện tích tự nhiên toàn xã), bao gồm 1.666,49 ha rừng sản xuất và 392,74 ha rừng đặc dụng. Trong khi đó, đất sản xuất nông nghiệp chỉ có 263,73 ha (chiếm 10,87%), với đất trồng lúa là 98,38 ha (chiếm 4,06%).

3. Thực trạng trình độ đào tạo của lao động nông nghiệp tại xã Cao Trĩ năm 2016 ra sao?
Toàn xã có 989 lao động (chiếm 49,37% dân số). Trong đó, lao động nông nghiệp là 775 người (chiếm 38,69% tổng dân số xã). Tuy nhiên, số lao động nông nghiệp đã qua đào tạo chỉ có 21 người (chiếm tỷ lệ 2,71%), còn lại 754 người (chiếm 97,30%) là lao động chưa qua đào tạo.

4. Kết quả sản xuất lương thực có hạt và tiến độ xây dựng nông thôn mới tại xã Cao Trĩ năm 2016 đạt mức nào?
Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2016 đạt 1.571,2 tấn, vượt 10,6% so với kế hoạch (1.420 tấn); bình quân lương thực đạt 727,8 kg/người/năm (vượt kế hoạch 670 kg/người/năm). Trong đó sản lượng thóc đạt 718,5 tấn, ngô đạt 852,7 tấn. Về xây dựng nông thôn mới, xã Cao Trĩ đã hoàn thành 14 trên tổng số 19 tiêu chí.

5. Vì sao chỉ tiêu tiêm phòng trên đàn lợn và việc trồng mới cây ăn quả tại địa phương năm 2016 không đạt kế hoạch?
Đối với đàn lợn (tổng đàn 3.250 con), số lượng tiêm phòng dịch tả và tụ huyết trùng chỉ đạt từ 125 đến 248 con mỗi đợt. Nguyên nhân là do các hộ nuôi chủ yếu để bán thịt với chu kỳ ngắn (3-4 tháng xuất chuồng) nên không đăng ký tiêm phòng. Đối với cây ăn quả (hồng không hạt, cam, quýt), xã đã triển khai kế hoạch nhưng người dân không đăng ký trồng mới nên chỉ tiêu không đạt.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vương Thị Hường đã hệ thống hóa đầy đủ cơ sở pháp lý và chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ phụ trách nông nghiệp cấp xã, phân định rõ thẩm quyền giữa công chức chuyên môn và cán bộ không chuyên trách. Thông qua các số liệu thống kê năm 2016, công trình phản ánh khách quan bức tranh kinh tế nông nghiệp của xã Cao Trĩ với ưu thế về sản xuất lương thực và quản lý rừng, song cũng chỉ rõ lực cản từ cơ sở hạ tầng yếu kém và tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo lên tới 97,30%. Các giải pháp và kiến nghị được đề xuất sát thực với điều kiện địa phương miền núi, cung cấp tư liệu tham khảo hữu ích cho công tác đào tạo chuyên ngành phát triển nông thôn và quản lý hành chính nhà nước ở cơ sở.