Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA TRUNG TÂM BỒI DƯỠNG CHÍNH TRỊ TRONG QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CHO CÁN BỘ, ĐẢNG VIÊN 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về đào tạo, bồi dưỡng Theo Từ điển Tiếng Việt do GS. Hoàng Phê chủ biên, Đào tạo - là làm cho trở thành người có năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định; còn Bồi dưỡng – là làm cho – 1) tăng thêm sức của cơ thể bằng chất bổ và – 2) tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất.
Theo Đại từ điển do GS. Nguyễn Như Ý chủ biên, Đào tạo – là dạy dỗ, rèn luyện để trở nên người có hiểu biết, có nghề nghiệp; còn Bồi dưỡng – là làm cho – 1) khỏe thêm, mạnh thêm và – 2) tốt hơn, giỏi hơn. Căn cứ vào những nét nghĩa chính của khái niệm "đào tạo" và "bồi dưỡng" được các Từ điển giải thích trên đây cho thấy, đây là hai khái niệm, mặc dù có những nét nghĩa tương đồng nhất định (như đều chỉ quá trình làm tốt hơn, lành mạnh hơn, chuyên nghiệp hơn cho khách thể), song đây là hai khái niệm không đồng nghĩa nhau bằng những nội hàm nghĩa rất cụ thể – mà trước hết, đó là bản chất của quá trình giáo dục. Cụ thể, khái niệm "đào tạo" được hiểu là một quá trình dài, khép kín nhằm trang bị và xây dựng cho khách thể các tố chất mà trước đó khách thể đó không có; trong khi đó, khái niệm "bồi dưỡng" chỉ được coi là một giai đoạn ngắn, bổ trợ, nhằm bồi bổ thêm, làm tốt thêm và nâng cao hơn các tố chất vốn đã có sẵn của khách thể.
Đến nay, về mặt khoa học và pháp lý, có sự thống nhất cơ bản về các khái niệm "đào tạo", "bồi dưỡng" và tồn tại với hai khái niệm độc lập. Tuy nhiên, bên cạnh hai khái niệm đào tạo và bồi dưỡng là những khái niệm độc lập, trong thực tiễn vẫn còn một quan niệm mới là "đào tạo bồi dưỡng", với 10 nhận thức là một thuật ngữ chung không tách rời, đó là "đào tạo bồi dưỡng" là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp bậc đào tạo, đồng thời vừa trang bị, cập nhật, rèn luyện để nâng cao kiến thức, kỹ năng cần thiết cho một đối tượng học tập. Như vậy, việc phân định độc lập giữa đào tạo và bồi dưỡng hiện nay cũng chỉ mang tính chất tương đối, trong nhiều trường hợp không hoàn toàn xác định chính xác khi nào diễn ra quá trình đào tạo, khi nào thực hiện bồi dưỡng. Trong đề tài này sẽ sử dụng khái niệm "đào tạo" và "bồi dưỡng", được sử dụng trong tất các loại hình đào tạo và bồi dưỡng cụ thể.
Đào tạo là quá trình truyền đạt những kiến thức và kỹ năng cho người học theo từng cấp độ khác nhau nhằm hình thành và phát triển một cách có hệ thống các tri thức, trình độ, năng lực của con người. Bồi dưỡng là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức và kỹ năng làm việc, phù hợp với tình hình thực tiễn để người học đủ khả năng giải quyết công việc một cách có hiệu quả trong tình hình mới. Khái niệm về chính sách "Chính sách" là thuật ngữ được sử dụng phổ biến trong các tài liệu, văn bản và trên các phương tiện truyền thông đại chúng, tuy nhiên, đây là thuật ngữ khó có thể định nghĩa một cách cụ thể và rõ ràng. Các chính sách đôi khi có thể được nhận thấy dưới hình thức các quyết định đơn lẻ, nhưng thông thường nó bao gồm một tập hợp các quyết định hoặc được nhìn nhận như là một sự định hướng.
Do đó, các định nghĩa khi đưa ra cũng khó có thể xác định những thời điểm cụ thể mà chính sách được ban hành. Theo Từ điển Tiếng Việt do GS. Hoàng Phê chủ biên, "chính sách là sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra" [39, tr. Theo tác giả Vũ Cao Đàm thì "chính sách là một tập hợp biện pháp được thể chế hóa, mà một chủ thể quyền lực, hoặc chủ thể quản lý đưa ra, trong đó tạo sự ưu đãi 11 một hoặc một số nhóm xã hội, kích thích vào động cơ hoạt động của họ, định hướng hoạt động của họ nhằm thực hiện một mục tiêu ưu tiên nào đó trong chiến lược phát triển của một hệ thống xã hội" [16, tr.
Theo cách tiếp cận của một số học giả trên thế giới thì cho rằng, chính sách là sản phẩm của tất cả các chủ thể trong xã hội và chính sách chính là công cụ quan trọng giúp các chủ thể đó đạt được mục đích đặt ra. Nhóm tác giả Nguyễn Thị Hoa và Bùi Nghĩa dẫn giải cách tiếp cận của Colebatch với quan niệm "chính sách là cách thức huy động sự tham gia của các yếu tố liên quan đến vật chất, tổ chức các nhóm đối tượng chính sách vào quá trình điều hành của Nhà nước, mong đạt được tiếng nói và những hành động chung, trên cơ sở hình dung về thế giới ở hiện tại và tương lai" [36, tr. Nhóm tác giả Nguyễn Thị Hoa và Bùi Nghĩa đưa ra quan niệm về chính sách được hiểu "là chương trình hành động do các nhà lãnh đạo hay nhà quản lý đề ra để giải quyết vấn đề vì mục tiêu phát triển của tổ chức" [36, tr. Như vậy, dù tiếp cận ở góc độ nào và quan niệm như thế nào thì chính sách cũng có những đặc điểm nổi bật như sau: (1) Chính sách là do một chủ thể trong xã hội ban hành, không phải là bất kỳ một cá nhân nào trong xã hội mà phải là cá nhân đại diện cho một tổ chức.
(2) Chính sách được ban hành căn cứ vào chủ trương, đường lối của tổ chức đó, là một công cụ được các tổ chức sử dụng để làm cầu nối giữa chủ trương, đường lối và các kế hoạch hành động thực tế của tổ chức. (3) Chính sách là sự phản ứng nhưng là sự phản ứng của tổ chức và kết quả của sự phản ứng được thể hiện dưới dạng vật chất là văn bản, dùng để đạt được những mục tiêu của tổ chức đặt ra. Tóm lại, chính sách là hành động của chủ thể quản lý để giải quyết một vấn đề nào đó nhằm đạt được mục tiêu mà chủ thể quản lý hướng đến. Khái niệm về chính sách công 12 Tác giả Nguyễn Hữu Hải đưa ra khái niệm "chính sách công là những hành động ứng xử của Nhà nước với các vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng, được thể hiện bằng nhiều hình thức khác nhau, nhằm thúc đẩy xã hội phát triển" [32, tr.
Theo quan niệm này thì mục đích chính sách công là thúc đẩy xã hội phát triển theo định hướng, chứ không đơn giản chỉ dừng lại ở việc giải quyết vấn đề công. Nói khác đi, chính sách công là công cụ để thực hiện mục tiêu chính trị của Nhà nước. Nhóm tác giả Lê Như Thanh và Lê Văn Hòa thì đưa ra khái niệm "chính sách công là một tập hợp các quyết định liên quan với nhau do Nhà nước ban hành, bao gồm các mục tiêu và giải pháp để giải quyết một vấn đề công nhằm đạt được các mục tiêu phát triển" [44, tr. Trong bài nghiên cứu "Bàn về khái niệm chính sách công", PGS.
Hồ Việt Hạnh đã đưa ra khái niệm "chính sách công là những quyết định của chủ thể được trao quyền lực công nhằm giải quyết các vấn đề về lợi ích chung của cộng đồng" [34, tr. Theo quan niệm này thì tác giả đã tiếp cận chính sách công từ góc độ quyền lực trong sự so sánh với chính sách tư, cung cấp thêm nhận thức và có tính gợi mở cao về chính sách công gắn với tình hình thực tiễn ở Việt Nam. Nhóm tác giả Nguyễn Thị Hoa và Bùi Nghĩa đưa ra định nghĩa "chính sách công là tập hợp các quyết định do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành hướng đến các nhóm đối tượng thụ hưởng nhằm phục vụ cho lợi ích công, cho sự phát triển của xã hội" [36, tr. Theo quan niệm này thì chính sách công có những đặc điểm nổi bật như chủ thể ban hành là Nhà nước, được thể hiện bằng những văn bản pháp luật, hướng tới mục tiêu nhất định và từng nhóm đối tượng thụ hưởng cụ thể.
Cho đến nay có khá nhiều định nghĩa về chính sách công được các học giả đưa ra. Cho dù có nhiều định nghĩa khác nhau, nhưng tất cả các định nghĩa đều thống nhất ở hai điểm cơ bản, đó là chính sách công bắt nguồn từ 13 các quyết định của Nhà nước và dùng để giải quyết những vấn đề chung vì lợi ích của đời sống cộng đồng. Khái niệm về chính sách đào tạo, bồi dưỡng Từ những khái niệm nêu trên, gắn với tình hình thực tiễn nước ta, có thể hiểu chính sách đào tạo, bồi dưỡng như sau: Chính sách đào tạo, bồi dưỡng là những công cụ của Nhà nước, được Nhà nước ban hành để thực hiện mục tiêu phát triển giáo dục - đào tạo của đất nước, nhằm hướng đến việc phát triển con người toàn diện, ưu tiên khuyến khích xã hội học tập, nâng cao mặt bằng dân trí, bồi dưỡng nhân tài để xây dựng và phát triển đất nước. Các chính sách này đều dựa trên cơ sở thực tiễn, dựa vào diễn biến tình hình phát sinh trong từng giai đoạn cụ thể của đất nước.
Khái niệm về cán bộ, đảng viên Cán bộ, công chức là những thuật ngữ cơ bản của chế độ công vụ, công chức, thường xuyên xuất hiện trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Thuật ngữ "cán bộ" được sử dụng khá lâu tại các nước xã hội chủ nghĩa và bao hàm trong phạm vi rộng những người làm việc thuộc khu vực nhà nước và tổ chức chính trị và các tổ chức chính trị- xã hội. Quốc hội khoá XII đã lần lượt ban hành Luật Cán bộ, công chức (13/11/2008), đồng thời Quốc hội khóa XIV đã sửa đổi, bổ sung một số điều của luật này, trong đó xác định rõ hàm nghĩa của các từ cán bộ, công chức.