Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Xã Chiềng Hoa là một xã vùng cao (vùng III) thuộc huyện Mường La, tỉnh Sơn La, có điều kiện kinh tế - xã hội còn nhiều khó khăn với 20/21 bản thuộc diện đặc biệt khó khăn. Trên địa bàn xã, phụ nữ chiếm trên 55% tổng dân số và chiếm đa số trong lực lượng lao động sản xuất nông nghiệp trực tiếp. Mặc dù người phụ nữ dân tộc Thái tại địa phương đảm nhận khối lượng công việc lớn, từ lao động đồng áng đến chăm sóc gia đình, vai trò và tiếng nói của họ trong đời sống kinh tế và chính trị - xã hội vẫn chưa được nhìn nhận tương xứng do ảnh hưởng của các định kiến giới và phong tục tập quán truyền thống. Xuất phát từ thực tế đó, đề tài "Tìm hiểu vai trò của phụ nữ dân tộc Thái trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn xã Chiềng Hoa huyện Mường La - tỉnh Sơn La" được tác giả Cà Thị Nguyện thực hiện nhằm cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để nâng cao năng lực và vị thế cho phụ nữ địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:

  1. Mục tiêu chung: Đánh giá vai trò của phụ nữ dân tộc Thái trên địa bàn xã Chiềng Hoa trong phát triển kinh tế hộ, phân tích những thuận lợi, khó khăn và xác định các giải pháp nhằm nâng cao vị thế, phát huy vai trò của phụ nữ tại địa phương.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Phân tích và đánh giá thực trạng vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ nông thôn tại xã Chiềng Hoa.
    • Tìm hiểu mặt được, mặt hạn chế cũng như khả năng đóng góp của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình trong thời gian tới.
    • Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ gia đình.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Phụ nữ trong các hộ gia đình trên địa bàn xã Chiềng Hoa, huyện Mường La, tỉnh Sơn La.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu vai trò của phụ nữ trong phát triển kinh tế hộ (phân công lao động, quản lý điều hành sản xuất, tiếp cận nguồn lực, tham gia hoạt động đoàn thể - cộng đồng).
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Chiềng Hoa, huyện Mường La, tỉnh Sơn La (khảo sát chi tiết tại 3 bản: bản Pia, bản Nà Cưa và bản Huổi Lay).
  • Phạm vi thời gian: Số liệu sơ cấp và khảo sát thực địa được triển khai từ ngày 20/02/2019 đến ngày 20/05/2019; số liệu thứ cấp thu thập trong giai đoạn 2016 - 2018.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết và căn cứ pháp lý

Khóa luận vận dụng hệ thống lý luận về giới và kinh tế hộ nông nghiệp:

  • Khái niệm Giới và Giới tính: Phân biệt rõ giới tính (yếu tố sinh học cố định) và giới (vai trò, chuẩn mực xã hội được hình thành qua quá trình học tập và có thể thay đổi theo thời gian, văn hóa) theo định nghĩa của SEAGEP (2001), Nguyễn Đức Truyến và Nguyễn Thị Nguyệt Minh (2000), Nguyễn Thị Nghĩa và Bùi Thị An (2002).
  • Ba vai trò giới: Vai trò sản xuất (tạo ra của cải vật chất, thu nhập), vai trò tái sản xuất (nuôi dưỡng, chăm sóc gia đình, duy trì nòi giống và tái tạo sức lao động), vai trò cộng đồng (các hoạt động xã hội, duy trì nguồn lực cộng đồng).
  • Nhu cầu và lợi ích giới: Phân biệt nhu cầu giới thực tế (xuất phát từ điều kiện sống và công việc hàng ngày) và lợi ích giới chiến lược (nhằm thay đổi vị thế xã hội, hướng tới bình đẳng giới).
  • Kinh tế hộ gia đình: Lý luận về đơn vị kinh tế cơ sở sử dụng nguồn lực chung (đất đai, lao động, vốn) trong sản xuất nông - lâm nghiệp và dịch vụ.
  • Căn cứ chủ trương, chính sách: Tư tưởng Hồ Chí Minh về giải phóng phụ nữ; Nghị quyết số 04-NQ/TW (1993) của Bộ Chính trị; Chỉ thị số 37-CT/TW (1994) của Ban Bí thư; Cương lĩnh hành động Bắc Kinh (1995); Quyết định số 19/2000/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010; Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX (2001).
  • Tài liệu tham khảo thực nghiệm: Kết quả nghiên cứu của Lê Thị Nhâm Tuyết (2008) về thời gian lao động của phụ nữ nông thôn.

Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu

  • Phương pháp chọn mẫu: Áp dụng công thức Slowin (1960) với sai số cho phép $e = 10%$ ($0{,}10$) và độ tin cậy $90%$: $$n = \frac{N}{1 + N \cdot e^2}$$ Tác giả chọn ngẫu nhiên 60 hộ gia đình thuộc 3 bản đại diện (bản Pia, bản Nà Cưa, bản Huổi Lay) phân theo 3 nhóm mức sống: 14 hộ khá (23,33%), 30 hộ trung bình khá (50,00%), 16 hộ nghèo (26,66%).
  • Phương pháp thu thập dữ liệu:
    • Dữ liệu thứ cấp: Báo cáo phát triển kinh tế - xã hội của UBND xã Chiềng Hoa, báo cáo tổng kết của Hội Liên hiệp Phụ nữ xã, niên giám thống kê và số liệu của Ban Địa chính, Ban Thống kê xã giai đoạn 2016 - 2018.
    • Dữ liệu sơ cấp: Phỏng vấn trực tiếp 60 hộ bằng bảng hỏi soạn sẵn gồm 7 nhóm thông tin: thông tin chung về hộ; ngành nghề và vốn vay; vai trò phụ nữ trong sản xuất nông - lâm nghiệp; vai trò phụ nữ trong hoạt động cộng đồng; khả năng tiếp cận thông tin; vai trò trong hoạt động tái sản xuất và dịch vụ; các đề xuất nâng cao vị thế phụ nữ.
  • Phương pháp tổng hợp và phân tích: Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để nhập và xử lý dữ liệu định lượng; sử dụng phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh giữa các nhóm hộ (khá, trung bình khá, nghèo) và qua các năm để rút ra các kết luận thực nghiệm.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Trình bày tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vai trò của phụ nữ nông thôn miền núi và thực trạng còn nhiều bất cập tại xã Chiềng Hoa. Xác định rõ mục tiêu chung, 3 mục tiêu cụ thể, ý nghĩa học tập (rèn luyện kỹ năng nghiên cứu thực địa, xử lý số liệu) và ý nghĩa thực tiễn (cung cấp luận cứ cho các cơ quan, ban ngành xây dựng chương trình hỗ trợ phụ nữ).

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Hệ thống hóa cơ sở lý luận về giới tính, giới, vai trò giới, bình đẳng giới và kinh tế hộ nông thôn. Phân tích các yếu tố tác động đến vai trò phụ nữ: quan niệm và phong tục tập quán truyền thống, trình độ học vấn - chuyên môn kỹ thuật, khả năng tiếp cận thông tin và các rào cản tâm lý chủ quan. Điểm luận các chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ; chỉ ra các vấn đề cấp thiết đối với phụ nữ nông thôn gồm sức khỏe thể chất (tảo hôn, suy dinh dưỡng, làm việc quá tải 8–16 giờ/ngày), sức khỏe tinh thần và hạn chế về trình độ khoa học kỹ thuật.

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Quy định đối tượng nghiên cứu là phụ nữ trong các hộ gia đình xã Chiềng Hoa. Giới hạn phạm vi không gian tại 3 bản, phạm vi thời gian từ 20/02/2019 đến 20/05/2019. Mô tả chi tiết phương pháp chọn mẫu theo công thức Slowin ($n=60$), quy trình thiết kế bảng hỏi với 7 nhóm thông tin và phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê so sánh trên Excel.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Trình bày toàn bộ số liệu khảo sát thực nghiệm tại địa bàn:

  1. Đặc điểm tự nhiên và kinh tế - xã hội xã Chiềng Hoa: Tổng diện tích tự nhiên đạt 7.091,55 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 87,552% (6.208,82 ha), đất phi nông nghiệp chiếm 7,74%, đất chưa sử dụng chiếm 4,707%. Dân số toàn xã có 7.831 người với 2 dân tộc chính: dân tộc Thái chiếm 87,46% (1.373 hộ, 6.326 người) và dân tộc Mông chiếm 12,54% (163 hộ, 907 người).
  2. Hiện trạng sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi: Tổng sản lượng lương thực có hạt năm 2018 đạt 52.066 tấn (cây ngô là mũi nhọn với 1.717 ha, sản lượng 48.076 tấn; lúa 114 ha, sản lượng 3.990 tấn; sắn 56 ha, sản lượng 6.720 tấn). Đàn gia cầm đạt 23.034 con, lợn 3.075 con, trâu 1.715 con, bò 1.434 con, dê 936 con.
  3. Đặc điểm của 60 hộ điều tra: Tỷ lệ nam làm chủ hộ chiếm 83,33%, nữ làm chủ hộ chiếm 16,66% (chủ yếu rơi vào các hộ đơn thân, góa phụ hoặc chồng mất sức lao động). Trình độ học vấn của chủ hộ tập trung ở mức THCS (58,33%), THPT (28,33%), tiểu học (11,66%) và trung cấp - cao đẳng - đại học chỉ đạt 1,66%.
  4. Sự tham gia chính trị - xã hội của phụ nữ: Toàn xã có 1.260 phụ nữ tham gia Hội Liên hiệp Phụ nữ (chiếm 56% phụ nữ trong độ tuổi). Tuy nhiên, tỷ lệ phụ nữ nắm giữ cương vị lãnh đạo cấp cơ sở rất thấp: 0% lãnh đạo cấp ủy Đảng, 0% lãnh đạo UBND xã, 0/21 trưởng bản là nữ; chỉ có 1/5 lãnh đạo đoàn thể (20%) và 2/15 ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ xã (13,2%) là nữ.
  5. Vai trò trong quản lý và phân công lao động: Tỷ lệ nữ tham gia điều hành sản xuất đạt trên 50% ở cả 3 nhóm hộ (hộ khá 53,19%, hộ trung bình 54,87%, hộ nghèo 52,94%). Trong các khâu chọn giống, chăm sóc, mua vật tư và bảo quản nông sản, lao động nữ đóng vai trò trực tiếp và chiếm tỷ lệ cao hơn nam giới, tuy nhiên quyền ra quyết định tối hậu ở các hộ nghèo vẫn tập trung chủ yếu vào nam giới.

Kết quả và đóng góp

Số liệu kết quả khảo sát thực nghiệm

Nhóm chỉ tiêu Hạng mục / Phân loại Số lượng Cơ cấu (%)
Cơ cấu đất đai xã Chiềng Hoa (2018) Đất nông nghiệp 6.208,82 ha 87,552%
Đất phi nông nghiệp 548,89 ha 7,740%
Đất chưa sử dụng 333,83 ha 4,707%
Thành phần dân tộc Dân tộc Thái 6.326 người (1.373 hộ) 87,46%
Dân tộc Mông 907 người (163 hộ) 12,54%
Giới tính chủ hộ khảo sát ($n=60$) Nam chủ hộ 50 hộ 83,33%
Nữ chủ hộ 10 hộ 16,66%
Phân loại kinh tế hộ khảo sát Hộ khá 14 hộ 23,33%
Hộ trung bình khá 30 hộ 50,00%
Hộ nghèo 16 hộ 26,66%
Trình độ học vấn chủ hộ ($n=60$) Tiểu học 7 người 11,66%
Trung học cơ sở (THCS) 35 người 58,33%
Trung học phổ thông (THPT) 17 người 28,33%
Trung cấp - Cao đẳng - Đại học 1 người 1,66%
Tỷ lệ nữ tham gia quản lý theo nhóm hộ Hộ khá ($n=14$) Nữ chủ hộ: 23,3% Điều hành SX: 53,19%
Hộ trung bình khá ($n=30$) Nữ chủ hộ: 26,7% Điều hành SX: 54,87%
Hộ nghèo ($n=16$) Nữ chủ hộ: 50,0% Điều hành SX: 52,94%
Cơ cấu nữ tham gia lãnh đạo xã (2018) Lãnh đạo cấp ủy Đảng 0/2 người 0,0%
Lãnh đạo UBND xã 0/3 người 0,0%
Trưởng bản 0/21 người 0,0%
Lãnh đạo hội, đoàn thể 1/5 người 20,0%
Ban Chấp hành Đảng ủy xã 2/15 người 13,2%

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

Khóa luận đề xuất 5 nhóm giải pháp chính nhằm phát huy vai trò của phụ nữ dân tộc Thái trong phát triển kinh tế hộ:

  1. Nâng cao nhận thức của xã hội về vai trò của phụ nữ: Tăng cường tuyên truyền luật pháp về bình đẳng giới, phê phán tư tưởng "trọng nam khinh nữ", vận động chia sẻ công việc nội trợ giữa vợ và chồng.
  2. Nâng cao trình độ cho người phụ nữ: Tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật chuyển giao công nghệ trồng trọt, chăn nuôi, cách sử dụng thuốc bảo vệ thực vật phù hợp với trình độ tiếp thu của phụ nữ dân tộc thiểu số; mở rộng các chương trình nâng cao học vấn và kỹ năng nghề.
  3. Tăng cường khả năng tiếp cận và kiểm soát nguồn lực: Tạo điều kiện thuận lợi để phụ nữ đứng tên quyền sử dụng đất, tiếp cận các nguồn vốn vay ưu đãi phát triển sản xuất từ Ngân hàng Chính sách Xã hội và mở rộng kênh thông tin thị trường.
  4. Tăng cường sự tham gia của phụ nữ vào hoạt động cộng đồng: Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nữ nguồn để tăng tỷ lệ phụ nữ trong cấp ủy Đảng, HĐND, UBND và ban quản lý các bản.
  5. Lồng ghép giới vào chính sách phát triển địa phương: Các chương trình, dự án phát triển nông nghiệp nông thôn cần đặc biệt chú ý đến nhu cầu và khả năng tham gia của phụ nữ.

Đóng góp của đề tài

Đề tài cung cấp hệ thống dữ liệu khảo sát thực địa định lượng về thực trạng phân công lao động, quản lý kinh tế hộ và mức độ tham gia chính trị của phụ nữ dân tộc Thái tại xã Chiềng Hoa; làm rõ sự chênh lệch về quyền ra quyết định sản xuất giữa các nhóm hộ khá, trung bình và nghèo; đóng góp tư liệu thực tế cho chính quyền địa phương trong việc hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp gắn với bình đẳng giới.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Đề tài thực hiện trong phạm vi một xã vùng cao (xã Chiềng Hoa, huyện Mường La) với cỡ mẫu khảo sát giới hạn ở 60 hộ gia đình tại 3 bản; thời gian nghiên cứu thực địa ngắn (3 tháng, từ 20/02/2019 đến 20/05/2019). Các phân tích chủ yếu dựa trên thống kê mô tả và so sánh nhóm, chưa đo lường chi tiết giá trị đóng góp bằng tiền tệ cụ thể của từng loại hình lao động nữ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng quy mô khảo sát trên toàn huyện Mường La hoặc so sánh vai trò giới giữa các nhóm dân tộc thiểu số khác nhau (giữa dân tộc Thái và dân tộc Mông); nghiên cứu sâu hơn về tác động của chuyển đổi cơ cấu cây trồng và di cư lao động đến vị thế của phụ nữ nông thôn.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng tham khảo: Sinh viên, học viên chuyên ngành Phát triển nông thôn, Kinh tế nông nghiệp, Xã hội học, Công tác xã hội; cán bộ Hội Liên hiệp Phụ nữ các cấp; cán bộ khuyến nông và các nhà hoạch định chính sách dân tộc - miền núi.
  • Nội dung giá trị: Bảng câu hỏi phỏng vấn hộ gia đình về phân công lao động giới; phương pháp xác định mẫu Slowin trong điều tra nông thôn; dữ liệu thực địa về cơ cấu cây trồng (ngô, lúa, sắn), chăn nuôi và tỷ lệ tham gia lãnh đạo cơ sở của phụ nữ tại một xã vùng III Tây Bắc.

Câu hỏi thường gặp

1. Cỡ mẫu nghiên cứu của đề tài được lựa chọn theo phương pháp nào?

Tác giả sử dụng công thức chọn mẫu ngẫu nhiên của Slowin (1960) với sai số cho phép $e = 10%$ và độ tin cậy $90%$, chọn ra 60 hộ gia đình tại 3 bản (Pia, Nà Cưa, Huổi Lay) thuộc xã Chiềng Hoa, phân bổ thành 14 hộ khá (23,33%), 30 hộ trung bình khá (50,00%) và 16 hộ nghèo (26,66%).

2. Tỷ lệ phụ nữ giữ các vị trí lãnh đạo tại xã Chiềng Hoa năm 2018 đạt mức nào?

Tỷ lệ phụ nữ tham gia lãnh đạo cấp cơ sở rất thấp: 0% trong lãnh đạo cấp ủy Đảng (0/2), 0% trong lãnh đạo UBND xã (0/3), 0% trưởng bản (0/21 bản). Nữ giới chỉ chiếm 20% lãnh đạo hội/đoàn thể (1/5) và 13,2% thành viên Ban Chấp hành Đảng ủy xã (2/15).

3. Tỷ lệ nữ làm chủ hộ và tham gia điều hành sản xuất có đặc điểm gì giữa các nhóm hộ?

Tỷ lệ nữ làm chủ hộ cao nhất ở nhóm hộ nghèo (50,0%), trong khi ở hộ trung bình khá là 26,7% và hộ khá là 23,3% (nguyên nhân do phụ nữ đơn thân, chồng mất hoặc ốm đau). Tỷ lệ phụ nữ tham gia quản lý điều hành sản xuất tương đối đồng đều ở cả ba nhóm, dao động từ 52,94% đến 54,87%.

4. Kết quả sản xuất nông nghiệp chính của xã Chiềng Hoa năm 2018 như thế nào?

Tổng sản lượng lương thực có hạt đạt 52.066 tấn. Trong đó, cây ngô là cây mũi nhọn với diện tích 1.717 ha, năng suất 28 tạ/ha, sản lượng 48.076 tấn; cây lúa có diện tích 114 ha, năng suất 35 tạ/ha, sản lượng 3.990 tấn; cây sắn đạt diện tích 56 ha, năng suất 120 tạ/ha, sản lượng 6.720 tấn.

5. Sự khác biệt trong phân công lao động khâu chọn giống giữa hộ khá và hộ nghèo là gì?

Ở nhóm hộ khá, quyết định chọn giống dựa trên sự bàn bạc thống nhất của cả hai vợ chồng chiếm tỷ lệ cao nhất (64,28%). Ngược lại, ở nhóm hộ nghèo, việc chọn giống chủ yếu do người chồng quyết định (41,17%), ý kiến của người vợ chỉ chiếm 17,64%, phản ánh tiếng nói của phụ nữ ở hộ nghèo còn hạn chế hơn.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Cà Thị Nguyện đã phân tích toàn diện thực trạng vai trò và sự tham gia của phụ nữ dân tộc Thái trong phát triển kinh tế hộ tại xã Chiềng Hoa, huyện Mường La, tỉnh Sơn La. Mặc dù lao động nữ trực tiếp đảm nhận phần lớn công việc sản xuất nông nghiệp và chăm sóc gia đình, quyền quyết định kinh tế và vị thế chính trị của họ tại địa phương vẫn còn nhiều rào cản. Các phát hiện thực nghiệm và 5 nhóm giải pháp được đề xuất là tài liệu tham khảo hữu ích cho công tác bình đẳng giới và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số.