Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI 1. Một số vấn đề lý luận của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong bảo đảm quyền con người 1. Một số khái niệm công cụ - Khái niệm Mặt trận, Mặt trận Tổ quốc: Theo cách hiểu chung nhất: Mặt trận là một tập hợp các lực lượng, các tổ chức, các cá nhân cùng theo đuổi một mục tiêu, một định hướng, một lý tưởng. Mặt trận cũng được hiểu theo nghĩa là một liên minh chính trị rộng rãi.
Tại Điều 9 của Hiến pháp năm 2013 đã hiến định "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo, người Việt Nam định cư ở nước ngoài" [18; tr.1 của Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có quy định: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài" [22; tr. Với ý nghĩa MTTQ Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị rộng rãi như trên thì MTTQ cũng là tổ chức tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân, đại đoàn kết dân tộc do Đảng Cộng sản Việt Nam lập ra và lãnh đạo. Chức năng của liên minh chính trị là hoạt động tham chính, tham gia vào công việc của chính quyền Nhà nước, tham gia tổ chức thi hành đường lối, chính sách và xây dựng cuộc sống, chăm lo lợi ích của các cộng đồng dân cư. Tùy theo hoàn cảnh và nhiệm vụ cụ thể, chức năng cụ thể của Mặt trận có thể thay đổi.
Một trong những mục tiêu cơ bản của HTCT trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta là xây dựng nền dân chủ XHCN, nền dân chủ với quảng đại quần chúng, vì lợi ích của nhân dân. Nền dân chủ có sự thống nhất về cơ bản 9 giữa bản chất giai cấp công nhân với tính nhân dân, tính dân tộc và tính nhân loại. MTTQ đóng vai trò là một liên minh chính trị, là khối đại đoàn kết dân tộc thể hiện trên mấy vấn đề: MTTQ là nơi hiệp thương bầu cử các cơ quan quyền lực Nhà nước ở Trung ương và ở địa phương. MTTQ thật sự thực hiện được chức năng tư vấn và giám sát, phản biện xã hội đối với Nhà nước và với Đảng Cộng sản.
MTTQ Việt Nam là một bộ phận quan trọng trong công tác vận động quần chúng của Đảng, giữ vai trò to lớn trong việc củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Có thành tích đó là nhờ: Hồ Chí Minh và Đảng ta có ý thức sâu sắc về sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân. Bởi vì Bác Hồ và Đảng ta luôn nhìn thấy ở mỗi người Việt Nam một người yêu nước và MTTQ là sự tập hợp và nhân lên gấp bội nhiệt tình yêu nước ấy. Các thành viên của MTTQ Việt Nam hiện nay gồm có: + Đảng Cộng sản Việt Nam (thành lập 3/2/1930); có hơn 2,3 triệu đảng viên [24, tr.51] là tổ chức chính trị cao nhất của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là người lãnh đạo duy nhất hệ thống chính trị Việt Nam, vừa là thành viên, vừa là người lãnh đạo MTTQ.
+ Tổng liên đoàn lao động Việt Nam (thành lập 28/7/1929), là tổ chức chính trị của giai cấp công nhân Việt Nam, giai cấp tiêu biểu cho lực lượng sản xuất tiến bộ, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. + Hội Nông dân Việt Nam (Công hội đỏ, thành lập 14/10/1930), là tổ chức chính trị - xã hội với 7,685 triệu hội viên, chiếm trên 42% nông dân từ 18 tuổi trở lên [24, tr. + Hội Cựu chiến binh Việt Nam (thành lập 06/12/1989), có 80 vạn hội viên đại biểu cho khoảng 4,5 triệu cựu chiến binh (chiếm khoảng 15% dân số, trong đó có trên 13% tham gia cấp ủy địa phương, 14% tham gia công tác trong các cấp ủy đảng, chính quyền, đoàn thể ở cơ sở, 48% đang lao động trong nông nghiệp, sinh hoạt trong hơn 9.530 tổ chức hội cơ sở [24, tr. + Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam (thành lập tháng 20/10/1930), có trên 10 triệu hội viên, sinh hoạt trong hơn 19.930 tổ chức hội cơ sở; đại diện cho 52% lao 10 động xã hội [24, tr.51], là tổ chức chính trị, xã hội của một nửa thế giới, có nhiệm vụ thực hiện quyền làm chủ của các chị, các mẹ trong các phong trào "Ba đảm đang", "Giỏi việc nước, đảm việc nhà" và trong sự nghiệp giải phóng phụ nữ.
+ Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (thành lập 26/3/1931), với 2,05 triệu đoàn viên (trong tổng số 20,5 triệu thanh niên), là tổ chức đại biểu cho trên 30% dân số, gần 50% lao động xã hội [24, tr.50], là tổ chức chính trị của thế hệ trẻ, thế hệ tràn đầy nhựa sống sẽ tiếp nối sự nghiệp cha ông, thế hệ đã từng "Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai". MTTQVN là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. MTTQVN có nhiệm vụ tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân dân; tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ công chức nhà nước; tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với Đảng và Nhà nước; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân; tham gia phát triển tình hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trong khu vực và trên thế giới''. ''Thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp bao gồm tổ chức chính trị, các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, người Việt Nam ở nước ngoài.
''Tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thực hiện theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động'. - Khái niệm Quyền con người Quyền con người (human rights) là một phạm trù đa diện. Xuất phát từ tính đa diện này nên nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các khái niệm dưới những cách tiếp cận riêng. Tính phù hợp của các định nghĩa hiện có về QCN phụ thuộc vào sự nhìn 11 nhận chủ quan của mỗi cá nhân, tuy nhiên, ở cấp độ quốc tế, định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về QCN (Office of High Commissioner for Human Rights – OHCHR) thường được trích dẫn nhiều bởi các nhà nghiên cứu.
Theo định nghĩa này, QCN là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người. Bên cạnh định nghĩa của OHCHR kể trên, một định nghĩa khác cũng thường được trích dẫn, theo đó, QCN là những sự được phép (entitlements) mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội.; đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người [39, tr. Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu, các cơ quan khác nhau cũng đưa ra những khái niệm riêng. Những định nghĩa này không hoàn toàn giống nhau, nhưng xét chung, QCN thường được hiểu là những nhu cầu tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.
Như vậy, có thể nói, mặc dù có nhiều quan điểm, cách đánh giá, tiếp cận khác nhau song quyền con người luôn được luật pháp các nước tiến bộ thừa nhận và bảo đảm thực hiện. Những chuẩn mực này được kết tinh từ những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người, cho tất cả mọi người. Nhờ có những chuẩn mực này, mọi thành viên trong gia đình nhân loại mới được bảo vệ nhân phẩm và mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người. Đó là những quyền của con người, được có một cách tự nhiên gắn bó mật thiết với con người (động vật cao cấp có tư duy, làm cho con người khác với con vật), nhà nước có nghĩa vụ phải bảo đảm cho các QCN được thực hiện và nghĩa vụ bảo vệ khi các QCN bị xâm phạm.
- Khái niệm bảo đảm quyền con người. Để bảo đảm và bảo vệ QCN, cộng đồng thế giới đã thông qua nhiều điều ước quốc tế về QCN. Trong đó, Tuyên ngôn toàn thế giới về QCN năm 1948, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966 được coi là Bộ luật quốc tế về QCN. Việt Nam là 12 thành viên của hầu hết các công ước quốc tế về QCN chủ chốt, trong đó có Bộ luật Nhân quyền quốc tế.
Và, Chính phủ Việt Nam có nghĩa vụ và trách nhiệm Tôn trọng, bảo vệ và thực hiện các QCN của công dân trước các cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết và việc nội luật hóa nội dung các Điều ước quốc tế vào pháp luật Việt Nam. Các QCN, quyền công dân (QCD) ở Việt Nam được bảo đảm bằng Hiến pháp và hệ thống các Bộ luật, luật và văn bản dưới luật, và được xác lập các thiết chế bảo đảm và bảo vệ.