Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ xã hội học của tác giả Nguyễn Thị Phương Thảo có tiêu đề "Di cư mùa vụ nông thôn - đô thị và vai trò giới trong gia đình có người di cư ở nông thôn Hải Phòng hiện nay (Nghiên cứu trường hợp tại xã Quốc Tuấn và xã Quang Trung, huyện An Lão, Hải Phòng)", được bảo vệ năm 2018 tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Trịnh Duy Luân và TS. Hà Việt Hùng (Mã số chuyên ngành: 62 31 30 01).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Di cư nông thôn - đô thị là xu hướng mang tính quy luật tại các quốc gia đang phát triển. Tại Việt Nam, từ sau Đổi mới (1986), các luồng di cư diễn ra phổ biến với ba loại hình chính: di cư lâu dài, di cư ngắn hạn và di cư mùa vụ. Tuy nhiên, các nguồn số liệu cấp quốc gia và nghiên cứu quy mô lớn về di cư nội địa thường tập trung vào di cư lâu dài hoặc di cư cả gia đình mà chưa phản ánh đầy đủ loại hình di cư ngắn hạn và di cư mùa vụ do tính chất "động bất định" của đối tượng này.
Về mặt kinh tế, di cư mùa vụ góp phần nâng cao thu nhập, đa dạng hóa sinh kế và giảm nghèo nông thôn. Về mặt xã hội, sự vắng mặt của lao động trụ cột đặt ra những biến đổi trong tổ chức đời sống gia đình tại nơi xuất cư: phân công lại lao động sản xuất, gánh nặng công việc nội trợ, chăm sóc con cái và phụng dưỡng người cao tuổi. Tại thành phố Hải Phòng nói chung và huyện An Lão nói riêng — một huyện thuần nông có diện tích đất canh tác bị thu hẹp đáng kể do các dự án hạ tầng như đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng và nâng cấp Quốc lộ 10 — tình trạng thiếu đất sản xuất và thời gian nông nhàn kéo dài đã thúc đẩy luồng di cư mùa vụ gia tăng. Khác với xu hướng "nữ hóa di cư" được ghi nhận ở nhiều báo cáo cấp quốc gia, tại địa bàn An Lão, người di cư mùa vụ chủ yếu là nam giới (người chồng). Trước thực tế chưa có công trình nghiên cứu hệ thống nào về di cư mùa vụ và vai trò giới tại Hải Phòng, luận án được thực hiện nhằm lấp đầy khoảng trống này.
Mục tiêu nghiên cứu
Luận án xác định hệ thống mục tiêu như sau:
- Mục tiêu tổng quát: Từ thực trạng di cư mùa vụ nông thôn - đô thị tại địa bàn nghiên cứu, chỉ ra những ảnh hưởng của hiện tượng này tới sự thay đổi vai trò giới trong gia đình người di cư.
- Mục tiêu cụ thể:
- Làm rõ đặc điểm của di cư mùa vụ nông thôn - đô thị tại địa bàn nghiên cứu.
- Chỉ ra ảnh hưởng của di cư mùa vụ đến những thay đổi về vai trò giới trong các gia đình có người di cư mùa vụ.
- Đề xuất những khuyến nghị có liên quan đến việc quản lý di cư mùa vụ ở địa bàn nghiên cứu và nâng cao nhận thức về bình đẳng giới trong điều kiện của các gia đình có người di cư.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Hệ thống câu hỏi nghiên cứu gồm 3 câu:
- Hộ gia đình có người di cư mùa vụ có những đặc điểm gì (về nhân khẩu xã hội, về các hoạt động kinh tế - xã hội)?
- Di cư mùa vụ nông thôn – đô thị ảnh hưởng như thế nào tới việc thay đổi vai trò giới trong gia đình?
- Cần phải làm gì để các gia đình có người di cư mùa vụ đảm bảo sự ổn định, bền vững về kinh tế và đời sống gia đình?
Hệ thống giả thuyết nghiên cứu gồm 4 giả thuyết:
- Phần lớn người di cư mùa vụ là nam giới và đi làm xa nhà trong khoảng thời gian ngắn.
- Các gia đình có người di cư mùa vụ có những thay đổi trong vai trò giới nhưng chưa bền vững.
- Những thay đổi vai trò giới trong gia đình là khác nhau tùy thuộc vào ai là người di cư mùa vụ trong gia đình (vợ/chồng/cả hai).
- Những thay đổi vai trò giới trong gia đình người di cư mùa vụ là không bền vững, nhưng vẫn góp phần vào những thay đổi trong dài hạn.
Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đặc điểm di cư lao động mùa vụ nông thôn - đô thị tại Hải Phòng và ảnh hưởng của di cư mùa vụ tới sự thay đổi về vai trò giới trong gia đình có người di cư ở nông thôn Hải Phòng.
- Khách thể nghiên cứu: Hộ gia đình của người di cư mùa vụ tại hai xã Quốc Tuấn và Quang Trung, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Phạm vi không gian: Xã Quốc Tuấn và xã Quang Trung, huyện An Lão, thành phố Hải Phòng.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát thực địa thu thập thông tin được triển khai trong giai đoạn 2014 - 2016; dữ liệu di cư thu thập theo mốc 5 năm (2011 - 2015).
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào mối quan hệ tác động qua lại giữa di cư mùa vụ và vai trò giới trong gia đình người di cư trên 4 lĩnh vực chính: sản xuất kinh tế, nội trợ gia đình, chăm sóc con cái và bố mẹ già, công việc dòng họ và cộng đồng.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án phân loại và hệ thống hóa các công trình nghiên cứu đi trước trong và ngoài nước theo ba hướng tiếp cận chính:
1. Hướng nghiên cứu về tác động kinh tế và tiền gửi của người di cư
Các nghiên cứu quốc tế như báo cáo của Ngân hàng Thế giới (World Bank, 2003) tại châu Phi và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB, 2003) tại tiểu vùng sông Mê Kông khẳng định tiền gửi là nguồn lực tài chính trực tiếp giúp hộ gia đình cải thiện mức sống, chi trả y tế và giáo dục. Priya Deshingkar và Edward Anderson chỉ ra di cư mùa vụ tại Ấn Độ giúp nâng cao thu nhập và thu hẹp khoảng cách nông thôn - đô thị. Rosalia Sciortino, Therese Caouette và Philip Guest (1999) phân tích luồng di chuyển lao động ngắn hạn trong khu vực tiểu vùng Mê Kông mở rộng.
Tại Việt Nam, Heather Xiaoquan Zhang, P. Mick Kelly, Catherine Locke, Alexandra Winkels và W. Neil Adger (2001) nhận định di cư tạo lập nguồn vốn và phát triển văn hóa - con người cho cộng đồng xuất cư. Alan de Brauw và Tomoko Harigaya (2004) phân tích giai đoạn 1992 - 1997 cho thấy tỷ lệ di cư mùa vụ tăng gấp 6 lần, chủ yếu hướng về Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh thông qua mạng lưới phi chính thức. Nghiên cứu của Đặng Nguyên Anh (2008) về di dân và bảo trợ xã hội, cùng công trình của Lê Bạch Dương, Nguyễn Thanh Liêm và cộng sự (2012) khảo sát 2.088 người, đã lượng hóa vai trò của tiền gửi đối với đời sống vật chất và chi tiêu gia đình. Số liệu Điều tra di cư nội địa quốc gia năm 2015 chỉ ra lý do kinh tế chiếm vị trí hàng đầu, với mức gửi tiền trung bình 27,5 triệu đồng/năm (92,4% chi cho sinh hoạt thường ngày).
2. Hướng nghiên cứu về tác động xã hội và vai trò giới trong gia đình
- Về chăm sóc con cái và gia đình: Nguyễn Thị Thanh Tâm (2008 - 2009) đưa ra khái niệm "làm cha mẹ từ xa" khi người di cư giữ liên lạc và bù đắp tình cảm qua vật chất. Dự án CHAMPSEA (Wellcome Trust, 2008) khảo sát 1.000 hộ tại Thái Bình, Hải Dương và 37 phỏng vấn sâu chỉ ra sự thiếu hụt chăm sóc trực tiếp gây xáo trộn tâm lý trẻ em. Catherine và cộng sự (2009) phân tích chiến lược gửi con cho ông bà chăm sóc. Hà Phương Tiến và Hà Quang Ngọc (2001), Phạm Thị Huệ (2010), Đặng Thanh Nhàn (2012) phân tích rào cản kép của lao động nữ khi gánh vác cả vai trò sản xuất và tái sản xuất. Các nghiên cứu của Viện Gia đình và Giới (2009, 2010, 2012) và Đặng Nguyên Anh (2008 tại Vũ Tây, Thái Bình) cảnh báo các nguy cơ tổn thương sức khỏe, lây nhiễm bệnh xã hội và nguy cơ rạn nứt hôn nhân khi vợ chồng sống xa nhau.
- Về phụng dưỡng cha mẹ già: Điều tra gia đình Việt Nam (2006), nghiên cứu của Trung ương Hội Người cao tuổi (2003 trên 600 người già tại Hải Dương, Quảng Bình, Đắk Lắk), Barbieri (2006), Bùi Thế Cường (2006 tại đồng bằng sông Hồng) và Lê Ngọc Lân (2012) đều chứng minh con cái di cư duy trì hỗ trợ tài chính cho cha mẹ già, con trai gửi tiền thường xuyên hơn, dù hình thức chăm sóc trực tiếp bị thay thế bằng hỗ trợ vật chất. Khảo sát của Hội Liên hiệp Phụ nữ Hải Phòng (2014) tại 3 xã huyện An Lão (Quang Trung, Quốc Tuấn, An Thắng trên 150 hộ) chỉ ra tác động của việc thu hồi đất nông nghiệp dẫn đến tình trạng thiếu việc làm và mâu thuẫn gia đình liên quan đến quản lý tiền đền bù.
- Về sự thay đổi vai trò giới: Dhrama Chandra (2005 tại Fiji) phân tích sự gia tăng quyền quyết định của phụ nữ khi chồng vắng nhà. Nguyễn Hà Đông chỉ ra sự đảo lộn vai trò khi người vợ đi xuất khẩu lao động buộc chồng phải đảm nhiệm 96,5% công việc nội trợ vốn do vợ phụ trách trước đó. Trịnh Thị Lan (2011) trong nghiên cứu "Gia đình nông thôn Bắc Bộ trong chuyển đổi" khẳng định sự phân công lại công việc khi vợ hoặc chồng vắng nhà. Các tác giả Mai Huy Bích, Lê Ngọc Văn, Lê Ngọc Hùng, Vũ Mạnh Lợi, Trần Thị Vân Anh (2007), Đỗ Thị Bình, Nguyễn Linh Khiếu (2008), Đặng Cảnh Khanh, Lê Thị Quý (2007), Nguyễn Thị Hòa (2007) cung cấp nền tảng lý luận về sự biến đổi chức năng gia đình và tiếp cận giới. Báo cáo của Viện Xã hội học (2009 trên 600 hộ tại 5 tỉnh) và Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội (2012 - 2015 trên 8.424 người tại 9 tỉnh/thành) đi sâu vào bất bình đẳng giới và phân công lao động gia đình nông thôn.
3. Hướng nghiên cứu về chính sách di cư
Nghiên cứu của ActionAid (2012), Đặng Nguyên Anh, Mai Ngọc Cường (2009), Lê Bạch Dương và Đặng Nguyên Anh (2005) chỉ ra các khoảng trống pháp lý: chính sách an sinh xã hội hiện hành chưa bao phủ đối tượng lao động di cư tự do; rào cản hộ khẩu hạn chế quyền tiếp cận dịch vụ công lập (y tế, giáo dục, nhà ở); 70% lao động di cư không có phúc lợi, 90% không có bảo hiểm xã hội hoặc bảo hiểm tai nạn lao động. Nghiên cứu của Liên đoàn Lao động Hải Phòng (2015), Đinh Đặng (2010), Quyết định phê duyệt kế hoạch sử dụng đất huyện An Lão (2016) và Sở Khoa học Công nghệ Hải Phòng (2016) làm rõ bối cảnh quy hoạch và chính sách địa phương.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Tổng quan cho thấy phần lớn các công trình tập trung vào di cư dài hạn, di cư quốc tế hoặc nhấn mạnh nhóm nữ di cư tại các đô thị tiếp nhận. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: Phân tích thực nghiệm có hệ thống về dòng di cư mùa vụ nông thôn - đô thị tại nơi xuất cư (đặc thù nam giới di cư chiếm đa số); đánh giá định lượng và định tính sự biến đổi vai trò giới theo mô hình so sánh "trước - trong" khi có người di cư trên 4 lĩnh vực chức năng của gia đình nông thôn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khái niệm công cụ
- Gia đình: Tiếp cận theo Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nhấn mạnh sự liên kết gắn bó giữa các thành viên để thực hiện các chức năng sản xuất kinh tế, chăm sóc các thế hệ và quan hệ xã hội.
- Gia đình nông thôn: Tiếp cận theo quan điểm của Tô Duy Hợp về tính thuần nhất, tính gắn kết nghề nông, kỷ luật nội bộ chặt chẽ và sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các thành viên.
- Hộ gia đình (Định nghĩa làm việc): Các hộ nông dân có đầy đủ vợ chồng, có con dưới 15 tuổi đang đi học, cùng chia sẻ sinh hoạt, kinh tế, và có ít nhất một thành viên (vợ hoặc chồng) từng tham gia di cư mùa vụ trong 5 năm (2011 - 2015).
- Di cư mùa vụ nông thôn - đô thị: Sự dịch chuyển lao động từ nông thôn ra đô thị làm việc tạm thời trong thời gian nông nhàn; mỗi đợt cư trú tại đô thị không quá 3 tháng và trong vòng 3 tháng phải quay trở về địa phương gốc ít nhất một lần (theo Đặng Nguyên Anh, Đỗ Thị Bình).
- Vai trò giới: Gồm ba nhóm vai trò cơ bản:
- Vai trò sản xuất: Tham gia tạo ra thu nhập, sản xuất nông nghiệp, sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp.
- Vai trò tái sản xuất: Chăm sóc con cái, giáo dục, nội trợ, dọn dẹp, nấu ăn, chăm sóc sức khỏe gia đình và người già.
- Vai trò cộng đồng: Tham gia các hoạt động dòng họ, thôn xóm, hiếu hỉ, hội họp đoàn thể.
Khung lý thuyết và cách tiếp cận
- Lý thuyết Hút - Đẩy (Push - Pull Theory): Kế thừa quan điểm của E.G. Ravenstein (1889) về quy luật di cư và mô hình 4 nhóm yếu tố của Everett S. Lee (1966) gồm yếu tố nơi đi (lực đẩy: thiếu đất, thiếu việc làm, nông nhàn), yếu tố nơi đến (lực hút: cơ hội việc làm, thu nhập đô thị), các trở ngại can thiệp (khoảng cách, chi phí đi lại, thủ tục cư trú) và yếu tố cá nhân (tuổi tác, giới tính, học vấn).
- Lý thuyết Thay thế vai trò giới (Gender Role Replacement Theory): Giải thích cách thức hộ gia đình tái cấu trúc lao động khi lao động chính vắng mặt:
- Thay thế cùng giới: Phụ nữ khác trong gia đình (mẹ chồng, mẹ đẻ, chị em gái) hỗ trợ việc chăm sóc, nội trợ.
- Thay thế khác giới: Người chồng/người vợ ở nhà trực tiếp đảm nhiệm các công việc vốn do giới kia thực hiện trước đây.
- Lý thuyết Chiến lược hộ gia đình (Household Strategy Theory): Quyết định di cư không phải là hành vi đơn lẻ mang tính cá nhân mà là sự bàn bạc, thống nhất và lựa chọn tối ưu của toàn thể hộ gia đình nhằm phân bổ nguồn nhân lực để đạt lợi ích kinh tế tối đa và phân tán rủi ro.
Khung phân tích và hệ thống biến số
- Biến số độc lập: Đặc trưng nhân khẩu học của người ở nhà; đặc điểm hộ gia đình (quy mô, số thế hệ, tình trạng hôn nhân); nghề nghiệp tại nơi đến; thu nhập và mức tiền gửi của người di cư; điều kiện kinh tế hộ.
- Biến số phụ thuộc: Sự thay đổi vai trò giới của người ở nhà trong 4 lĩnh vực (sản xuất; nội trợ; chăm sóc con cái và cha mẹ già; việc dòng họ và cộng đồng); đánh giá, nhận thức và thái độ của người ở nhà về mức độ thích nghi, tính bền vững hay tạm thời của sự thay đổi vai trò giới.
- Biến số can thiệp: Chính sách kinh tế - xã hội địa phương; biến động thu hồi đất nông nghiệp; quá trình đô thị hóa; phong tục tập quán địa phương.
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp (kết hợp định lượng và định tính), sử dụng khung so sánh "trước - trong" (so sánh sự phân công lao động trước và trong thời gian có thành viên đi di cư mùa vụ).
- Phương pháp định lượng:
- Tổng thể chọn mẫu: 677 hộ có người di cư mùa vụ trên tổng số 1.222 hộ của 2 xã (xã Quang Trung có 415 hộ di cư/693 hộ; xã Quốc Tuấn có 257 hộ di cư/529 hộ; tổng dân số huyện An Lão tại thời điểm khảo sát là 12.224 người, 9.086 hộ).
- Kỹ thuật chọn mẫu: Chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống theo danh sách hộ (bước nhảy $k=2$), rút ra 338 hộ, thu được 300 bảng hỏi hợp lệ đáp ứng đầy đủ tiêu chí chọn mẫu (hộ có đầy đủ vợ chồng, có con dưới 15 tuổi, có người di cư mùa vụ giai đoạn 2011 - 2015).
- Đặc điểm mẫu khảo sát định lượng ($N=300$):
| Chỉ tiêu nhân khẩu học |
Phân loại |
Tần số ($N$) |
Tỷ lệ (%) |
| Địa bàn cư trú |
Xã Quang Trung: Thôn Câu Hạ A |
38 |
12,7 |
|
Xã Quang Trung: Thôn Câu Hạ B |
40 |
13,3 |
|
Xã Quang Trung: Thôn Tân Trung |
39 |
13,0 |
|
Xã Quang Trung: Thôn Câu Đông |
32 |
10,7 |
|
Xã Quang Trung: Thôn Cẩm Vãn 1 |
29 |
9,7 |
|
Xã Quang Trung: Thôn Cẩm Vãn 2 |
26 |
8,7 |
|
Xã Quốc Tuấn: Thôn Đâu Kiên |
24 |
8,0 |
|
Xã Quốc Tuấn: Thôn Đông Nham |
28 |
9,3 |
|
Xã Quốc Tuấn: Thôn Hạ Câu |
19 |
6,3 |
|
Xã Quốc Tuấn: Thôn Bạch Câu |
25 |
8,3 |
| Giới tính người trả lời |
Nam |
85 |
28,3 |
|
Nữ |
215 |
71,7 |
| Độ tuổi trung bình |
32,36 tuổi (không có người trên 60 tuổi) |
- |
- |
| Trình độ học vấn |
Tiểu học trở xuống |
9 |
3,0 |
|
Trung học cơ sở (THCS) |
163 |
54,3 |
|
Trung học phổ thông (THPT) |
125 |
41,7 |
|
Cao đẳng trở lên |
3 |
1,0 |
| Chủ hộ gia đình |
Chồng |
172 |
57,3 |
|
Vợ |
128 |
42,7 |
| Người đứng tên đất/nhà |
Chồng |
210 |
70,0 |
|
Vợ |
90 |
30,0 |
| Quy mô hộ gia đình |
Trung bình 4,32 người/hộ |
- |
- |
| Số thế hệ trong gia đình |
2 thế hệ |
178 |
59,3 |
|
3 thế hệ |
122 |
40,7 |
| Sống cùng bố mẹ |
Có sống cùng |
100 |
33,3 |
|
Không sống cùng |
200 |
66,7 |
| Vị thế người được hỏi |
Đã từng di cư mùa vụ, hiện ở nhà |
151 |
44,3 |
|
Đang di cư mùa vụ |
52 |
17,3 |
|
Người ở nhà, không di cư |
97 |
38,3 |
- Phương pháp định tính:
- Phỏng vấn sâu 20 đối tượng, bao gồm:
- 10 người thuộc các gia đình không có người di cư mùa vụ (nhằm so sánh đối chứng mô hình phân công lao động).
- 08 người thuộc các gia đình có người di cư mùa vụ (04 người đang trực tiếp đi di cư và 04 người ở nhà).
- 02 cán bộ quản lý cấp xã (thu thập dữ liệu về thu hồi đất, quy hoạch, việc làm và an sinh xã hội).
- Phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp: Sử dụng niên giám thống kê, báo cáo kinh tế - xã hội định kỳ (2010 - 2016) của huyện An Lão, xã Quang Trung, xã Quốc Tuấn; các báo cáo quy hoạch sử dụng đất và tài liệu điều tra dân số liên quan.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về di cư mùa vụ nông thôn - đô thị và vai trò giới trong gia đình có người di cư
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu khoa học về di cư trong nước và quốc tế. Tác giả phân tích các mốc lịch sử di cư ở Việt Nam từ giai đoạn 1960 - 1980 (di dân có tổ chức đi xây dựng vùng kinh tế mới) đến thời kỳ Đổi mới (bùng nổ di cư tự do). Tác giả dẫn chứng dữ liệu Điều tra Dân số giữa kỳ 2014 và Điều tra Di cư nội địa 2015 để khẳng định đồng bằng sông Hồng là vùng tiếp nhận và xuất cư lớn thứ hai cả nước, với 44,8% người di cư nhằm mục đích tìm việc làm. Chương này làm rõ 3 mảng nghiên cứu chính: vai trò của tiền gửi; các hệ lụy xã hội lên quan hệ gia đình (chăm sóc con cái, phụng dưỡng người già, nguy cơ rạn nứt hôn nhân); và những thiếu hụt trong chính sách xã hội hiện hành khi chưa có khung pháp lý đặc thù cho lao động mùa vụ.
Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu về di cư mùa vụ và vai trò giới trong gia đình người di cư
Chương 2 xây dựng hệ thống thao tác hóa khái niệm và khung lý thuyết chỉ đạo. Luận án vận dụng ba lý thuyết trụ cột: Lý thuyết Hút - Đẩy (Ravenstein, Lee) để giải thích động cơ di chuyển; Lý thuyết Thay thế vai trò giới để giải thích cơ chế chuyển giao công việc giữa vợ và chồng; và Lý thuyết Chiến lược hộ gia đình để chứng minh tính hợp lý kinh tế trong quyết định di cư. Phần cơ sở thực tiễn phân tích bối cảnh địa bàn huyện An Lão (Hải Phòng), nơi có tuyến cao tốc Hà Nội - Hải Phòng chạy qua gây thu hồi đất nông nghiệp diện rộng, làm nảy sinh tình trạng nông nhàn và thúc đẩy lao động nam xuất cư ngắn hạn sang các đô thị hoặc công trường lân cận. Chương này cũng trình bày chi tiết thiết kế nghiên cứu, quy trình chọn mẫu 300 hộ và khung phân tích biến số.
Chương 3: Đặc điểm của di cư mùa vụ nông thôn - đô thị
Chương 3 trình bày các phát hiện thực nghiệm về thực trạng hộ gia đình và hoạt động di cư mùa vụ tại hai xã nghiên cứu:
- Đặc điểm hộ gia đình: Phần lớn hộ mang cấu trúc 2 thế hệ (59,3%) và 3 thế hệ (40,7%), quy mô trung bình 4,32 người/hộ. Tỷ lệ chồng đứng tên sở hữu nhà đất chiếm 70,0%, chủ hộ là nam giới chiếm 57,3%.
- Đặc điểm hoạt động di cư: Khác biệt căn bản với các luồng di cư công nghiệp, lao động di cư mùa vụ tại địa bàn phần lớn là nam giới (cao gấp 3 - 4 lần nữ giới).
- Nghề nghiệp: Nam giới chủ yếu làm việc tại các công trình xây dựng đô thị, khai thác than, hoặc lái xe, phục vụ du lịch theo mùa. Nữ giới di cư thời vụ thường buôn bán nông sản theo chuyến hoặc làm công nhân thời vụ tại các xưởng may mặc, giày da gia công.
- Thời gian và tính chất di chuyển: Thời gian vắng nhà mỗi đợt thường dưới 3 tháng, có tính chu kỳ gắn liền với lịch nông nhàn (thường đi vào các tháng 1, 6, 9 âm lịch và trở về vào vụ gặt tháng 5, tháng 12 âm lịch). Người di cư duy trì tần suất liên lạc cao với gia đình qua điện thoại và gửi tiền định kỳ về để trang trải chi phí sinh hoạt thường nhật.
Chương 4: Sự thay đổi vai trò giới trong gia đình có người di cư mùa vụ
Chương 4 là chương phân tích trọng tâm của luận án, kiểm định sự biến đổi vai trò giới trên 4 phương diện chức năng:
- Vai trò giới trong tổ chức hoạt động kinh tế: Khi người chồng đi làm ăn xa, người vợ ở nhà phải gánh vác toàn bộ công việc đồng áng nặng nhọc (cày bừa, phun thuốc trừ sâu, thu hoạch, chăm sóc vật nuôi) vốn trước đây do nam giới phụ trách chính. Về quyền quyết định tài chính, tiền gửi của người di cư làm tăng nguồn thu nhập gia đình, nhưng quyền quyết định chi tiêu các khoản lớn vẫn có sự bàn bạc, thống nhất giữa hai vợ chồng.
- Vai trò giới trong lĩnh vực nội trợ: Sự vắng mặt của người chồng khiến khối lượng công việc nội trợ dồn ép lên người vợ. Ngược lại, ở những gia đình người vợ đi di cư thời vụ, người chồng ở nhà buộc phải thực hiện các công việc bếp núc, giặt giũ, dọn dẹp nhà cửa — những việc mà trước đó họ ít khi thực hiện. Quá trình thích nghi diễn ra trong một khoảng thời gian nhất định, với sự trợ giúp của mạng lưới họ hàng và ông bà hai bên.
- Vai trò giới trong chăm sóc con cái và bố mẹ già:
- Chăm sóc con cái: Người ở nhà đảm nhiệm việc đưa đón, dạy học, họp phụ huynh và chăm sóc khi con ốm đau. Người di cư thực hiện trách nhiệm thông qua liên lạc từ xa và chu cấp tài chính. Kiểm định hồi quy tuyến tính trong luận án chỉ ra mối liên hệ giữa sự vắng mặt của lao động chính với mức độ khó khăn mà người ở nhà gặp phải trong giáo dục con cái.
- Chăm sóc cha mẹ già: Mô hình sống chung 3 thế hệ (40,7%) tạo điều kiện để các thành viên hỗ trợ lẫn nhau, nhưng trách nhiệm chăm sóc trực tiếp người già khi đau ốm dồn phần lớn lên vai người phụ nữ ở lại.
- Vai trò giới trong công việc dòng họ và cộng đồng: Người ở nhà (chủ yếu là phụ nữ khi chồng vắng nhà) phải thay mặt gia đình tham gia các nghĩa vụ họ hàng, làng xóm (đám hiếu, hỉ, giỗ chạp, họp thôn). Dù người vợ tham gia đầy đủ, định kiến giới truyền thống vẫn khiến vai trò đại diện chính thức trong các nghi lễ lớn của dòng tộc được ưu tiên cho nam giới khi họ trở về.
- Đánh giá về tính chất thay đổi: Sự thay đổi vai trò giới mang tính chất "thích nghi tình thế" và tạm thời. Khi đợt di cư kết thúc và người lao động trở về, cấu trúc phân công lao động truyền thống có xu hướng tái lập. Tuy nhiên, việc nam giới phải chia sẻ công việc nhà khi vợ vắng nhà hoặc việc phụ nữ tự chủ quản lý kinh tế khi chồng đi xa đã tạo ra những tiền đề thực tế thúc đẩy nhận thức bình đẳng giới trong dài hạn.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án vận dụng và kiểm chứng thành công sự kết hợp giữa Lý thuyết Hút - Đẩy, Lý thuyết Thay thế vai trò giới và Lý thuyết Chiến lược hộ gia đình trong nghiên cứu phân tầng xã hội học tại nông thôn Việt Nam.
- Làm rõ cơ chế thay thế vai trò giới mang tính "tình thế" trong loại hình di cư mùa vụ: sự hoán đổi vai trò diễn ra linh hoạt giữa các thành viên nhằm ứng phó với khoảng trống lao động ngắn hạn, khác biệt với sự đứt gãy vai trò trong di cư dài hạn hoặc di cư quốc tế.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bộ dữ liệu thực nghiệm về thực trạng di cư mùa vụ tại vùng nông thôn chịu tác động của đô thị hóa và thu hồi đất thuộc thành phố Hải Phòng.
- Nhận diện mô hình phân công lao động thực tế và những khó khăn của người ở lại (chủ yếu là phụ nữ) trong việc gánh vác cùng lúc vai trò sản xuất, tái sản xuất và đại diện cộng đồng.
- Bác bỏ giả định cho rằng di cư luôn dẫn đến xu hướng "nữ hóa di cư" trong mọi bối cảnh, chỉ ra đặc thù di cư mùa vụ do nam giới chiếm ưu thế tại địa bàn nghiên cứu.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với công tác quản lý lao động và an sinh xã hội: Chính quyền địa phương cần xây dựng hệ thống theo dõi, thống kê biến động lao động mùa vụ; phát triển các dịch vụ hỗ trợ xã hội, đào tạo nghề chuyển đổi tại chỗ cho nông dân mất đất canh tác.
- Đối với bình đẳng giới: Đẩy mạnh truyền thông về chia sẻ trách nhiệm gia đình; Hội Phụ nữ và các đoàn thể cơ sở cần có các mô hình hỗ trợ phụ nữ có chồng đi làm ăn xa (tín dụng vi mô, tổ đổi công, hỗ trợ chăm sóc trẻ em).
- Đối với chính sách kinh tế hộ: Quy hoạch sử dụng đất và hỗ trợ vốn vay phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp tại địa phương nhằm tạo việc làm ổn định, giảm thiểu sự phụ thuộc vào di cư tự phát.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án
- Khảo sát thực địa giới hạn tại 2 xã (Quốc Tuấn và Quang Trung) thuộc một huyện thuần nông (An Lão, Hải Phòng), chưa mở rộng so sánh với các huyện ven biển hoặc các vùng nông thôn khác có điều kiện sinh kế khác biệt.
- Kỹ thuật chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản quy mô 300 hộ tuy đáp ứng yêu cầu nghiên cứu trường hợp nhưng chưa mang tính đại diện tổng thể cho toàn bộ các luồng di cư mùa vụ cấp vùng hay quốc gia.
- Tiêu chí mẫu chỉ giới hạn ở các gia đình có đầy đủ vợ chồng và có con dưới 15 tuổi, chưa bao quát các dạng hộ gia đình đơn thân hoặc hộ chỉ có người cao tuổi.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu giữa di cư mùa vụ của nam giới và di cư mùa vụ của nữ giới trên phạm vi liên tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng.
- Nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal study) để đánh giá sự biến đổi vai trò giới sau khi người lao động kết thúc hoàn toàn chu kỳ di cư và tái hòa nhập sinh kế nông thôn.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên ngành hữu ích cho các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh và học viên ngành Xã hội học, Nhân khẩu học, Giới và Phát triển: Tham khảo khung phân tích kết hợp lý thuyết xã hội học gia đình với xã hội học di dân; phương pháp thiết kế bảng hỏi so sánh "trước - trong" biến cố.
- Giảng viên đại học: Sử dụng các chương 2, 3 và 4 làm tài liệu giảng dạy thực tế cho các học phần Xã hội học Gia đình, Xã hội học Nông thôn, và Xã hội học Giới.
- Cơ quan quản lý và hoạch định chính sách: Cung cấp cơ sở thực chứng cho Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội Liên hiệp Phụ nữ thành phố Hải Phòng và các địa phương đang đô thị hóa trong việc xây dựng chính sách việc làm nông thôn và can thiệp bình đẳng giới.
Câu hỏi thường gặp
1. Đặc điểm nổi bật nhất của luồng di cư mùa vụ tại huyện An Lão (Hải Phòng) là gì?
Khác với xu hướng "nữ hóa di cư" ở quy mô quốc gia, lao động di cư mùa vụ tại An Lão chủ yếu là nam giới (người chồng), với tỷ lệ nam di cư cao gấp 3 - 4 lần nữ. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc thu hồi đất nông nghiệp phục vụ các dự án hạ tầng giao thông (đường cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, Quốc lộ 10), khiến thời gian nông nhàn kéo dài và thúc đẩy nam giới tìm kiếm việc làm thời vụ tại các công trường xây dựng, bến bãi đô thị.
2. Sự phân công lao động trong gia đình thay đổi như thế nào khi người chồng đi di cư mùa vụ?
Khi người chồng vắng nhà, người vợ ở lại đảm nhận thay thế hầu hết các công việc sản xuất nông nghiệp nặng nhọc (cày bừa, phun thuốc trừ sâu, thu hoạch) bên cạnh việc nội trợ và chăm sóc con cái, bố mẹ già. Đồng thời, người vợ cũng thay mặt gia đình thực hiện các nghĩa vụ xã hội, dòng họ và thôn xóm.
3. Quy mô và phương pháp chọn mẫu khảo sát định lượng của luận án được thực hiện như thế nào?
Từ tổng số 677 hộ có người di cư mùa vụ tại 2 xã Quốc Tuấn (257 hộ) và Quang Trung (415 hộ), tác giả chọn mẫu ngẫu nhiên hệ thống với bước nhảy $k=2$, thu được 338 hộ và chọn ra 300 hộ đáp ứng tiêu chí: gia đình có đầy đủ vợ chồng, có con dưới 15 tuổi và có người di cư mùa vụ trong giai đoạn 2011 - 2015.
4. Tiền gửi của người di cư mùa vụ đóng vai trò như thế nào đối với hộ gia đình nơi xuất cư?
Tiền gửi là nguồn tài chính quan trọng giúp hộ gia đình trang trải chi phí sinh hoạt hàng ngày, đóng học phí cho con cái, cải thiện điều kiện nhà ở và mua sắm tiện nghi sinh hoạt. Việc phân bổ nguồn lao động đi di cư mùa vụ được xác định là một "chiến lược hộ gia đình" nhằm tối đa hóa thu nhập và phòng ngừa rủi ro nông nghiệp.
5. Sự thay đổi vai trò giới trong các gia đình có người di cư mùa vụ mang tính bền vững hay tạm thời?
Luận án kết luận sự thay đổi vai trò giới mang tính chất tình thế và tạm thời nhằm thích nghi với sự vắng mặt ngắn hạn của lao động chính. Khi người di cư trở về, khuôn mẫu phân công lao động truyền thống có xu hướng phục hồi; tuy nhiên, trải nghiệm này giúp nâng cao năng lực tự chủ của phụ nữ và tạo tiền đề nhận thức bình đẳng giới trong dài hạn.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Thị Phương Thảo đã phản ánh thực trạng di cư mùa vụ nông thôn - đô thị tại huyện An Lão, thành phố Hải Phòng giai đoạn 2014 - 2016. Tác phẩm làm rõ cơ chế chuyển giao và thay thế vai trò giới trong gia đình nông thôn trên 4 lĩnh vực chức năng khi lao động trụ cột vắng nhà. Công trình kiểm chứng sự thích ứng linh hoạt mang tính tình thế của hộ gia đình nông dân trước áp lực chuyển đổi đất đai và việc làm, đóng góp tư liệu thực nghiệm cho xã hội học gia đình và xã hội học di dân tại Việt Nam.