phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 2 chƣơng, 4 tiết: CHƢƠNG 1.Một số vấn đề lý luận về kỹ năng sống và vai trò của kỹ năng sống đối với nhân cách học sinh trung học phổ thông CHƢƠNG 2. Thực trạng và giải pháp nâng cao vai trò của giáo dục kỹ năng sống đối với việc hình thành nhân cách học sinh THPT ở Hà Nội hiện nay. 15 z NỘI DUNG CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG SỐNG VÀ VAI TRÒ CỦA KỸ NĂNG SỐNG ĐỐI VỚI NHÂN CÁCH HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.1 Kỹ năng sống Các nghiên cứu ở nƣớc ngoài: Từ những năm 90 của thế kỷ XX, thuật ngữ kỹ năng sống đã xuất hiện trong một số chƣơng trình giáo dục của Unicef, trƣớc tiên là chƣơng trình “giáo dục giá trị” với 12 giá trị cơ bản cần giáo dục cho thế hệ trẻ. Những nghiên cứu về kỹ năng sống giai đoạn này mong muốn thống nhất đƣợc một quan niệm chung về kỹ năng sống cũng nhƣ đƣa ra đƣợc một bảng danh mục các kỹ năng sống cơ bản mà thế hệ trẻ cần có.
Phần lớn các công trình nghiên cứu về kỹ năng sống giai đoạn này đều theo nghĩa hẹp, đồng nhất nó với các kỹ năng xã hội. Dự án do Unesco tiến hành tại một số nƣớc trong đó có các nƣớc Đông Nam Á là một trong những nghiên cứu có tính hệ thống và tiêu biểu cho hƣớng nghiên cứu về kỹ năng sống nêu trên. Do yêu cầu của sự phát triển kinh tế xã hội và xu thế hội nhập nên hệ thống giáo dục các nƣớc đã và đang thay đổi theo định hƣớng khơi dậy và phát huy tối đa tiềm lực của ngƣời học, đào tạo một thế hệ năng động, sáng tạo, có những năng lực chủ yếu nhƣ năng lực thích ứng, tự hoàn thiện, hợp tác, hoạt động xã hội,… để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của xã hội. Theo WH0 (1993) từ góc độ sức khỏe coi: Kỹ năng sống là năng lực tâm lý xã hội, là khả năng ứng phó một cách có hiệu quả với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống.
Đó là khả năng của một cá nhân để duy trì một trạng thái khỏe mạnh về mặt tinh thần, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và 16 z tích cực khi tƣơng tác với ngƣời khác, với nền văn hóa và môi trƣờng xung quanh. Năng lực tâm lý xã hội có vai trò quan trọng trong việc phát huy sức khỏe theo nghĩa rộng nhất về thể chất, tinh thần và xã hội. Kỹ năng sống là khả năng thể hiện, thực thi năng lực tâm lý xã hội này. Tổ chức Văn hóa, Khoa học và giáo dục Liên Hợp Quốc (UNESCO) coi kỹ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày”, đồng thời coi kỹ năng sống gắn với 4 trụ cột của giáo dục đó là: Học để biết (Learning to know) gồm các kỹ năng tƣ duy nhƣ: tƣ duy phê phán, tƣ duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề, nhận thức đƣợc hậu quả…; Học để tự khẳng định (Learning to be) gồm các kỹ năng cá nhân nhƣ: ứng phó với căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, tự nhận thức, tự tin; Học để chung sống với người khác (Learning to live together) gồm các kỹ năng xã hội nhƣ: giao tiếp, thƣơng lƣợng, tự khẳng định, hợp tác, làm việc theo nhóm, thể hiện sự cảm thông; Học để làm (Learning to do) gồm các kỹ năng thực hiện công việc và các nhiệm vụ nhƣ: kỹ năng đặt mục tiêu, đảm nhận trách nhiệm,… Theo Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc Unicef (Unicef Thái Lan, 1995): Kỹ năng sống là khả năng phân tích tình huống và ứng xử, khả năng phân tích cách ứng xử và khả năng tránh được các tình huống.
Kỹ năng sống nhằm giúp chúng ta chuyển dịch kiến thức là cái chúng ta biết vào thái độ, giá trị cái chúng ta nghĩ và cảm thấy, tin tƣởng thành hành động thực tế “làm gì và làm cách nào” tích cực nhất. Mặc dù, giáo dục kỹ năng sống cho học sinh đã đƣợc nhiều nƣớc quan tâm và cùng xuất phát từ quan niệm chung về kỹ năng sống của tổ chức Y tế Thế giới hoặc của Unesco nhƣng quan niệm và nội dung giáo dục kỹ năng sống ở các nƣớc không giống nhau. Ở một số nƣớc đƣợc mở rộng, một số nƣớc đƣợc hiểu hẹp là khả năng tâm lý, xã hội. Quan niệm, nội dung giáo dục 17 z kỹ năng sống đƣợc triển khai ở các nƣớc vừa thể hiện cái chung, vừa mang tính đặc thù những nét riêng của từng nƣớc.
Mặt khác ngay trong một quốc gia nội dung đó trong chính quy và không chính quy cũng có sự khác nhau. Có những đơn vị giáo dục chính quy quan niệm kỹ năng sống gắn liền với cá lĩnh vực quan hệ cá nhân, còn không chính quy đó là kỹ năng đọc, kỹ năng viết, kỹ năng nghe nói,… Các nghiên cứu trong nƣớc: Thuật ngữ kỹ năng sống đƣợc ngƣời Việt Nam biết đến từ chƣơng trình của Unicef (1996): “Giáo dục kỹ năng sống để bảo vệ sức khỏe và phòng chống HIV cho thanh thiếu niên trong và ngoài nhà trường”. Thông qua quá trình thực hiện chƣơng trình này, nội dung của khái niệm kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống ngày càng đƣợc mở rộng. Ở đây, khái niệm kỹ năng sống đƣợc giới thiệu trong chƣơng trình này chỉ bao gồm các kỹ năng sống cốt lõi nhƣ: kỹ năng tự nhận thức, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng xác định giá trị, kỹ năng ra quyết định, kỹ năng kiên định và kỹ năng đạt mục tiêu.
Cùng với việc triển khai chƣơng trình nêu trên, vấn đề kỹ năng sống và giáo dục kỹ năng sống đƣợc nhiều nhà khoa học trong nƣớc quan tâm. Những nghiên cứu của các nhà khoa học đều có xu hƣớng xác định những kỹ năng cần thiết ở các lĩnh vực hoạt động mà thanh thiếu niên tham gia, đề xuất các biện pháp để hình thành những kỹ năng này cho thanh thiếu niên trong đó có học sinh trung học phổ thông. Một trong những ngƣời đầu tiên có những nghiên cứu mang tính hệ thống về KNS và giáo dục KNS ở Việt Nam là tác giả Nguyễn Thanh Bình với loạt các bài báo, công trình, đề tài nghiên cứu cấp bộ và giáo trình tài liệu đã góp phần tạo ra những hƣớng nghiên cứu về kỹ năng sống mang tính tổng thể ở Việt Nam. Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thanh Bình đã mô tả sinh động, đầy đủ, hệ thống về cách tiếp cận và thực hiện giáo dục KNS cho học 18 z sinh do ngành giáo dục thực hiện.
Theo đó, nội dung giáo dục KNS cụ thể đã đƣợc triển khai ở các cấp bậc học nhƣ: chương trình cải cách của giáo dục mầm non (1994) đã chú ý đến giáo dục trẻ hành vi, kỹ năng tự phục vụ, kỹ năng giao tiếp ứng xử, chƣơng trình khung chăm sóc và giáo duc nhà trẻ, mẫu giáo đổi mới đã chú trọng các nội dung nhƣ phat triển thể chất, nhận thức, phát triển ngôn ngữ, tình cảm, nghệ thuật và thẩm mỹ của trẻ. Còn đối với nội dung giáo dục trung học phổ thông, nó đƣợc triển khai qua các chƣơng trình ngoại khóa, hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp. Chúng tôi thấy rằng: giáo dục KNS cho học sinh trung học phổ thông đã đƣợc định hƣớng bởi mục tiêu, nội dung chƣơng trình giáo dục trong nhà trƣờng nhƣng còn rất hạn chế. Nó mới chỉ đƣợc thực hiện nhƣ một nội dung, một mục tiêu phụ của các chƣơng trình dự án của cấp học này.
Do vậy cần thiết phải khai thác nội lực của chính các hoạt động trong nhà trƣờng trung học phổ thông nhằm thực hiện có hiệu quả nội dung giáo dục KNS của học sinh ở cấp học này hiện nay. Các quan niệm trên có thể thấy rằng KNS bao gồm chuỗi hoạt động cụ thể, cần thiết cho cuộc sống hàng ngày của con ngƣời. Bản chất của KNS là kỹ năng tự quản lý bản thân và kỹ năng xã hội cần thiết để cá nhân tự lực trong cuộc sống, học tập và làm việc hiệu quả. Nói cách khác, KNS là khả năng làm chủ bản thân của mỗi ngƣời, khả năng ứng xử phù hợp với những ngƣời khác và với xã hội, khả năng ứng phó tích cực trƣớc các tình huống của cuộc sống.
Do tính chất phức tạp của KNS nên trong thực tế, các tài liệu về kỹ năng sống đề cập đến mọi lĩnh vực hoạt động từ học tập để chuẩn bị vào nghề, cách học ngoại ngữ, kỹ năng làm cha mẹ đến tổ chức trại hè. Tuy nhiên cần phân biệt giữa những kỹ năng để sống còn, kỹ năng sinh tồn (livelihood skills, survival skills) nhƣ học chữ, học nghề, làm toán,… tới bơi lội với khái niệm kỹ năng sống đã đƣợc đề cập ở các định nghĩa nêu trên. 19 z Tóm lại, khái niệm KNS đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau ở từng khu vực và từng quốc gia và xu hƣớng chung là sử dụng khái KNS của Unesco (theo nghĩa rộng) để triển khai các hoạt động phát triển kỹ năng sống cho các đối tƣợng trong xã hội, đặc biệt là thanh thiếu niên. Điều này đƣợc lý giải bởi hai lý do: Thứ nhất, nếu hiểu KNS theo nghĩa hẹp là đồng nhất KNS với năng lực tâm lý xã hội do đó làm giảm đi phạm vi ảnh hƣởng cũng nhƣ tác dụng của KNS.
Chính năng lực tâm lý xã hội đề cập tới khả năng của con ngƣời biểu hiện ở những cách ứng xử đúng hoặc chính xác khi tƣơng tác với ngƣời khác trong các tình huống khác nhau của môi trƣờng xung quanh dựa trên nền văn hóa nào đó. Nhƣng điều cần lƣu ý là con ngƣời không chỉ cần có năng lực thích ứng với những thách thức của cuộc sống mà con ngƣời còn cần phải biết cách thay đổi một cách phù hợp và mang tính tích cực; Thứ hai, khái niệm KNS theo nghĩa rộng đã bao hàm trong nó năng lực tâm lý xã hội với ý nghĩa là thành phần có vai trò chung trong việc hỗ trợ cho sức khỏe tinh thần và sức khỏe thể chất, giúp cá nhân sống hạnh phúc với những ngƣời khác trong xã hội. Bên cạnh đó, theo nghĩa rộng, khái niệm KNS còn đề cập đến khả năng con ngƣời quản lý đƣợc các tình huống rủi ro, không chỉ đối với bản thân mà còn có thể gây ảnh hƣởng đến mọi ngƣời trong việc chấp nhận các biện pháp ngăn ngừa rủi ro. Đây chính là khả năng con ngƣời quản lý một cách thích hợp bản thân, ngƣời khác và xã hội trong cuộc sống hàng ngày.