CHƯƠNG 1. KHÁI QUÁT VỀ VAI TRÒ TRÁCH NHIỆM XÃ HỘI TRONG PHÒNG CHỐNG THAM NHŨNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1.1 Nhận thức chung về phòng, chống tham nhũng 1. Khái niệm tham nhũng Tham nhũng vấn nạn hiện hữu của nhiều quốc gia trên thế giới, ở mỗi quốc gia đều có biểu hiện riêng biệt theo nghĩa hẹp: Nước Đức tham nhũng là hiện tượng mất phẩm chất, hối lộ, đút lót, thường xảy ra đối với công chức có quyền hành; Nước áo tham nhũng là hiện tượng lừa đảo, hối lộ, bóc lột; Thụy Sỹ tham nhũng là hậu quả nghiêm trọng của sự vô tổ chức của tầng lớp có trách nhiệm trong bộ máy Nhà nước, đó là hành vi phạm pháp để phục vụ lợi ích cá nhân (Từ điển Bách Khoa của Thụy Sỹ). Nước Pháp tham nhũng bao gồm những hành vi lạm dụng quyền hạn để thu vén lợi ích vật chất (Từ điển Khóa luận nhìn nhậngiáo ở nghĩa hẹpdục học bách khoa) 1.
Còn ở Việt Nam và khái niệm được pháp luật quy định (tại Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005, sửa đổi và bổ sung một số điều vào các năm 2007 và 2012): “Tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi” (Khoản 2, Điều 1). Theo Luật người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hệ thống chính trị; nói cách khác là ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước. Được thể hiện bao gồm các quy định ở ( Khoản 2, Khoản 3, Điều 1): a) Cán bộ, công chức, viên chức; b) Sĩ quan quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan nghiệp vụ, sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên môn – kỹ thuật trong cơ quan, đơn vị 1 http://voer.vn/m/khai-niem-ve-tham-nhung/96184e98 , truy cập 11/3/2019 6 thuộc Công an nhân dân; c) Cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp của Nhà nước tại doanh nghiệp; d) Người được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ có quyền hạn trong khi thực hiện nhiệm vụ, công vụ đó. Việc giới hạn như vậy nhằm tập trung đấu tranh chống những hành vi tham nhũng ở khu vực xảy ra phổ biến nhất, chống có trọng tâm, trọng điểm, thích hợp với việc áp dụng các biện pháp phòng, chống tham nhũng như: kê khai tài sản, công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, xử lý trách nhiệm của người đứng đầu.
Từ đó bao quát theo nghĩa rộng, tham nhũng không phải là một khái niệm trừu tượng mà biểu hiện thông qua hành vi cụ thể mà theo pháp luật các quốc gia, theo xác định Công ước phòng, chống tham nhũng sẽ bị coi là biểu hiện tham nhũng. Tham nhũng là: bóp méo đi sự thật phá hoại liêm chính hoặc thông qua công cụ là vật chất, lợi ích ban tặng để tác động tinh thần, tới các mối quan hệ để làm lợi, làm giàu bất chính hoặc bất hợp pháp cho bản Khóa luận giáo dục học thân, cho những người thân cận hoặc để tạo cơ hội cho những kẻ khác làm những hành vi sai phạm. Tham nhũng có thể diễn ra ở khu vực công và khu vực tư do các quan hệ lợi ích của các chủ thể có quyền lực tạo ra. Khái niệm rộng này cho chúng ta thấy bản chất, biểu hiện dù tham nhũng có phân loại “Tham nhũng lớn hay tham nhũng nhỏ” thì nó luôn mang đậm bản chất phi nghĩa, phi pháp.
Đó là những hành vi bị lên án được thể hiện ngay tại Luật ở các quốc gia và Công ước quốc tế.1 Khái niệm phòng chống tham nhũng Tham nhũng là hiện tượng xã hội gắn liền với sự ra đời và tồn tại của nhà nước. Nó xảy ra ở các quốc gia không phân biệt kinh tế giữa các vùng lãnh thổ, không phân biệt chế độ chính trị, tôn giáo. Hành vi tham nhũng đang len lỏi hàng ngày, hàng giờ thể hiện ở tất cả các lĩnh vực công việc và cuộc sống của con người trên khắp hành tinh để pháp vỡ trật tự công bằng trong xã 7 hội. Sự mất kiểm soát, buông lỏng để cho hành vi tham nhũng “ hoá phép” là vô cùng nghiêm trọng, vì vậy phòng chống tham nhũng là quốc sách hàng đầu của tất cả các quốc gia.
Để xây dựng, bảo vệ pháp quyền và phát triển sự công bằng lợi ích trong xã hội giữa các chủ thể. “Tham nhũng là hậu quả của sự thiếu hụt ba yếu tốt gồm trách nhiệm giải trình, sự liêm chính và tính minh bạch trong bối cảnh tồn tại sự chuyên quyền độc đoán và tuỳ ý hành động do thiếu sự kiểm soát của các cơ quan và công chức nhà nước”2. Do tính chất phổ biến và có xu hướng phát triển của nó, đấu tranh phòng chống tham nhũng từ lâu đã là mỗi quan tâm hàng đầu của tất cả các quốc gia trên thế giới và trong đó có Việt Nam. Việt Nam với tâm thế quan điểm rõ ràng “Phòng, chống tham nhũng là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị dưới sự lãnh đạo của Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của các ngành, các cấp, nhấn mạnh trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan, tổ chức, đơn vị, đề cao vai trò của xã hội, các tổ chức đoàn thể và quần chúng nhân dân”3.
Khóa Chính vì vậy,luận giáo “PCTN được dục hiểu là tổng thể cáchọc biện pháp của các cơ quan có thẩm quyền tham gia vào quá trình phòng ngừa ngăn chặn, đấu tranh đẩy lùi và xoá bỏ các chủ thể được cho là có các hành vi tham nhũng”. Vấn đề phòng chống tham nhũng của Việt Nam được thể hiện thông qua hợp tác quốc tế và thực thi cụ thể hoá pháp luật ở trong quốc gia. Ở trong nước không thể không nhắc đến những chỉ đạo trực tiếp trong chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam qua các giai đoạn và trong Hiến pháp. Từ đó được luật hoá đi sâu vào thực tiễn của đời sống với nhiều văn bản pháp luật như: Luật phòng, chống tham nhũng 2005 (sửa đổi bổ sung các năm 2007 và 2012), Luật phòng chống tham nhũng 2018 sắp có hiệu lực T7/2018), 2 UNDP ( 2004), Anti-corruption- Practice Note, tlđd, tr.
3 Nghị quyết số 21/NQ-CP ngày 12 tháng 05 năm 2009 của Chính Phủ, Ban hành chiến lược quốc gia phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 8 Luật thực hành tiết kiệm chống lãng phí 2013, Bộ luật hình sự 2015 ( sửa đổi bổ dung năm 2017)…vv. Các chủ thể đại diện tham gia phòng, chống tham nhũng được pháp luật trao quyền và được pháp luật bảo vệ. Từ đó thông qua hoạt động tiến hành các biện pháp để ngăn chặn và đấu tranh mầm mống phát sinh tham nhũng, các hành vi của người có chức vụ, quyền hạn nhằm chiếm đoạt bất hợp pháp lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác cho mình hoặc người thân cận.2 Sự tham gia của các chủ thể trong việc phòng chống tham nhũng ở Việt Nam 1.1 Cơ sở xã hội Là một căn bệnh xuất phát từ lợi ích và gắn liền với quyền lực công, tham nhũng xuất hiện từ rất sớm trong xã hội loài người. Nó đặc biệt trở thành vấn nạn khi các nhà nước ra đời; Lịch sử Việt Nam cho thấy không phải đợi đến thời kỳ hiện đại, tham nhũng xuất hiện ngay trong các nhà nước chủ nô và phong kiến4.
Khóa Cho dù còn bịluận giáo hạn chế nhiều tư tưởng dục học phong kiến song nhìn chung các triều đại đã có cách thức để phòng ngừa tham nhũng. Từ lịch sử nhìn ra chúng ta càng khẳng định thêm vai trò của xã hội trong phòng chống tham nhũng qua các giai đoạn lịch sử. Lịch sử còn cho thấy các triều đại phong kiến Việt Nam cũng đã có những biện pháp quan trọng để phòng ngừa tham nhũng. Pháp luật phong kiến Việt Nam xưa cũng quy định khá đầy đủ về xây dựng bộ máy phong kiến tập quyền, không thể bỏ qua bộ luật tiêu biểu là luật Hồng Đức đã có nhiều cải cách mạnh mẽ như giám sát lẫn nhau giữa các quan lại.
Bộ luật Hồng Đức còn phân công mỗi bộ phận phụ trách một việc, các bộ phải chịu giám sát của các khoa, công việc của các Đạo do các hiến ty giám 4 Chu Hồng Thanh, Vũ Công Giao, Nguyễn Đăng Dung, Phạm Hồng Thái, đồng chủ biên (2013), Giáo trình lý luận và pháp luật về phòng, chống tham nhũng, Nxb. Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, trang 108. 9 sát, các quan lại chịu sự giám sát lẫn nhau, quan trên giám sát quan dưới5. Dưới thời đó họ còn phát huy vai trò xã hội, trong đó có nhân dân, đặc biệt coi trọng vai trò của nhân dân trong việc tố cáo hành vi tham nhũng.
Các triều đại còn tạo ra cơ chế khuyến khích và bảo vệ người tố giác hành vi tham nhũng, như tố giác việc biển thủ tiền thuế sẽ được miễn lao dịch 3 năm, rồi trọng thưởng biểu dương. Còn ở Việt Nam hiện nay, khái niệm “xã hội” được hiểu theo rất nhiều nghĩa khác nhau. Theo nghĩa đơn giản nhất đó là một tập thể hay một nhóm người được phân biệt với các nhóm người khác bằng các lợi ích, mối quan hệ đặc trưng, chia sẻ cùng một thể chế và có cùng văn hoá. Chủ nghĩa Mác – Lênin nhìn nhận xã hội không phải là tập hợp giản đơn các cá nhân, mà là biểu hiện tổng số những mối liên hệ và những quan hệ của các cá nhân đối với nhau6.
Theo nghĩa rộng, “xã hội” là toàn bộ các hình thức hoạt động chung của con người đã hình thành trong lịch sử. “xã hội” thường được dùng Khóa luận giáo dục học để chỉ một tập đoàn người được hiểu như một hiện thực của các thành viên của nó, hoặc là chỉ một môi trường của con người mà cá nhân được hoà nhập vào, môi trường đó được xem như là toàn bộ các lực lượng có tổ chức và có hệ thống tôn ti trật tự tác động lên cá nhân7. Các lý thuyết về sự kiểm soát quyền lực nhà nước từ phía xã hội đã và đang ảnh hưởng tích cực đến nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Theo đó, trong PCTN, sự giám sát từ phía xã hội có vai trò hạn chế tối đa sự lạm dụng quyền lực nhà nước vì mục đích cá nhân.
Theo triết lý Phật giáo về bản ngã nhân sinh thì con người có bản tính tham, sân, si. Một trong những biểu hiện 5 Chương v, Giáo trình lý luận và pháp luật phòng, chống tham nhũng, trang 109. Ăngghen, Toàn tập, Nxb. Chính trị Quốc gia, Hn, 1998, Tr.
7 Từ điển bách khoa Việt Nam, Nxb.