MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngày nay nguồn nhân lực được đánh giá là nhân tố chủ đạo và có ý nghĩa quyết định trong hệ thống các nguồn lực nhằm phát triển kinh tế - xã hội. Trong bối cảnh toàn cầu hóa đang diễn ra nhanh chóng và xu thế phát triển kinh tế tri thức, vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao với tư cách là bộ phận hạt nhân có ý nghĩa quyết định chất lượng của tổng thể nguồn nhân lực, càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nhân lực, Đảng luôn đặt nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực là nhiệm vụ xuyên suốt, có ý nghĩa then chốt trong sự nghiệp phát triển đất nước.
Đảng nhấn mạnh “Phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một đột phát chiến lược, là yếu tố quyết định đẩy mạnh phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất, bảo đảm cho sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững” [9]. Trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực, việc phát triển nguồn nhân lực trẻ có ý nghĩa rất to lớn. Đây là nguồn lực đặc biệt quan trọng của quốc gia. Theo kết quả điều tra dân số và nhà ở năm 2009, hiện nay Việt Nam có khoảng trên 40 triệu người trong độ tuổi lao động, cơ cấu lao động tương đối trẻ (khoảng trên 60% thuộc nhóm tuổi từ 16 – 34).
Có thể nói, nguồn nhân lực dồi dào và tương đối trẻ là điều kiện hết sức cần thiết cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam. Tuy nhiên muốn phát triển nguồn nhân lực trẻ, ngoài mặt số lượng, Việt Nam cần phải quan tâm đến chất lượng và những điều kiện để phát triển chất lượng nguồn nhân lực trẻ. Trong bối cảnh “khan hiếm ngày càng trầm trọng của tài nguyên thiên nhiên và sự thiếu hụt nguồn vốn” [23] của Việt Nam, việc xem xét vai trò của các yếu tố phi kinh tế như vốn xã hội đối với sự phát triển nguồn nhân lực trẻ là rất quan trọng. Trên thực tế Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu về vốn xã hội và nguồn nhân lực, tuy nhiên có rất ít nghiên cứu cụ thể để xác định vai trò của vốn xã hội đối với 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quá trình phát triển của nguồn nhân lực trẻ.
Do đó, chúng ta cần có nghiên cứu sâu sắc, toàn diện và hệ thống về vai trò của vốn xã hội trong sự phát triển nguồn nhân lực trẻ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước. Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2.1 Những nghiên cứu về nguồn nhân lực Đến nay, nguồn nhân lực là đề tài nghiên cứu được khai thác hết sức phong phú và đa dạng cả trên thế giới và ở Việt Nam. Chủ đề này nhận được sự quan tâm lớn của các tổ chức nghiên cứu, các học giả trên thế giới, trong đó, các nghiên cứu nhấn mạnh nhiều đến vai trò của nguồn nhân lực trong sự phát triển kinh tế xã hội.1 Các nghiên cứu về nguồn nhân lực trên thế giới Trên thế giới, các công trình nghiên cứu ban đầu về nguồn nhân lực và vốn nhân lực do các nhà lý thuyết như Milton Feidman, Simon Kuznet, Garry Becker nghiên cứu. Tiếp đó, một số các nhà khoa học khác như L.
Các tác giả đó đã có những đóng góp quan trọng về mặt lý luận và phương pháp luận. Các công trình này lý giải mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực và giáo dục đào tạo, chăm sóc sức khỏe và vai trò quan trọng của phát triển nguồn nhân lực đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế. Các hướng nghiên cứu chính trong các nghiên cứu về nguồn nhân lực trên thế giới là: các chỉ tiêu đánh giá nguồn nhân lực, cơ cấu nguồn nhân lực, vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển kinh tế, mối quan hệ giữa phát triển nguồn nhân lực với đào tạo, chăm sóc sức khỏe và quản lý nguồn nhân lực. Hướng nghiên cứu thứ nhất, Werther W.
trong tác phẩm Humn Resource and Personnal Management đã phân tích bản chất, vai trò, cơ cấu nguồn nhân lực, các chỉ số nguồn nhân lực và những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực. Nghiên cứu của học giả Gary Becker “Human Capital a theoretical and Empirical Analysis, with Special Reference to Education” dịch là Vốn con người: một phân tích lý thuyết và thực nghiệm, với sự tham chiếu đặc biệt đến giáo dục đã nhấn mạnh đến hiệu quả của việc đầu tư vốn con người [58]. Kế 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoạch giáo dục và phát triển nguồn nhân lực do UNESCO thực hiện cũng đã đưa ra những quan điểm hiện đại về giáo dục và nguồn nhân lực qua việc phân tích các yếu tố tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực ở các nước đang phát triển [59]. Nghiên cứu “Quản lý nguồn nhân lực trong bối cảnh phi tập trung hóa” của tác giả Amanda E.Green do Ngân hàng thế giới công bố cũng khẳng định rằng quản lý nguồn nhân lực phải được coi là yếu tố thiết yếu thuộc về quá trình phi tập trung hóa [24].
Bên cạnh đó, nguồn nhân lực cũng là mối quan tâm rất lớn của chương trình Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNDP). Từ năm 1990 đến nay, UNDP đã tổ chức đánh giá và công bố báo cáo phát triển con người một năm một lần. Báo cáo này không chỉ nêu bật được định nghĩa phát triển con người mà còn đo lường được sự phát triển con người và các mối quan hệ của phát triển con người đến phát triển kinh tế. Trong những năm gần đây, báo cáo phát triển con người của UNDP còn tập trung vào tính bền vững và sự công bằng trong phát triển con người [48].
Hướng nghiên cứu thứ hai mà các tác giả trên thế giới chỉ ra, nguồn nhân lực có tầm quan trọng rất đặc biệt đối với sự phát triển kinh tế, đặc biệt là sự phát triển kinh tế mạnh mẽ của các nước ở khu vực Đông Á. Nghiên cứu “Inequality and growth reconsidered: lesson from East Asia” của các tác giả Nancy Birdsal, David Ross và Recharch Sabot đã khẳng định vấn đề cốt lõi cho việc phát triển kinh tế là đầu tư cho giáo dục để phát triển nguồn nhân lực [61]. Ngoài ra, nguồn nhân lực còn được tiếp cận dưới góc độ quản lý. Các công trình nghiên cứu của Weihric K và Hein M.
đã phân tích vấn đề hiện đại hóa quá trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, vấn đề quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực được coi là trọng tâm hàng đầu. Tác phẩm tiêu biểu là “Chiến lược quản lý nguồn nhân lực” của Charles Greer đã phân tích sự tác động nhiều chiều giữa nguồn nhân lực và các chiến dịch quản lý, những định hướng về đầu tư phát triển nguồn nhân lực. Hai cuốn sách cùng tên này của hai tác giả khác là Lloyd Byars và Leslie Rue và cuốn sách của tác giả J.M Ivacevich cũng đề cập đến việc quản lý nguồn nhân lực ở các góc độ khác nhau [61]. Nói tóm lại, chủ đề nguồn nhân lực nhận được rất nhiều sự quan tâm của các học giả, các tổ chức trên thế giới.
Cách tiếp cận nguồn nhân lực cũng rất phong phú: 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com từ góc độ văn hóa, giáo dục cho đến góc độ kinh tế, quản lý…Điều này cho thấy tầm quan trọng của nguồn nhân lực trong sự phát triển xã hội.2 Các nghiên cứu về nguồn nhân lực ở Việt Nam Ở Việt Nam, nguồn nhân lực đã và đang là chủ đề được quan tâm của cả xã hội, và được nhìn nhận dưới nhiều góc độ. Có thể thấy, đã có khá nhiều các công trình lớn nhỏ nghiên cứu về nguồn nhân lực được công bố. Cũng giống như các nghiên cứu về nguồn nhân lực trên thế giới, ở Việt Nam, các chủ đề nghiên cứu chính được các nghiên cứu đề cập là chỉ tiêu đánh giá nguồn nhân lực, mối quan hệ của nguồn nhân lực với các yếu tố xã hội khác, giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, vấn đề quản lý nguồn nhân lực… Với hướng nghiên cứu các chỉ tiêu đánh giá nguồn nhân lực, tác giả Dương Anh Hoàng với nghiên cứu “Phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Đà Nẵng” [31] đã phân tích và luận giải những thành tựu và hạn chế của nguồn nhân lực ở Đà Nẵng trong bối cảnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa, từ đó đề xuất các định hướng phát triển nguồn nhân lực. Nghiên cứu "Thực trạng nhân lực chuyên môn trong hoạt động khám chữa bệnh, dự phòng bệnh lý nội tiết và rối loạn chuyển hóa” của Bộ Y tế cũng đã đánh giá tình trạng tổ chức nhân lực chuyên môn cho hoạt động dự phòng và điều trị bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa nhằm cung cấp thông tin giúp Bộ Y tế xây dựng các giải pháp chính sách phát triển nguồn nhân lực chuyên môn đáp ứng với nhu cầu chăm sóc sức khỏe bệnh nội tiết cho mạng lưới cung ứng dịch vụ y tế công [6].
Bên cạnh đó, đề tài “Thực trạng tính tích cực lao động của công chức phường tại Hà Nội” của tác giả Trần Hương Thanh chủ nhiệm năm 2010 đã chỉ ra những biểu hiện của tính tích cực lao động của nguồn nhân lực; Phân tích những yếu tố ảnh hưởng tới tính tích cực lao động của nhóm công chức phường [43]. Dự án "Nghiên cứu đánh giá thực trạng đào tạo nhân lực y tế Việt Nam" do tổ chức Chinal Medical Board (CMB) [66] tài trợ đã được triển khai nhằm cung cấp các bằng chứng và xác định các lĩnh vực ưu tiên cần được đổi mới để đáp ứng tốt hơn cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe nhân dân trong giai đoạn 2011 – 2020. Các kết 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com quả của dự án là những đóng góp quan trọng trong quá trình xây dựng đề án “Đổi mới đào tạo nhân lực y tế” của Bộ Y tế nhằm đổi mới, nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực y tế. Báo cáo khảo sát “200 doanh nghiệp top của Việt Nam” của UNDP – Hà Nội xuất bản tháng 9-2007 [67] đã chỉ ra tình hình chung nguồn nhân lực của nước ta hiện nay trong mối tương quan với về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực với Thái Lan và khu vực Asean và Trung Quốc.