CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ VỀ VAI TRÒ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG PHÒNG, CHỐNG THAM NHŨNG. Khái quát chung về Viện kiểm sát nhân dân. Trải qua 64 năm lịch sử hình thành và phát triển, Ngành kiểm sát nhân dân đã hình thành cùng với quá trình phát triển của Nhà nước và cách mạng Việt Nam. Ngày 15/07/1960, tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (khóa II) đã phê duyệt Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đầu tiên.
Luật này đã được Hồ Chủ tịch ký Lệnh công bố ngày 26/7/1960, đóng vai trò quan trọng trong dấu mốc ra đời của VKSND. Có thể nói, việc xác định vị trí, chức năng, nhiệm vụ, tổ chức, bộ máy và nguyên tắc tổ chức theo ngành dọc của VKSND là một bước tiến mới, đảm bảo pháp chế được thực hiện thống nhất trong lịch sử của nước ta. Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã quy định tại điều 2 rằng Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà. VKSND có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần đảm bảo thực thi pháp luật được chấp hành nghiêm túc và đúng đắn.
Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được tổ chức tại 4 cấp: Viện kiểm sát nhân dân tối cao; Viện kiểm sát nhân dân cấp cao (có 3 Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Đà Nẵng và thành phố Hồ Chí Minh); VKSND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (hiện có 63 VKSND cấp tỉnh) và VKSND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (hiện có 710 VKS cấp huyện tại 710 quận, huyện, thị xã và thành phố thuộc tỉnh) và trong hệ thống VKSND có các VKS quân sự. Trong hệ thống ngành kiểm sát thì Viện kiểm sát nhân dân tối cao là cấp cao nhất trong hệ thống Viện kiểm sát nhân dân của Việt Nam, là cơ quan thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong phạm vi toàn quốc, làm cho pháp luật được tuân thủ và chấp hành nghiêm túc. Căn cứ Theo quy định của Luật tổ chức viện kiểm sát nhân dân năm 2014, theo đó VKSND được tổ chức theo mô hình như sau: 6 Sơ đồ 1. Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Viện kiểm sát nhân dân Việt Nam 1.
Khái niệm, nội dung vai trò Viện kiểm sát nhân dân trong phòng, chống tham nhũng. 7 Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong phòng, chống tham nhũng là tổng thể các hoạt động, biện pháp trong nội bộ ngành Kiểm sát để hướng tới mục đích phòng, chống tội phạm và hành vi tham nhũng, góp phần thúc đẩy và hướng tới mục đích nền công vụ trong sạch, nền tư pháp nghiêm minh và bảo đảm lợi ích của nhân dân, của nhà nước không bị xâm phạm thông qua việc Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan nhà nước có chức năng kiểm sát việc tuân thủ pháp luật, đảm bảo rằng các cơ quan, tổ chức và cá nhân thực thi công bằng và đúng đắn các quy định của pháp luật. Trong lĩnh vực phòng chống tham nhũng, Viện kiểm sát nhân dân giữ vai trò quan trọng thông qua bốn phương diện: Thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp ngay từ khi tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm đến việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đối với các vụ án tham nhũng, chức vụ; điều tra các tội phạm về tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền theo quy định của pháp luật; qua thực hiện chức năng, nhiệm vụ; qua vai trò chủ động phối hợp với các cơ quan để tham mưu cho các cấp ủy lãnh đạo, chỉ đạo các cơ quan tiến hành tố tụng trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng, kiến nghị với cấp có thẩm quyền đề ra các biện pháp khắc phục thiếu sót trong quản lý kinh tế, xã hội, phòng ngừa tội phạm tham nhũng. Vai trò của Viện Kiểm sát nhân dân (VKSND) trong đấu tranh phòng, chống tham nhũng một cách xuyên suốt, theo quy định trong Điều 3 và Điều 4 của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, VKSND có trách nhiệm thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp từ khi tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án đối với các vụ án về tội phạm tham nhũng, chức vụ; và trực tiếp điều tra, truy tố tội phạm tham nhũng, chức vụ xảy ra trong hoạt động tư pháp thuộc thẩm quyền theo quy định pháp luật.
Bên cạnh đó còn thực hiện vai trò tham mưu, phối hợp các cấp, đưa ra các biện pháp khắc phục và phương hướng đảm bảo phòng ngừa tham nhũng, kết hợp với thực hiện hiệu quả các vai trò khác như: công tác thu hồi tài sản tham nhũng, Thanh tra, giải quyết khiếu nại,… Thứ nhất, Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát giải quyết các vụ án về tham nhũng. Vai trò này của Viện kiểm sát nhân dân đã được khẳng định rõ trong luật tổ chức VKSND năm 2014 với quy định tại Điều 2, theo đó Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ 8 nghĩa Việt Nam. Đồng thời, có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và pháp luật, góp phần bảo đảm pháp luật được chấp hành nghiêm túc và thống nhất, thực hiện bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân. - Chức năng thực hành quyền công tố được thực hiện xuyên suốt trong các giai đoạn của tố tụng hình sự, từ khi khởi tố, điều tra, truy tố cho đến khi diễn ra các phiên toà.
VKS thực hành quyền công tố nhằm đảm bảo rằng mọi hành vi phạm tội đều phải được điều tra và xử lý kịp thời, không bỏ lọt tội phạm, bảo đảm quyền con người và quyền công dân không bị hạn chế. Theo khoản 1 Điều 6 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì VKSND thực hiện chức năng thực hành quyền công tố bằng những công tác sau: Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự; thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố tội phạm; thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự; điều tra một số loại tội phạm; thực hành quyền công tố trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự. Về thực hành quyền công tố trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Tại khoản 1 Điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 thì thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện kiểm sát để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước trong quá trình tố tụng hình sự đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố cũng như suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự.
Vai trò của Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) trong việc kiểm sát giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm tham nhũng và kiến nghị khởi tố có ý nghĩa rất lớn và cần thiết cho hoạt động của Cơ quan điều tra. VKSND đảm bảo sự kiểm tra, giám sát đúng đắn các hoạt động điều tra, đồng thời thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình trong giai đoạn tố tụng này. Qua đó các tin báo của tội phạm tham nhũng, chức vụ nói riêng và tội phạm nói chung được giải quyết đúng đắn ngay từ khi tiếp nhận, bảo đảm tất cả các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đều được tiến hành tiếp nhận và kiểm tra xác minh xử lý một cách đúng đắn và kịp thời. Về thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự.
Thông qua việc nâng cao trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, móc nối công tố với hoạt động điều tra, VKSND là chủ thể bảo đảm cho công tác đấu tranh 9 PCTN thật sự chất lượng và đạt hiệu quả cao. Với mục đích gắn công tố với hoạt động điều tra, Luật Tổ chức VKSND năm 2014 đã bổ sung thêm về quyền hạn khởi tố, quyền hạn điều tra của VKSND, cụ thể như sau: “Viện kiểm sát nhân dân có quyền khởi tố hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra khởi tố vụ án Hình sự khi phát hiện hành vi của người có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong việc khởi tố, điều tra có dấu hiệu tội phạm” (khoản 9 Điều 14). Về thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố tội phạm. Viện kiểm sát nhân dân được xác định rõ là chủ thể duy nhất có quyền truy tố hoặc không truy tố bị can trước Tòa án ( khoản 7 Điều 16 Luật Tổ chức VKSND năm 2014).
Truy tố bị can thuộc thẩm quyền riêng biệt của VKSND, phản ánh kết quả hoạt động điều tra của Cơ quan điều tra, nó có ý nghĩa quan trọng, vì việc truy tố sẽ quyết định đến sinh mệnh của một cá nhân. Tuy nhiên, cần nhận thức rằng không phải trong mọi trường hợp, Cơ quan điều tra và VKSND đều có thể đưa ra quyết định chính xác khi giải quyết vụ án. Điều này có thể xảy ra do một số vụ án phức tạp, các bằng chứng buộc tội không được thu thập đầy đủ và thời hạn thì hạn chế trong khi lượng công việc lớn, có thể dẫn đến việc đánh giá không khách quan nội dung của sự việc phạm tội. Điều này có thể dẫn đến tình trạng phê chuẩn khởi tố bị can nhưng không đủ chứng minh tội phạm.
Ở trường hợp này, VKSND phải ra quyết định đình chỉ bị can và vụ án, hay quyết định không truy tố bị can. Trong thực tế, khi xử lý các vụ án hình sự có không ít VKSND các địa phương phải đưa ra quyết định không truy tố bị can. Theo đó vai trò của VKSND trong lĩnh vực này đảm bảo truy tố đúng pháp luật, không lộ lọt tội phạm. Về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự.