Chương 1 DÂN CHỦ, DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ VÀ VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở CƠ SỞ 1.1 Dân chủ và quy chế dân chủ ở cơ sở 1.1 Khái niệm về dân chủ và dân chủ ở cơ sở Dân chủ, theo tiếng Hy Lạp cổ gọi là “Demokratia”, có nghĩa là Nhân dân cai trị chính quyền. Trong đó Nhân dân là chủ thể của quyền lực, của chính quyền; còn chính quyền là chính quyền của Nhân dân, do Nhân dân thiết lập và quản lý. Cùng với sự phát triển của xã hội, nhận thức về nội hàm của dân chủ ngày càng được mở rộng, đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung, song về cơ bản dân chủ được nhận thức trên một số phương diện như: Thứ nhất, dân chủ là một hình thái nhà nước: ở nghĩa này, dân chủ là một phạm trù chính trị - lịch sử, ra đời và phát triển kể từ khi xã hội có giai cấp và nhà nước. Dân chủ được hiểu là chế độ dân chủ hay nền dân chủ.
Thứ hai, dân chủ là một giá trị xã hội phản ánh các quyền cơ bản của công dân đã đấu tranh giành được và được mọi chế độ thừa nhận. Thứ ba, dân chủ là giá trị văn hóa, văn minh và tiến bộ của nhân loại. Với ý nghĩa này, sự phát triển của dân chủ là thước đo sự phát triển của xã hội, dân chủ là giá trị vĩnh hằng. Thứ tư, dân chủ là một hình thức tổ chức quản lý và hoạt động của xã hội, cộng đồng dân cư, tập thể, gia đình.
ở đâu có tổ chức quyền lực thì có hoạt động dân chủ thực tiễn. Tuy nhiên, khái niệm chung nhất, phản ánh bản chất nhân văn cao cả nhất của dân chủ là quyền lực thuộc về Nhân dân. Trong xã hội có giai cấp và nhà nước, dân chủ luôn gắn liền với một chế độ chính trị, một hình thức nhà nước cụ thể. Dân chủ là phạm trù chính trị - xã hội mang tính lịch sử và tính giai cấp.
Với ý nghĩa đó, lịch 10 sử xã hội loài người đã trải qua 3 chế độ dân chủ là: dân chủ chủ nô; dân chủ tư sản và dân chủ XHCN. Xuất phát từ thực tiễn cách mạng Việt Nam, bối cảnh của thời đại, trung thành với chủ nghĩa Mác - Lênin, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán lựa chọn con đường XHCN, khẳng định sự thống nhất hữu cơ giữa đấu tranh cho độc lập dân tộc và đấu tranh cho CNXH. Điều đó cũng có nghĩa là, sự thiết lập và từng bước hoàn thiện nền dân chủ ở Việt Nam không gì khác hơn là nền dân chủ XHCN. Bản chất của nền dân chủ XHCN ở nước ta là chế độ xã hội của dân, do dân, vì dân.
Trong nền dân chủ ấy, quyền lực Nhà nước thuộc về giai cấp công nhân và Nhân dân lao động. Quyền lực này được đảm bảo bằng sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - chính đảng của giai cấp công nhân và Nhân dân lao động. Quyền công dân và quyền con người được bảo vệ nhất quán trong luật pháp và trong thực tế đời sống. Đó là nền dân chủ mang bản chất tốt đẹp, nhân đạo, tiến bộ.
Quyền dân chủ của Nhân dân được thể hiện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Với ý nghĩa đó, dân chủ ở cơ sở là quyền làm chủ của người dân được tiến hành từ cấp xã, phường trở xuống (đến cấp thôn, xóm, cơ quan, đơn vị, nhà máy…) theo phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và giám sát. Xét về bản chất, đó là sự thực hiện quyền làm chủ của các tầng lớp Nhân dân ở cơ sở trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm bảo đảm cho mọi tổ chức và hoạt động ở cơ sở thực sự là của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Dân chủ ở cơ sở được thực hiện trước hết là hình thức dân chủ trực tiếp, nghĩa là Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình bằng cách trực tiếp thể hiện ý chí (qua ý kiến), nguyện vọng của mình đối với tổ chức và hoạt động của cơ quan chính quyền ở cơ sở.
Bên cạnh đó dân chủ ở cơ sở còn được thực hiện bằng hình thức dân chủ đại diện và các hình thức tự quản của cộng đồng dân cư. Đặc điểm, nội dung, vai trò của quy chế dân chủ cơ sở Quy chế dân chủ ở cơ sở có những đặc điểm sau: Thứ nhất, khác với các Quy chế thông thường, quy chế thực hiện dân chủ là một văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể hóa và luật hóa phương châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra và giám sát” bằng một nghị định của chính phủ căn cứ vào 11 Nghị quyết của UBTV Quốc hội (Nghị quyết 45-1998/NQ-UBTVQH ngày 26/2/1998 về việc ban hành Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Thứ hai, quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là sự cụ thể hóa dân chủ XHCN ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của nhân dân gắn liền với cơ sở Đảng lãnh đạo, nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ” Thứ ba, Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở phát huy chế độ dân chủ đại diện, nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của chính quyền địa phương, cơ sở, quy định những nghĩa vụ cụ thể của chính quyền trong việc bảo đảm quyền dân chủ ở cơ sở. Thứ tư, Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở thực hiện chế độ dân chủ trực tiếp ở cơ sở để nhân dân bàn bạc và trực tiếp quyết định những công việc quan trọng, thiết thực, gắn với quyền và nghĩa vụ của nhân dân.
Thứ năm, có sự tham gia của mặt trận và các đoàn thể nhân dân ở mọi khâu trong thực hiện quy chế ở cơ sở để phát huy mạnh mẽ vai trò làm chủ của nhân dân trong việc thực thi nền dân chủ XHCN. Thứ sáu, mục đích của việc ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã là nhằm phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân ở xã, động viên sưc mạnh vật chất và tinh thần to lớn của nhân dân trong phát triển kinh tê- xã hội, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, ổn định chính trị, tăng cường đoàn kết, xây dựng Đản bộ, chính quyền và các đoàn thể ở xã trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn và khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, tham nhũng của một số cán bộ, đảng viên và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh theo định hướng XHCN. Thứ bảy, quy chế thực hiện dân chủ cơ sở thể hiện yêu cầu dân chủ phải trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật; đi đôi với trật tự, kỷ cương; quyền đi đôi với nghĩa vụ; kiên quyết xử lý những hành vi lợi dụng dân chủ, vi phạm Hiến pháp, pháp luật, xân phạm lợi ích của nhà nước, lợi ích tập thể, quyền tự do, dân chủ và lợi ích hợp pháp của công dân. Nội dung việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở gồm: Nội dung 1: “Dân biết” gồm 14 điểm sau: 12 1.
Chủ trương, chính sách, pháp luật của nhà nước liên quan trực tiếp đến quyền và lợi ích của nhân dân trong xã, bao gồm a) Các nghị quyết của HĐND, quyết định của UBND xã và của cấp trên có liên quan đến địa phương; b) các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc liên quan đến dân; c) những quy định của nhà nước và chính quyền địa phương về đối tượng, mức thu các loại thuế, phí, lệ phí và các nghĩa vụ khác đối với nhân dân theo quy định của pháp luật hiện hành’ 2. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, phương án chuyển dịch cơ cấu kinh tế và dự toán, quyết toán ngân sách hằng năm của cấp xã; 3. Dự án, công trình đầu tư và thứ tự ưu tiên, tiến độ thực hiện, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư liên quan đến dự án, công trình trên địa bàn cấp xã; 4. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất chi tiết và phương án điều chỉnh, quy hoạch khu dân cư trên địa bàn cấp xã; 5.
Nhiệm vụ, quyền hạn của cán bộ, công chức cấp xã trực tiếp giải quyết các công việc của nhân dân; 6. Việc quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu tư, tài trợ theo chương trình, dự án đối với cấp xã; các khoản huy động nhân dân đóng góp; Chủ trương, kế hoạch vay vốn cho nhân dân để phát triển sản xuất, xoá đói, giảm nghèo; 7. Phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất, trợ cấp xã hội, xây dựng nhà tình thương, cấp thẻ bảo hiểm y tế; Đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới hành chính liên quan trực tiếp tới cấp xã; 8. Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của cán bộ, công chức cấp xã, của cán bộ thôn, tổ dân phố; kết quả lấy phiếu tín nhiệm Chủ tịch và Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch và Phó Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã; 9.
Nội dung và kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân đối với những vấn đề thuộc thẩm quyền quyết định của cấp xã mà chính quyền cấp xã đưa ra lấy ý kiến nhân dân theo quy định tại Điều 19 của Pháp lệnh này; Đối tượng, mức thu các loại phí, lệ phí và nghĩa vụ tài chính khác do chính quyền cấp xã trực tiếp thu; 13 10. Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện; Những nội dung khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết. Thông qua đó, dân biết được quyền và nghĩa vụ của mình, và là cơ sở để bàn, để làm, để kiểm tra và giám sát. Sơ kết, tổng kết hoạt động HĐND và UBND xã; 12.
Phương án dồn điền, đổi thửa phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp, kinh tế trang trại, hợp tác xã; 13. Bình xét các hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất và xây dựng nhà tình thương; thực hiện chính sách đối với gia đình có công với cách mạng, gia đình liệt sĩ, thương binh, bệnh binh được tặng nhà tình nghĩa, sổ tiết kiệm, thể bảo hiểm y tế; 14.