Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VỊ TRÍ, VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN TRONG THỂ CHẾ NHÀ NƢỚC 1. KHÁI NIỆM VỊ TRÍ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN Tòa án nhân dân có vị trí đặc biệt trong hệ thống các cơ quan nhà nƣớc: Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử và Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử Trong hệ thống tổ chức quyền lực nhà nƣớc thì tòa án là cơ quan tƣ pháp. Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử; hoạt động xét xử là hoạt động tƣ pháp, thực hiện quyền tƣ pháp.
Trong khoa học pháp lý Việt Nam, “tƣ pháp” còn đƣợc hiểu theo nghĩa rộng, không chỉ là hoạt động xét xử của tòa án, mà còn bao gồm các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án của các cơ quan tƣ pháp khác (Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và cơ quan thi hành án). Theo quy định của Hiến pháp, Tòa án nhân dân đƣợc quy định chung với Viện Kiểm sát tại Chƣơng X. Điều 126 Hiến pháp quy định: “Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, trong phạm vi chức năng của mình, có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.” 6 z Cách hiểu “tƣ pháp” theo nghĩa rộng không thực sự phù hợp với quan niệm chung của thế giới về quyền tƣ pháp, trong đó “tƣ pháp” chỉ đƣợc hiểu là hoạt động xét xử của tòa án. Thực chất, chức năng xét xử khác về bản chất so với các hoạt động kiểm sát, điều tra, truy tố hay thi thành án.
Xét xử là việc tòa án xem xét và phán quyết về một vụ việc tranh chấp. Tuy nhiên, để tòa án có thể thực hiện đƣợc chức năng này, nhiều chủ thể đƣợc tham gia vào quy trình tố tụng tƣ pháp nhƣ cơ quan điều tra thực hiện chức năng điều tra; viện kiểm sát (cơ quan công tố) thực hiện chức năng truy tố, buộc tội một chủ thể nào đó trƣớc tòa án; luật sƣ bảo vệ quyền lợi của đƣơng sự. Những hoạt động trên không phải là hoạt động tƣ pháp, mà là những hoạt động hỗ trợ hay bảo đảm cho hoạt động tƣ pháp (xét xử) của tòa án. Vị trí của Tòa án gắn liền với chức năng xét xử.
Tòa án là cơ quan duy nhất có quyền xét xử. Điều 127 Hiến pháp 1992 quy định: “Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương, các Toà án quân sự và các Toà án khác do luật định là những cơ quan xét xử của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Trong xã hội, việc kết tội một công dân là một việc làm cần phải hết sức thận trọng, vì nó ảnh hƣởng rất lớn đến danh dự, nhân phẩm, tài sản, sức khoẻ, tính mạng và các quyền và lợi ích khác của họ. Việc quy định Toà án nhân dân là cơ quan duy nhất có quyền xét xử các vụ án hình sự là nhằm bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tránh những việc làm tuỳ tiện vì không phải bất cứ ai hoặc tổ chức nào cũng có quyền kết tội một công dân.
Chỉ có Toà án là cơ quan đƣợc pháp luật của Nhà nƣớc quy định có quyền thay mặt Nhà nƣớc quy kết một ngƣời là có tội hay không có tội và áp dụng hình phạt đối với ngƣời phạm tội; đảm bảo thực hiện đƣợc mục đích hình phạt trừng trị kết hợp với cải tạo và giáo dục, kết hợp giữa phòng ngừa 7 z riêng với phòng ngừa chung. Quy định Toà án nhân dân là cơ quan duy nhất có quyền xét xử các vụ án hình sự phù hợp với nguyên tắc hiến định: "Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật" (Điều 72 Hiến pháp). Tòa án xét xử các tranh chấp, vi phạm pháp luật xảy ra trong xã hội, bao gồm các vi phạm hành chính, hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, lao động, kinh tế, hành chính và giải quyết những việc khác theo quy định của pháp luật. Vị trí độc lập của Tòa án So với các cơ quan nhà nƣớc khác, sự độc lập của Tòa án là phản ánh vị trí cơ bản của Tòa án.
Trong tác phẩm “Tinh thần pháp luật” Montesquieu viết: “Khi quyền lập pháp được sáp nhập với quyền hành pháp và tập trung vào trong tay một người hay một tập đoàn, thì sẽ không có tự do được. Bởi vì người ta có thể sợ rằng chính nhà vua hay Nghị viện ấy sẽ làm những đạo luật độc đoán. Sẽ không có tự do nếu quyền xét xử không được phân biệt với quyền lập pháp và hành pháp. Nếu quyền xét xử được lập vào quyền lập pháp, thì sẽ không có tự do.
Nếu quyền xét xử được nhập vào quyền hành pháp thì thẩm phán sẽ trở thành kẻ áp bức; Mọi sẽ biến mất nếu chính một người hay một tập đoàn các thân hào hay quý tộc hay bình dân hành sự cả ba quyền: quyền làm luật, quyền thi hành các quyết nghị chung và quyền xét xử các tội phạm hay các vụ tranh chấp giữa các tư nhân”. 100] Phải khẳng định rằng, chế độ tƣ bản nhất là trong thời kỳ cách mạng của nó đã bỏ rất nhiều công sức vào cuộc đấu tranh giành độc lập cho hoạt động của tòa án. Sự độc lập của tòa án khỏi lập pháp và hành pháp là một 8 z trong những yếu tố quan trọng trong việc bảo đảm quyền bình đẳng, quyền tự nhiên của con ngƣời, và nhất là trong việc chống lại tình trạng chuyên chế, tham nhũng, lạm dụng quyền lực của các nhà cầm quyền. Tuy nhiên, vị trí của tòa án cũng phụ thuộc rất nhiều vào quan điểm tƣ tƣởng của giai cấp cầm quyền trong nhà nƣớc tƣ sản.
Ở Anh và Pháp, vì lý do lịch sử và hệ tƣ tƣởng, nguyên tắc phân quyền trong bộ máy nhà nƣớc không rõ rệt, trong đó, Nghị Viện có ƣu thế hơn nhiều so với tòa án. Trong khi đó, hệ thống tƣ pháp lại có một vị trí rất đặc biệt trong truyền thống pháp luật của Hoa Kỳ. Sự tiến hóa và đặc trƣng của bộ máy tòa án Mỹ đã làm cho bản đồ quyền lực ở Mỹ đƣợc phân biệt một cách rõ rệt hơn, gần đúng hơn với học thuyết phân chia quyền lực của Montesquieu. Ngay từ thời mới thành lập Nhà nƣớc Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, cùng với quan niệm về tính tối cao của Hiến pháp và luật, ngƣời Mỹ đã đặc biệt đề cao vai trò của tòa án trong tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nƣớc.
Những tƣ tƣởng đó là rất xa lạ với tập quán của Châu Âu lục địa và kể cả đất nƣớc từng là mẫu quốc của họ, nơi mà cho tới những năm 80 của thế kỷ trƣớc, các nƣớc Châu Âu mới bừng tỉnh ra vị trí độc lập của tòa án. Trong tổ chức quyền lực nhà nƣớc hiện nay, dù theo mô hình chính thể nào, nguyên tắc độc lập của Tòa án vẫn là một nền tảng cơ bản. Ở nƣớc ta, nguyên tắc xét xử độc lập đƣợc quy định tại Điều 130 của Hiến pháp hiện hành: “Khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật”. Nguyên tắc này có nghĩa là thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xét xử.
Không cá nhân, tổ chức nào kể cả các cơ quan nhà nƣớc, tổ chức Đảng đƣợc can thiệp, tác động vào hoạt động xét xử của tòa án. Trong tổ chức quyền lực Nhà nƣớc, các thẩm phán và tòa án đƣợc bổ nhiệm, thành lập bởi những cơ quan Nhà nƣớc nhất định. 9 z Nhƣng nhƣng cơ quan này cũng không có quyền can thiệp vào hoạt động xét xử của tòa án. Các thẩm phán và ngành tòa án đặt dƣới sự lãnh đạo của Đảng, nhƣng cũng không vì thế mà các tổ chức Đảng có thể chỉ đạo cụ thể hoạt động xét xử của các thẩm phán, hội thẩm nhân dân.
Pháp luật là cơ sở duy nhất để tòa án ban hành các bản án, quyết định. Nguyên tắc độc lập tƣ pháp theo quy định của pháp luật Việt Nam đƣợc hiểu là sự đảm bảo độc lập trong hoạt động xét xử. Tuy nhiên, sự độc lập tƣ pháp không thể chỉ dừng lại ở khâu xét xử. Không thể có độc lập xét xử nếu không có sự độc lập trong tổ chức tòa án cũng nhƣ các bảo đảm khác trong trong quy trình tố tụng.
Thực tế, những vấn đề tổ chức của tòa án nhƣ sự lãnh đạo của Đảng hay tổ chức tòa án theo các đơn vị hành chính lãnh thổ có mối quan hệ chặt chẽ và có ảnh hƣởng trực tiếp đến việc đảm bảo sự độc lập xét xử của thẩm phán và hội thẩm nhân dân. VAI TRÒ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN Với vị trí đặc biệt trong bộ máy nhà nƣớc, Tòa án nhân dân thực hiện vai trò “…bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân” (Điều 126). Xét một cách tổng quát, Tòa án nhân dân thực hiện các vai trò cơ bản sau: - Bảo vệ quyền con người, quyền công dân Hiến pháp và pháp luật ghi nhận các quyền con ngƣời, quyền công dân. Việc ghi nhận đó xác định trách nhiệm của nhà nƣớc trong việc tôn trọng các quyền con ngƣời, quyền công dân: tất cả các cơ quan nhà nƣớc, ngƣời có thẩm quyền không đƣợc xâm phạm các quyền hợp hiến, hợp pháp của ngƣời 10 z dân.
Mặc dù vậy, trên thực tế, nhà nƣớc thƣờng là chủ thể xâm phạm nhiều nhất các quyền con ngƣời, quyền công dân. Do vậy, Hiến pháp, pháp luật coi trọng việc quy định trách nhiệm của nhà nƣớc trong việc bảo vệ các quyền và tự do cơ bản trƣớc sự xâm phạm của mọi chủ thể trong xã hội, đặc biệt từ chính các cơ quan công quyền. Trong các cơ chế bảo vệ này, tòa án có vai trò quan trọng đặc biệt: tòa án có khả năng xét xử độc lập các hành vi vị phạm các quyền con ngƣời, quyền công dân của các cơ quan nhà nƣớc, ngƣời có thẩm quyền.