mở đầu cho lịch sử hoạt động sở hữu công nghiệp của nƣớc nhà.1989, Pháp lệnh Bảo hộ quyền Sở hữu công nghiệp đã ra đời, theo đó, sáng chế và các đối tƣợng sở hữu công nghiệp khác đƣợc coi là một loại tài sản và là đối tƣợng của quyền sở hữu. Một sự kiện quan trọng trong lịch sử hoạt động sở hữu công nghiệp của Việt Nam là việc ra đời Bộ luật Dân sự năm 1995 với Phần thứ VI quy định về quyền sở hữu trí tuệ và chuyển giao công nghệ. Tiếp theo, Luật Sở hữu trí tuệ, đạo luật chuyên ngành đầu tiên về sở hữu trí tuệ của Việt Nam, đã đƣợc Quốc hội chính thức thông qua ngày 29.2005 (có hiệu lực thi hành từ 01.2006), đã nâng cấp vƣợt bậc hiệu lực của toàn hệ thống pháp luật sở 1 Xin tham khảo thêm: Kamil Idris, Sở hữu trí tuệ, một công cụ đắc lực để phát triển kinh tế, Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới, Bản dịch tiếng Việt của Chƣơng trình hợp tác đặc biệt Việt Nam - Thuỵ Sỹ về Sở hữu trí tuệ, NXB Bản đồ 2005. 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hữu trí tuệ, góp phần tạo động lực thúc đẩy phát triển kinh tế-xã hội của đất nƣớc.
Định nghĩa sáng chế Sáng chế là một đối tƣợng quan trọng của hệ thống sở hữu công nghiệp. Bằng độc quyền sáng chế là một văn bằng do cơ quan có nhà nƣớc có thẩm quyền (hoặc một cơ quan khu vực nhân danh môt số quốc gia) cấp trên cơ sở một đơn yêu cầu bảo hộ, để cho phép bảo vệ các sáng chế bằng một sự độc quyền trong một thời hạn nhất định. Đổi lại việc đƣợc độc quyền, chủ sở hữu sáng chế phải bộc lộ sáng chế cho công chúng. Bằng độc quyền sáng chế mô tả một sáng chế và thiết lập một điều kiện pháp lý mà theo đó sáng chế đã đƣợc cấp bằng độc quyền chỉ có thể đƣợc khai thác một cách bình thƣờng khi chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế cho phép.
Sự bảo vệ này chính là phƣơng tiện giúp cho chủ sở hữu bằng độc quyền sáng chế và tác giả sáng chế thu đƣợc phần thƣởng từ thành quả nghiên cứu của mình và khuyến khích họ bộc lộ sáng chế và thực hiện nó ở quốc gia nơi mà Bằng độc quyền sáng chế đƣợc cấp. Theo Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới: “Bằng độc quyền sáng chế là một độc quyền được cấp cho một sáng chế, đó là một sản phẩm hoặc một quy trình mà nói chung, tạo ra một cách thức mới để thực hiện một việc gì đó, hoặc đề xuất một giải pháp kỹ thuật mới cho một vấn đề.” 3 Theo Luật Sở hữu trí tuệ của nƣớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “Sáng chế là giải pháp kỹ thuật dưới dạng sản phẩm hoặc quy trình nhằm giải quyết một vấn đề xác định bằng việc ứng dụng các quy luật tự nhiên”. [16, khoản 12 Điều 4] “Quyền sở hữu công nghiệp đối với sáng chế…được xác lập trên cơ sở quyết định cấp văn bằng bảo hộ của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo thủ tục đăng ký quy định tại Luật này.a Điều 6] 2 Theo Trần Việt Hùng (2007), Hoạt động sở hữu trí tuệ phục vụ phát triển kinh tế-xã hội đất nước, Tạp chí hoạt động khoa học, Bộ Khoa học và Công nghệ, số 7/2007.int/patentscope/en/patents_faq.html#protection: "Patents: Frequently Asked Questions". World Intellectual Property Organization, ngày cập nhật 29/04/2011.
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nói chung, sáng chế là một giải pháp cho một vấn đề cụ thể trong lĩnh vực công nghệ bất kỳ, từ các vật dụng sinh hoạt hằng ngày đơn giản nhƣ cái kẹp giấy đến các quy trình, thiết bị hiện đại thuộc lĩnh vực công nghệ cao. Sáng chế có thể liên quan đến sản phẩm hoặc quy trình. Bằng độc quyền sáng chế tạo ra sự bảo hộ độc quyền cho chủ sở hữu sáng chế (hoặc chủ văn bằng), sự bảo hộ này chỉ có hiệu lực trên lãnh thổ của quốc gia (nhóm quốc gia) cấp bằng đó. Hiệu lực của Bằng độc quyền sáng chế có giới hạn về thời gian, tuỳ thuộc vào quy định của từng quốc gia (nhóm quốc gia), và thƣờng là 20 năm.
Điều 93 Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam quy định rõ: “1. Văn bằng bảo hộ có hiệu lực trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Bằng độc quyền sáng chế có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết hai mươi năm kể từ ngày nộp đơn.” [16, khoản 1 và 2 Điều 93] Việc bảo hộ sáng chế có nghĩa là ngƣời khác không đƣợc phép sản xuất, sử dụng, phân phối hoặc bán đối tƣợng đƣợc bảo hộ trên thị trƣờng mà không đƣợc phép của chủ sở hữu sáng chế. Chủ sở hữu sáng chế có quyền quyết định việc có sử dụng hay không sử dụng sáng chế đƣợc bảo hộ trong suốt thời gian hiệu lực.
Chủ sở hữu sáng chế có thể cho phép ngƣời khác sử dụng sáng chế, hoặc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho ngƣời khác theo các điều kiện thỏa thuận. Chủ sở hữu sáng chế cũng có thể chuyển nhƣợng sáng chế cho ngƣời khác, khi đó ngƣời đƣợc chuyển nhƣợng sẽ là chủ sở hữu mới của sáng chế. Khi sáng chế hết hiệu lực, việc bảo hộ kết thúc, chủ sở hữu sáng chế không còn có quyền độc quyền đối với sáng chế nữa, bất kỳ ngƣời nào đều có thể khai thác và sử dụng sáng chế. Ở một số quốc gia, sáng chế có thể đƣợc bảo hộ dƣới dạng “giải pháp hữu ích”, “mẫu hữu ích”, hoặc “sáng chế đổi mới”, “sáng kiến hữu ích” hoặc “sáng chế ngắn hạn”, dƣới đây gọi chung là “giải pháp hữu ích”.
Điểm khác nhau chủ yếu giữa giải pháp hữu ích và sáng chế là ở chỗ, các điều kiện bảo hộ đối với giải pháp hữu ích không nghiêm ngặt nhƣ sáng chế, cụ thể là yêu cầu về trình độ sáng tạo. Thông thƣờng, lệ phí cho việc đăng ký giải pháp hữu ích thấp hơn so với đơn đăng ký sáng chế. Thời hạn hiệu lực 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của Bằng độc quyền giải pháp hữu ích ngắn hơn so với thời hạn hiệu lực của Bằng độc quyền sáng chế, nhƣng các quyền khác của chúng là tƣơng tự với Bằng độc quyền sáng chế. Xét về mặt đối tƣợng đƣợc bảo hộ, ở một số quốc gia, việc bảo hộ giải pháp hữu ích chỉ đƣợc cấp cho một số lĩnh vực công nghệ nhất định, và bảo hộ đối với sản phẩm mà không bảo hộ quy trình.
Ví dụ, ở Nhật Bản và Trung Quốc, mẫu hữu ích (utility model) chỉ đƣợc cấp cho đối tƣợng là sản phẩm (cơ cấu, thiết bị) mà không cho quy trình. Ở Việt Nam, sáng chế có thể đƣợc bảo hộ dƣới dạng “giải pháp hữu ích”. Yêu cầu cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích có thể đƣợc nộp ngay từ khi nộp đơn, hoặc chủ đơn có thể yêu cầu chuyển đổi từ đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế thành đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền giải pháp hữu ích vào thời điểm bất kỳ trƣớc khi Cục Sở hữu trí tuệ ra thông báo từ chối cấp văn bằng bảo hộ hoặc quyết định cấp văn bằng bảo hộ. Việc chuyển đổi nhƣ vậy tạo điều kiện thuận lợi và linh hoạt cho chủ đơn có đƣợc dạng bảo hộ phù hợp với giải pháp của mình, đặc biệt là trong trƣờng hợp đối tƣợng nêu trong đơn không đáp ứng yêu cầu về trình độ sáng tạo.
Khác với một số quốc gia khác, Bằng độc quyền giải pháp hữu ích của Việt Nam đƣợc cấp cho các loại đối tƣợng giống nhƣ sáng chế, gồm cả sản phẩm và quy trình, và có hiệu lực từ ngày cấp và kéo dài đến hết mƣời năm kể từ ngày nộp đơn.4 Ngoài hình thức cấp bằng độc quyền, một số quốc gia còn có hình thức bảo hộ sáng chế dƣới dạng “giấy chứng nhận tác giả sáng chế” (inventor’s certificate, author’s certificate). Đó cũng là một dạng bảo hộ cụ thể của sáng chế, đã từng đƣợc một số quốc gia sử dụng, và hiện vẫn còn ở vài quốc gia. Giấy chứng nhận tác giả sáng chế lần đầu tiên đƣợc đề cập đến trong luật pháp ở Liên bang Xô Viết, “Pháp lệnh về sáng chế” do Lênin ban hành vào 30. Tiếp theo, một số nƣớc xã hội chủ nghĩa cũng sử dụng hình thức này.
Xét về mặt nội dung tài liệu, thủ tục nộp đơn và quá trình thẩm định đơn, 4 Xin tham khảo thêm: Bộ Khoa học và Công nghệ (2007), Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN Hướng dẫn thi hành Nghị định số 103/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều luật của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp. 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đơn yêu cầu cấp bằng độc quyền sáng chế và đơn yêu cầu cấp giấy chứng nhận tác giả sáng chế là tƣơng tự nhau. Tuy nhiên, hiệu lực pháp lý của bằng độc quyền sáng chế và giấy chứng nhận tác giả sáng chế hoàn toàn khác nhau. Đối với sáng chế, chủ sở hữu sáng chế có độc quyền đối với sáng chế và có quyền chuyển nhƣợng sáng chế hoặc chuyển giao quyền sử dụng sáng chế.
Trong khi đó, đối với giấy chứng nhận tác giả, quyền khai thác sáng chế thuộc về nhà nƣớc và tác giả sáng chế chỉ có quyền nhận tiền thƣởng từ nhà nƣớc, tác giả sáng chế không có quyền chuyển nhƣợng sáng chế cho bên thứ ba và không có quyền chuyển giao quyền sử dụng sáng chế cho ngƣời khác khai thác. Luận văn này đề cập tới khái niệm sáng chế theo định nghĩa nêu tại khoản i và ii Điều 2 Hiệp ƣớc Hợp tác về Sáng chế (PCT): “(i) “đơn” nghĩa là đơn yêu cầu cấp Bằng độc quyền sáng chế; những sự đề cập đến “đơn” phải được hiểu là sự đề cập đến đơn yêu cầu cấp: Bằng độc quyền sáng chế, Giấy chứng nhận tác giả sáng chế, Giấy chứng nhận hữu ích, Mẫu hữu ích, Bằng độc quyền sáng chế bổ sung, Giấy chứng nhận tác giả sáng chế bổ sung và Giấy chứng nhận hữu ích bổ sung; (ii) sự đề cập đến “Bằng độc quyền sáng chế” phải được hiểu là sự đề cập đến Bằng độc quyền sáng chế, Giấy chứng nhận tác giả sáng chế, Giấy chứng nhận hữu ích, Mẫu hữu ích, Bằng độc quyền sáng chế bổ sung, Giấy chứng nhận tác giả sáng chế bổ sung, và Giấy chứng nhận hữu ích bổ sung.” [7, khoản i và ii Điều 2] Một cách tổng quát, khái niệm “sáng chế” đƣợc sử dụng trong Luận văn này không chỉ liên quan đến sáng chế mà còn liên quan đến các đối tƣợng tƣơng tự nhƣ sáng chế, với tên gọi cụ thể tuỳ thuộc vào luật pháp của từng quốc gia.