Phần mở đầu: Giới thiệu khái quát bối cảnh nghiên cứu, mục đích, đối tƣợng, phạm vi, phƣơng pháp nghiên cứu, một số đóng góp mới của Luận văn và cấu trúc của Luận văn Phần nội dung: Đƣợc bố cục thành 3 chƣơng nhƣ sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về vai trò của Quốc hội trong việc đảm bảo 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tính thống nhất của hệ thống pháp luật Chƣơng 2: Thực trạng về vai trò của Quốc hội trong việc bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật Chƣơng 3: Tăng cƣờng vai trò của Quốc hội trong việc bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật Phần kết luận Tài liệu tham khảo 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA QUỐC HỘI TRONG VIỆC ĐẢM BẢO TÍNH THỐNG NHẤT CỦA HỆ THỐNG PHÁP LUẬT 1. Khái niệm và ý nghĩa về tính thống nhất của hệ thống pháp luật Pháp luật của Nhà nƣớc ta đƣợc cấu thành từ những văn bản quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền ban hành. Mỗi văn bản quy phạm pháp luật là một tập hợp nhiều quy phạm pháp luật, thƣờng đƣợc gọi là điều luật, với chức năng điều chỉnh một quan hệ xã hội nhất định,thuộc một lĩnh vực nhất định của đời sống xã hội. Nếu tính theo số lƣợng các điều luật, pháp luật của Nhà nƣớc ta có thể lên đến hàng ngàn, hàng vạn điều, hàng ngàn, hàng vạn quy phạm pháp luật.
Nét đặc trƣng cơ bản của các quy phạm pháp luật của Nhà nƣớc là dù nhiều đến bao nhiêu, nội dung, hình thức văn bản pháp luật đƣợc ban hành khác nhau nhƣ thế nào và do các các cơ quan Nhà nƣớc nào ban hành thì cũng đều đƣợc tập hợp lại và đó không phải là một tập hợp các điều luật tồn tại một cách rời rạc, không có liên quan gì với nhau mà hợp thành một chỉnh thể, kết thành hệ thống và là một hệ thống có sự thống nhất bên trong, nội bộ, hay nói một cách chặt chẽ là sự thống nhất nội tại của các điều luật, các văn bản quy phạm pháp luật. Ở nƣớc ta, sự đa dạng và những yêu cầu về tính thống nhất nội tại của hệ thống pháp luật đƣợc thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật về trình tự, thủ tục, phƣơng thức và cách thức thực hiện việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, mà trƣớc hết, đƣợc thể hiện tập trung và rõ nét nhất trong Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật [5, 6]. Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành quy định nhiều 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hình thức văn bản quy phạm pháp luật với hiệu lực pháp lý và thẩm quyền ban hành khác nhau. Theo quy định của Luật, văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực pháp lý cao nhất là Hiến pháp, tiếp đó là luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thƣờng vụ Quốc hội; nghị định, nghị quyết của Chính phủ; quyết định, chỉ thị của Thủ tƣớng chính phủ;… Chính sự đa dạng về các loại hình văn bản, cấp độ hiệu lực cũng nhƣ chủ thể ban hành đòi hỏi phải có “trật tự, quy tắc” trong việc ban hành để đảm bảo hệ thống các văn bản đó không xung đột, không mâu thuẫn mà ngƣợc lại phối hợp, hỗ trợ nhau để đảm bảo hiệu quả điều chỉnh pháp luật.
Nói cách khác, một yêu cầu đặt ra là bảo đảm tính thống nhất của tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật đó. Trên phƣơng diện này, tính thống nhất của hệ thống pháp luật thể hiện ở các khía cạnh sau: Thứ nhất, tính đồng bộ của các văn bản quy phạm pháp luật. Đây là việc ban hành các văn bản một cách kịp thời, đồng bộ để tạo nên tính thổng thể của nội dung, vấn đề hoặc nhóm các vấn đề cần đƣợc pháp luật điều chỉnh. Trong thực tế, với cấp độ các văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, mỗi văn bản có vai trò và mục đích riêng.
Thông thƣờng, ứng với mỗi đạo luật do Quốc hội ban hành kèm theo đó là các văn bản có thể là pháp lệnh, nghị định, thông tƣ,… hƣớng dẫn chi tiết thực hiện đạo luật đó. Trong trƣờng hợp văn bản hƣớng dẫn chƣa đƣợc ban hành thì những nội dung trong văn bản luật còn quy định chung chung, chƣa cụ thể hoặc chƣa quy định rõ về quy trình, thủ tục và cách thức áp dụng các quy phạm pháp luật,… nên chƣa thể thực hiện trong cuộc sống một cách thống nhất. Trong trƣờng hợp này, việc giải thích các đạo luật cụ thể, rõ ràng hoặc ban hành kịp thời hệ thống các văn bản hƣớng dẫn về trình tự, thủ tục thực hiện các quy định của đạo luật có vai trò quan trọng để thống nhất cách hiểu, cách áp dụng các quy định của đạo luật đó trong thực tiễn. Điều này đặc biệt quan trọng đối với thực trạng luật 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của chúng ta còn quy định chung chung, không cụ thể để có thể thực hiện đƣợc ngay.
Một văn bản luật đƣợc ban hành với những quy định không cụ thể đồng nghĩa với việc văn bản luật đó chứa đựng những quy định có thể hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và cũng có nghĩa là hàm chứa trong đó sự mâu thuẫn trong cách hiểu và áp dụng, nếu nhƣ không đƣợc giải thích hoặc hƣớng dẫn thi hành cụ thể bởi các văn bản dƣới luật hƣớng dẫn thi hành. Thứ hai là, tính nhất quán giữa các văn bản pháp luật. Việc ban hành đồng bộ, kịp thời các văn bản có liên quan để điều chỉnh một hoặc một nhóm quan hệ pháp luật có chung một đặc điểm nào đó là chƣa đủ hoặc chƣa đạt yêu cầu, nếu nhƣ những văn bản đó có sự mâu thuẫn, chồng chéo về nội dung hoặc thậm chí là mâu thuẫn về chính sách pháp luật. Đối với cùng một vấn đề có thể đƣợc quy định trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau, ở các hình thức, cấp độ hiệu lực pháp lý khác nhau và do những chủ thể có thẩm quyền khác nhau ban hành.
Do đó, luôn tiềm ẩn khả năng quy định khác nhau về cùng một nội dung giữa các văn bản đó. Việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật muốn bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật phải đáp ứng đƣợc 2 tiêu chí cơ bản sau: (i) Đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp, theo đó không có đạo luật nào, văn bản quy phạm hay áp dụng pháp luật nào trái với nội dung và tinh thần của Hiến pháp. Trong hệ thống pháp luật, các văn bản pháp luật của cơ quan nhà nƣớc cấp dƣới không trái với văn bản pháp luật của cơ quan nhà nƣớc cấp trên, các văn bản dƣới luật không trái với văn bản luật (thống nhất theo chiều dọc); (ii) Đảm bảo sự phù hợp giữa các văn bản ở cùng cấp độ hiệu lực. Nói cách khác, văn bản do các chủ thể ở cùng cấp về địa vị pháp lý ban hành không có các quy định mâu thuẫn, xung đột, trái chiều về cùng một nội dung (thống nhất theo chiều ngang).
13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thứ ba là, tính ổn định của hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Đây là khả năng tƣơng tác của văn bản với hệ thống các văn bản khác và với chính bản thân văn bản đó. Tính ổn định thực chất là đảm bảo cho nhiều văn bản cùng điều chỉnh về một vấn đề đƣợc thống nhất trong cách thể hiện, trình bày văn bản. Nói cách khác, một văn bản đƣợc ban hành phải đủ ổn định, “sống” đƣợc trong một khoảng thời gian nhất định và các văn bản khác ban hành sau đó có sự bổ sung, tƣơng hỗ trong tổng thể mối quan hệ với văn bản đó.
Nội dung quan trọng về tính ổn định của hệ thống văn bản luật là yêu cầu về việc không hồi tố theo hƣớng hạn chế quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong quan hệ pháp luật. Đây là yêu cầu cơ bản về bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật trong điều kiện xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mỗi quy phạm pháp luật đều có thời gian tồn tại hợp lý, sau một khoảng thời gian đƣợc thực hiện, do sự thay đổi của tình hình, cần có sự điều chỉnh, bổ sung hoặc thay thế. Do đó, trong trƣờng hợp một quan hệ pháp luật đƣợc điều chỉnh bởi một quy phạm pháp luật nào đó và đƣợc xác định hiệu lực theo một khoảng thời gian nhất định, thì khi có sự điều chỉnh, bổ sung, hủy bỏ quy định pháp luật đó, hoặc ban hành quy định mới để thay thế, thì quan hệ xã hội đƣợc điều chỉnh theo quy định cũ vẫn còn có giá trị thi hành, nếu việc áp dụng quy định có lợi cho các chủ thể có liên quan.
Điều này thể hiện hiệu lực không hồi tố của các quy phạm pháp luật đƣợc ban hành. Nhƣ vậy, một cách khái quát có thể định nghĩa tính thống nhất của hệ thống pháp luật là sự đồng bộ về số lượng các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành dưới các hình thức pháp lý khác nhau, theo thứ bậc về hiệu lực pháp lý, thống nhất về nội dung thể hiện và phù hợp về cấu trúc nội tại của văn bản quy phạm pháp luật và giữa văn bản đó với hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật khác cùng điều chỉnh một lĩnh vực hoặc một nhóm quan 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hệ có cùng tính chất hoặc một quan hệ pháp luật cụ thể nào đó. Nhƣ vậy, tính thống nhất của hệ thống pháp luật có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, có thể xem là một trong những thƣớc đo của sự phát triển bền vững và là một trong những tiêu chí quan trọng nhất để xây dựng nhà nƣớc pháp quyền. Tính thống nhất của hệ thống pháp luật là điều kiện quan trọng để đảm bảo cho pháp luật đƣợc thực thi bởi nếu pháp luật đƣợc quy định thiếu thống nhất thì việc thực thi pháp luật đó có thể tạo ra sự bất hoà, sự xung đột trong xã hội, xói mòn sự tin tƣởng của ngƣời dân vào pháp luật.
Có thể nêu lên ý nghĩa và tầm quan trọng của tính thống nhất của hệ thống pháp luật đƣợc thể hiện nhƣ sau: (i) Tạo nên sự ổn định của pháp luật và do đó gây dựng đƣợc lòng tin của nhân dân vào pháp luật.