Luận văn thạc sĩ: Vai trò của Quốc hội trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam

Luận văn thạc sĩ VNU LS phân tích vai trò của Quốc hội trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người tại Việt Nam, cung cấp cái nhìn sâu sắc về luật học.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2014

112
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA QUỐC HỘI TRONG VIỆC BẢO VỆ VÀ THÚC ĐẨY QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

1.1. Khái quát về quyền con người

1.2. Khái niệm và đặc điểm của quyền con người

1.3. Yêu cầu bảo vệ quyền con người ở Việt Nam trong tình hình mới

1.4. Khái quát những nét mới về Quốc hội trong Hiến pháp năm 2013

1.5. Địa vị pháp lý của Quốc hội

1.6. Chức năng, nhiệm vụ của Quốc hội Việt Nam

1.7. Tổ chức và hoạt động của Quốc hội

1.8. Lý luận về vai trò của Quốc hội trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người

1.9. Khái quát về vai trò của Quốc hội trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người

1.10. Mối quan hệ giữa Quốc hội với các cơ quan nhà nước khác trong việc bảo vệ quyền con người

1.11. Nội dung vai trò của Quốc hội trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người

1.12. Bảo vệ quyền con người trong hoạt động lập hiến, lập pháp

1.13. Bảo vệ quyền con người qua hoạt động quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước

1.14. Bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động giám sát tối cao

1.15. Bảo vệ quyền con người qua hoạt động của đại biểu Quốc hội

1.16. Yêu cầu xây dựng cơ quan chuyên trách về quyền con người - Kinh nghiệm của thế giới

1.17. Khái quát chung

1.18. Mô hình Thanh tra Quốc hội (Parliamentary Ombudsman)

1.19. Mô hình Ủy ban Quốc gia về quyền con người (National Human Rights Committee)

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA QUỐC HỘI TRONG VIỆC BẢO VỆ VÀ THÚC ĐẨY QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

2.1. Quyền lập hiến bảo vệ quyền con người

2.2. Yêu cầu đặt ra đối với quy trình lập hiến

2.3. Nội dung quyền con người trong Hiến pháp mới

2.4. Trưng cầu dân ý, lấy ý kiến của nhân dân về sửa đổi Hiến pháp

2.5. Hội đồng bầu cử quốc gia - Thiết chế ra đời đảm bảo quyền bầu cử của công dân

2.6. Thực trạng hoạt động lập pháp bảo vệ quyền con người của Quốc hội

2.7. Thực trạng hoạt động quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước bảo vệ quyền con người của Quốc hội

2.8. Thực trạng hoạt động Giám sát tối cao bảo vệ quyền con người của Quốc hội

3. CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA QUỐC HỘI TRONG VIỆC BẢO VỆ VÀ THÚC ĐẨY QUYỀN CON NGƯỜI Ở VIỆT NAM

3.1. Những quan điểm cơ bản nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người trong hoạt động thực hiện chức năng của Quốc hội

3.2. Đề xuất, kiến nghị nâng cao vai trò của Quốc hội trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở Việt Nam

3.3. Tăng cường chất lượng hoạt động lập pháp

3.4. Cải thiện việc thực hiện chức năng "Quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước" của Quốc hội

3.5. Nâng cao hiệu quả bảo vệ quyền con người thông qua hoạt động giám sát tối cao

3.6. Tăng cường hiệu quả hoạt động của các cơ quan của Quốc hội

3.7. Hoàn thiện bộ máy chuyên trách về quyền con người trong tổ chức của Quốc hội

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về vai trò của Quốc hội trong bảo vệ quyền con người

Quốc hội Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Với tư cách là cơ quan đại diện cao nhất của nhân dân, Quốc hội có trách nhiệm xây dựng và thông qua các luật pháp nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân. Điều này không chỉ thể hiện qua các văn bản pháp luật mà còn qua các hoạt động giám sát và quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

1.1. Khái niệm quyền con người và sự cần thiết bảo vệ

Quyền con người là những quyền tự nhiên, vốn có của mỗi cá nhân, được ghi nhận và bảo vệ bởi pháp luật. Việc bảo vệ quyền con người không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước mà còn là nghĩa vụ của toàn xã hội. Quốc hội, với vai trò lập pháp, có trách nhiệm đảm bảo rằng các quyền này được thực thi và bảo vệ.

1.2. Địa vị pháp lý của Quốc hội trong hệ thống chính trị

Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có chức năng lập hiến, lập pháp và giám sát tối cao. Địa vị pháp lý này cho phép Quốc hội có khả năng tác động mạnh mẽ đến việc bảo vệ quyền con người thông qua việc ban hành các luật và chính sách phù hợp.

II. Thách thức trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam

Mặc dù Quốc hội đã có nhiều nỗ lực trong việc bảo vệ quyền con người, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Các vấn đề như sự thiếu hụt thông tin, sự chậm trễ trong việc thực thi các chính sách, và sự thiếu đồng bộ trong các quy định pháp luật đang gây khó khăn cho việc bảo vệ quyền con người.

2.1. Những vấn đề pháp lý còn tồn tại

Nhiều quy định pháp luật hiện hành chưa đầy đủ hoặc không đồng bộ, dẫn đến việc khó khăn trong việc thực thi quyền con người. Quốc hội cần xem xét và sửa đổi các quy định này để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả.

2.2. Sự thiếu hụt thông tin và giám sát

Việc thiếu thông tin về quyền con người và các chính sách bảo vệ quyền lợi của công dân đang làm giảm hiệu quả giám sát của Quốc hội. Cần có các biện pháp tăng cường thông tin và giáo dục về quyền con người cho người dân.

III. Phương pháp nâng cao vai trò của Quốc hội trong bảo vệ quyền con người

Để nâng cao vai trò của Quốc hội trong việc bảo vệ quyền con người, cần có các phương pháp cụ thể và hiệu quả. Điều này bao gồm việc cải thiện quy trình lập pháp, tăng cường giám sát và xây dựng cơ quan chuyên trách về quyền con người.

3.1. Cải thiện quy trình lập pháp

Quốc hội cần cải thiện quy trình lập pháp để đảm bảo rằng các luật liên quan đến quyền con người được thông qua nhanh chóng và hiệu quả. Điều này bao gồm việc lắng nghe ý kiến của người dân và các tổ chức xã hội.

3.2. Tăng cường giám sát hoạt động của Nhà nước

Quốc hội cần tăng cường hoạt động giám sát đối với các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các chính sách bảo vệ quyền con người. Việc này sẽ giúp phát hiện và khắc phục kịp thời các vi phạm.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về quyền con người

Các nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn về quyền con người đã chỉ ra rằng việc bảo vệ quyền con người không chỉ là trách nhiệm của Quốc hội mà còn là của toàn xã hội. Các kết quả nghiên cứu cho thấy sự cần thiết phải có một cơ chế giám sát hiệu quả và các chính sách cụ thể để bảo vệ quyền lợi của công dân.

4.1. Kinh nghiệm quốc tế trong bảo vệ quyền con người

Nhiều quốc gia đã áp dụng các mô hình giám sát và bảo vệ quyền con người hiệu quả. Quốc hội Việt Nam có thể học hỏi từ những kinh nghiệm này để cải thiện hoạt động của mình.

4.2. Kết quả thực hiện quyền con người tại Việt Nam

Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong việc bảo vệ quyền con người, nhưng vẫn cần tiếp tục nỗ lực để cải thiện hơn nữa. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng việc nâng cao nhận thức về quyền con người trong xã hội là rất quan trọng.

V. Kết luận và tương lai của vai trò Quốc hội trong bảo vệ quyền con người

Vai trò của Quốc hội trong việc bảo vệ quyền con người là rất quan trọng và cần thiết. Trong tương lai, Quốc hội cần tiếp tục phát huy vai trò của mình để đảm bảo rằng quyền con người được bảo vệ và thực thi một cách hiệu quả.

5.1. Tầm nhìn tương lai về quyền con người

Tương lai của quyền con người ở Việt Nam phụ thuộc vào sự nỗ lực của Quốc hội trong việc cải cách và hoàn thiện các chính sách bảo vệ quyền lợi của công dân.

5.2. Đề xuất các giải pháp cụ thể

Cần có các giải pháp cụ thể để nâng cao vai trò của Quốc hội trong việc bảo vệ quyền con người, bao gồm việc xây dựng các cơ quan chuyên trách và tăng cường sự tham gia của người dân trong quá trình lập pháp.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls vai trò của quốc hội trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người ở việt nam luận văn ts luật học 62 38 01 01

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA QUỐC HỘI TRONG VIỆC BẢO VỆ VÀ THÚC ĐẨY QUYỀN CON NGƢỜI Ở VIỆT NAM 1. Khái quát về quyền con ngƣời 1. Khái niệm và đặc điểm của quyền con người Những ý tưởng về quyền con người đã ra đời từ rất sớm cùng với sự phân chia giai cấp trong xã hội và hình thành Nhà nước. Ở Nhà nước chiếm hữu nô lệ, tư tưởng về bình đẳng, dân chủ, pháp luật hoá tư tưởng về quyền con người đã được thể hiện dù còn hạn chế, điển hình là trong Bộ luật Hamurabi.

Hay như ở xã hội phong kiến Việt Nam, tính dân tộc, nhân đạo, tiến bộ cũng được thể hiện rõ nét và xuyên suốt qua nhiều triều đại, nổi bật là Quốc triều Hình Luật của nhà Lê được ban hành dưới triều vua Lê Thánh Tông vào thế kỷ XV. Thế kỷ XVII - XVIII ở châu Âu, trường phái pháp luật tự nhiên với các đại diện như: Spinoda, Hobbes, Kant. đã mở ra một trang mới cho sự phát triển tư tưởng bảo vệ quyền cá nhân chống lại sự vi phạm từ phía quyền lực. Tư tưởng này góp phần vào thắng lợi của cách mạng tư sản lật đổ chế độ phong kiến tàn bạo, thiết lập nhà nước mà ở đó phẩm giá con người được nâng lên thành công dân của xã hội chứ không phải thần dân của vua.

Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng Quốc Hoa Kỳ năm 1776 khẳng định: "Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền được sống, quyền tự do và quyền được mưu cầu hạnh phúc" [2,tr. Những tuyên bố này đã được tái khẳng định trong Bản Tuyên ngôn Quyền công dân và Quyền con người 1789 của nước Pháp và Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Tư tưởng về quyền con người thực sự trở thành vấn đề mang tính chất toàn cầu và dần được thể chế hóa toàn diện, có tính hệ thống vào pháp luật và đời sống chính trị quốc tế bắt đầu từ cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX khi các tổ chức quốc tế lớn ra đời như: Hội Chữ thập đỏ và Trăng lưỡi liềm đỏ quốc tế (năm 1863), Hội Quốc Liên (1919), Tổ chức lao động Quốc tế (1919).

Đặc biệt, sau khi Liên Hợp Quốc ra đời năm 1945 và ban hành Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm1948 thì vấn đề quyền con người đã trở thành mục tiêu chung và căn bản của 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com toàn nhân loại, là động lực đấu tranh của tất cả nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới. Lời nói đầu của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 có nhấn mạnh: "Việc thừa nhận phẩm giá vốn có, các quyền bình đẳng và không thể tách rời của mọi thành viên trong gia đình nhân loại là cơ sở cho tự do, công bằng và hòa bình trên thế giới” [3]. Đưa ra khái niệm về quyền con người, Văn phòng Cao ủy Liên hiệp Quốc về quyền con người đã định nghĩa như sau: Những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người" [2,tr. Cách hiểu về quyền con người của các chuyên gia, cơ quan nghiên cứu ở Việt Nam cũng không hoàn toàn đồng nhất, nhưng nhìn chung, đa số đều hiểu rằng quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.

Quyền con người được tiếp cận dưới góc độ là những quyền tự nhiên, vốn có nhưng phải được pháp luật ghi nhận và bảo vệ. Quyền con người được coi là những chuẩn mực được cộng đồng Quốc tế thừa nhận và tuân thủ và được áp dụng cho tất cả mọi người trên thế giới. Quyền con người có những đặc điểm nổi bật sau: - Quyền con người có tính tự nhiên: Đó là những đặc quyền mà con người sinh ra là tự nhiên có, mang tính tự nhiên mà nổi bật là quyền được sống, được bảo vệ, được tự do phát triển. Mặc dù, những đặc quyền đó có trước, song chừng nào chưa được pháp luật công nhận thì chúng không thể được đưa ra áp dụng.

- Quyền con người có tính phổ quát: Quyền con người được hầu hết các Quốc gia trên thế giới công nhận và tuân thủ, được áp dụng bình đẳng cho mọi người, không có sự phân biệt đối xử bởi bất kỳ lý do nào về chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, thành phần xuất thân.Như vậy, quyền con người là một giá trị chung của nhân loại, là mục đích vươn tới của nhân loại. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Quyền con người có tính bất khả xâm phạm: Quyền con người là bất khả xâm phạm, không bị tước đoạt, ngoại trừ trong các tình huống cụ thể và theo đúng quy định của pháp luật quốc gia, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Ví dụ, quyền tự do có thể được hạn chế nếu một người bị kết án là phạm một tội theo quy định của pháp luật bởi một bản án có hiệu lực của tòa án có thẩm quyền. - Quyền con người không thể phân chia, tách rời: Đó là các quyền dân sự và chính trị như quyền sống, bình đẳng trước pháp luật và tự do ngôn luận; các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa, như các quyền được làm việc, an sinh xã hội và giáo dục; hoặc quyền của nhóm như quyền phát triển và tự quyết định.

Các quyền này có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, việc cải thiện một trong những quyền có thể tạo điều kiện đảm bảo tốt các quyền khác. Trái lại, việc một quyền bị xâm phạm hay tước đoạt cũng có thể ảnh hưởng xấu đến những quyền khác. Các quyền của con người thường được thể hiện và đảm bảo theo quy định của pháp luật quốc gia, các điều ước, cam kết, thỏa thuận hoặc tập quán quốc tế. Luật pháp quốc tế về quyền con người đặt ra nghĩa vụ đối với mỗi quốc gia thành viên nhằm buộc các quốc gia phải hành động theo những cách nhất định hoặc tránh một số hành vi nhất định để thúc đẩy và bảo vệ quyền con người.

- Quyền con người có tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau: Quyền con người mang tính toàn diện, chúng không tồn tại một cách độc lập, tách rời với nhau mà tồn tại trong một tổng thể có mối liên hệ mật thiết, chúng phụ thuộc, ràng buộc lẫn nhau, trong đó, việc đảm bảo toàn bộ hoặc một phần các quyền này là điều kiện để đảm bảo toàn bộ hoặc một phần các quyền khác và ngược lại. Một xã hội phát triển, đảm bảo tốt các quyền và tự do chính trị, dân sự sẽ có những tác động tích cực trực tiếp và gián tiếp đảm bảo các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội. Và ngược lại, các quyền kinh tế, văn hóa, xã hội được đảm bảo thì các quyền chính trị, dân sự sẽ được thực thi tốt. Yêu cầu bảo vệ quyền con người ở Việt Nam trong tình hình mới Với đường lối đổi mới, tập trung xây dựng và bảo vệ Tổ Quốc, đất nước ta đang từng bước vượt qua mọi khó khăn, thách thức, giành được những thành tựu đáng ghi nhận, trước sự tác động phức tạp của tình hình thế giới, khu vực.

Lĩnh vực 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com kinh tế - xã hội ngày một phát triển, chính trị ổn định, quốc phòng - an ninh được củng cố và tăng cường; đời sống của nhân dân, cán bộ, chiến sĩ không ngừng được cải thiện; uy tín, vị thế của nước ta không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế. Ngày 12/11/2013, với tỷ lệ phiếu thuận 184/192, Việt Nam đã lần đầu tiên trở thành thành viên Hội đồng Quyền con người Liên Hợp Quốc. Ngày 28/11/2013, Hiến pháp mới đã được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 6 thông qua, thay thế cho Hiến pháp năm 1992. Đặt những quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân tại Chương II, Hiến pháp đã khẳng định tầm quan trọng của quyền con người, quyền công dân, thể hiện sự nhất quán đường lối của Đảng và Nhà nước ta trong việc công nhận, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.

Hiến pháp năm 2013 lần đầu tiên quy định quyền sống; quyền hưởng thụ các giá trị văn hóa, nghiên cứu và thụ hưởng các kết quả khoa học; quyền xác định dân tộc của mình, sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ, tự do lựa chọn ngôn ngữ giao tiếp; quyền được sống trong môi trường trong lành…Đáng chú ý trong Hiến pháp 2013 cũng đã có sự thể hiện rõ sự thống nhất giữa quyền con người và quyền công dân, quyền nào là nhóm quyền được áp dụng đối với mọi cá nhân với tư cách là quyền con người, quyền nào là nhóm quyền chỉ áp dụng đối với công dân Việt Nam với tư cách là các quyền công dân. Quyền con người cũng là quyền công dân, nhưng phải có một sự phân định rạch ròi, những thứ mà mọi người được hưởng thì đó là quyền con người; những gì công dân được hưởng thì đó là quyền công dân. Những thay đổi trên khiến cho chế định này của Hiến pháp phù hợp hơn với nội dung của các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam là thành viên, cũng như với chế định về quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp các nước dân chủ. Phần lớn những thay đổi trên nhằm khắc phục những hạn chế của các Hiến pháp trước đây về quyền con người, quyền công dân.

Hiến pháp năm 2013 về cơ bản đã tiếp thu quy định của Công ước quốc tế về quyền chính trị, dân sự; quyền kinh tế, văn hóa và Tuyên ngôn quyền con người năm 1948. Sự tiếp thu này là phù hợp với thời kỳ toàn cầu hóa, và để những quy định về quyền con người, quyền công dân trong Hiến pháp được đầy đủ hơn. Đây 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cũng là điều kiện để Việt Nam thực hiện tốt các nghĩ vụ và cam kết của một Quốc gia thành viên Hội đồng Quyền con người và thành viên Liên Hợp Quốc trong nhiệm kỳ 2014 – 2016.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Vai trò của Quốc hội trong bảo vệ quyền con người ở Việt Nam" khám phá vai trò quan trọng của Quốc hội trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người tại Việt Nam. Tác giả phân tích các chức năng của Quốc hội, từ việc lập pháp đến giám sát, nhằm đảm bảo rằng các quyền cơ bản của công dân được tôn trọng và thực thi. Bài viết cũng nêu bật những thách thức mà Quốc hội phải đối mặt trong việc bảo vệ quyền con người, đồng thời đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan này.

Để mở rộng hiểu biết về chủ đề này, bạn có thể tham khảo thêm các tài liệu liên quan như Luận văn thạc sĩ vnu ls vai trò của tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam, nơi phân tích vai trò của hệ thống tư pháp trong việc bảo vệ quyền con người. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ vnu ls pháp luật về bảo đảm quyền con người trong hoạt động xét xử hình sự ở Việt Nam hiện nay sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách thức bảo đảm quyền con người trong lĩnh vực xét xử hình sự. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ vnu ls vai trò của chính phủ trong việc bảo đảm và thúc đẩy việc thực hiện quyền con người, để thấy được sự phối hợp giữa Quốc hội và Chính phủ trong việc bảo vệ quyền con người. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề này.