Chương 1: Khái quát về Giáo hội Phật giáo Việt Nam và Ni giới Phật giáo Việt Nam Chương này đề cập đến khái niệm về Ni giới, sự hình thành Ni giới ở Việt Nam nói chung và ở Huế nói riêng, Hội Sakyadhita và vài nét về đặc điểm Ni giới Phật giáo Huế. Chương 2: Vai trò của Ni giới Huế đối với Giáo hội Chương này bàn về vai trò của Ni giới Huế trong việc xây dựng tổ chức Giáo hội (trong bộ máy hoạt động của Giáo hội, trong Tăng sai), trong việc quản lý Ni giới và nuôi dạy thế hệ Ni giới tiếp theo 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 3 : Vai trò của Ni giới Huế đối với xã hội Chương này làm sáng tỏ vai trò của Ni giới trong các hoạt động công tác xã hội, trong giáo dục, y tế, kinh tế và đời sống tinh thần của người dân. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VÀ NI GIỚI PHẬT GIÁO VIỆT NAM 1.1 Khái quát về giáo hội Phật giáo Việt Nam Từ khi Phật giáo xuất hiện ở Ấn Độ đã hình thành tổ chức giáo hội nguyên thủy với khái niệm Tam Bảo làm trụ cột, bốn chúng đệ tử thực hành và tuân theo những giáo lý mà Đức Phật đã truyền dạy. Hiện nay mỗi một quốc gia có Phật giáo, đều có những tổ chức giáo hội riêng, với những phương thức hành đạo và truyền giáo phù hợp với quốc gia và lãnh thổ mà mình tu học.
Phật giáo có hai nhánh chính là Phật giáo Nguyên thủy (Srilanka, Miến Điện, Thái Lan.) và Phật giáo Phát triển (Trung Quốc, Triều Tiên, Việt Nam. Ở Việt Nam đã tồn tại một tổ chức Giáo hội sơ khai được biết đến là trung tâm Phật giáo Luy Lâu, tồn tại vào khoảng thế kỷ II-III. Theo Việt Nam Phật giáo sử luận (Nguyễn Lang, 2014, tr21) : "Đạo Phật được truyền vào Việt Nam khoảng đầu kỷ nguyên Tây lịch. Tài liệu chắc chắn cho biết rằng vào hạ bán thế kỷ thứ hai, tại nước ta đã có một trung tâm Phật giáo phồn vinh và quan trọng rồi, nhưng có thể đạo Phật đã du nhập vào nước ta trong thế kỷ đầu của kỷ nguyên.” Khi thực dân Pháp đem quân xâm lược nước ta, cũng là lúc Pháp mang theo văn hoá, tín ngưỡng, Tôn giáo phương Tây truyền bá vào Việt Nam.
Khi đó Phật giáo đã không còn được sự ủng hộ như trước đây, bản thân Phật giáo lúc này nặng về tín ngưỡng hơn tư duy, chư Tăng Ni Phật tử ít am hiểu về giáo lý. Từ bối cảnh đó, một số Tăng Ni, Cư sĩ có tâm huyết và tinh thần đạo pháp, dân tộc đã quyết tâm chỉnh đốn lại bằng cách mở các trường Phật học tại các tỉnh thành, dịch kinh điển sang chữ quốc ngữ cho Tăng Ni, Phật tử dễ học, dễ hiểu, xây dựng các cơ sở xã hội, ra các tờ tạp chí với mục đích giúp đỡ nhau cùng học Phật và hoằng pháp, nêu cao tinh thần dân tộc, chương 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trình phổ cập văn hoá cũng được đưa vào giáo dục cho Tăng Ni. Phong trào “Chấn hưng Phật giáo” ở cả 3 miền Trung - Nam - Bắc trong những thập niên 30, 40 của thế kỷ XX đã thổi bùng lên truyền thống yêu nước và ý thức trách nhiệm đối với Dân tộc và Đạo pháp của Tăng Ni, Phật tử, nhất là sau khi Cách mạng tháng Tám thành công. Cho đến thời điểm Việt Nam được thống nhất về mặt nhà nước vào năm 1976 tại miền Bắc và miền Nam có nhiều tổ chức Phật giáo khác nhau hoạt động.
Ở miền Nam, vào ngày 31/12/1963, đại diện 11 tông phái và hội Phật giáo Bắc tông và Nam tông đã cùng nhau họp tại chùa Xá Lợi, Sài Gòn, để soạn thảo Hiến chương thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất*. Năm 1964 các hội đoàn Phật giáo miền Nam Việt Nam đã thống nhất dưới một mái nhà chung là Giáo Hội Phật Gíao Việt Nam Thống Nhất và sau 17 năm hoạt động giáo hội này đã ngưng mọi sinh hoạt vào năm 1981. Đầu năm 1980, thể theo nguyện vọng của toàn thể Tăng Ni, Cư sĩ, Phật tử, các vị Giáo phẩm đại diện cho các tổ chức hệ phái lớn của Phật giáo họp tại thành phố Hồ Chí Minh và quyết định thành lập “Ban Vận động thống nhất Phật giáo” để xúc tiến cuộc vận động trong phạm vi cả nước, bao gồm đại diện của 9 tổ chức, hệ phái: - Hội Phật giáo thống nhất Việt Nam (ở miền Bắc); - Giáo hội Phật giáo Việt Nam thống nhất (Ấn Quang); - Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước thành phố Hồ Chí Minh; - Giáo hội Phật giáo cổ truyền Việt Nam; - Giáo hội Tăng già nguyên thuỷ Việt Nam; - Hội đoàn kết sư sãi yêu nước Tây Nam bộ (Phật giáo Khmer); * Minh Nga, Phó Vụ trưởng Vụ Phật giáo, Ban Tôn giáo Chính phủ: Đôi nét về đạo Phật và GHPGVN http://btgcp.aspx/vi/News/38/0/162/0/944/Doi_net_ve_dao_Phat_va_Giao_hoi_Phat_giao_Viet_ Nam 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Giáo phái Khất sĩ Việt Nam; - Giáo hội Thiên Thai giáo quán tông; - Hội Phật học Nam Việt. Ngày 07/11/1981 Đại hội thống nhất Phật giáo đã được tổ chức tại chùa Quán Sứ, Hà Nội với sự tham dự của 168 vị Giáo phẩm, Tăng Ni, Cư sĩ đại diện cho 9 tổ chức, hệ phái nói trên để thành lập nên một tổ chức chung của Phật giáo cả nước lấy tên là "Giáo hội Phật giáo Việt Nam" (GHPGVN).
Cho đến nay gần 36 năm, cơ chế tổ chức Giáo Hội đã tự hoàn thiện và hiện có 63/63 đơn vị tỉnh/thành hội Phật giáo trong toàn quốc. Tại Lời nói đầu của Hiến chương, GHPGVN đã khẳng định: Sự thống nhất Phật giáo Việt Nam đặt trên nguyên tắc: “Thống nhất ý chí và hành động, thống nhất lãnh đạo và tổ chức, tuy nhiên, các truyền thống hệ phái và phương tiện tu hành đúng chính pháp vẫn được duy trì”, và xác định “Phương châm hoạt động của GHPGVN là: Đạo pháp - Dân tộc - Chủ nghĩa xã hội”, “GHPGVN là tổ chức Giáo hội duy nhất đại diện cho Tăng Ni, Phật tử Việt Nam trong và ngoài nước”. Hiến chương GHPGVN đã khẳng định: "Mục đích của GHPGVN là điều hoà, hợp nhất các tổ chức, hệ phái Phật giáo Việt Nam cả nước để hộ trì hoằng dương Phật pháp và tham gia xây dựng bảo vệ Tổ quốc, phục vụ dân tộc, góp phần xây dựng hoà bình, an lạc cho thế giới”* 1.2 Mấy nét về Ni giới Phật giáo Việt Nam 1.1 Khái niệm Ni giới Theo Phật học từ điển ( Đoàn Trung Còn, 2011, NXB Tổng hợp TP HCM) : Ni có nghĩa là Bà vãi, Cô vãi, người phụ nữ đã thọ giái xuất gia và * Ngày 30-1-2013, HT.Thích Trí Tịnh, Chủ tịch Hội đồng Trị sự GHPGVN đã ký Quyết định số 016/QĐ/HĐTS chính thức ban hành Hiến chương Giáo hội Phật giáo Việt Nam tu chỉnh lần thứ V tại Đại hội đại biểu Phật giáo toàn quốc lần thứ VII, sau khi đã được Thủ tướng Chính phủ phê chuẩn 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tu tại chùa am. Ni chúng , nhiều người phụ nữ xuất gia nhóm họp lại một chỗ để tu học, để làm Phật sự.
giới là một trong bốn chúng đệ tử quan trọng của Đức Phật, chỉ cho những người nữ xuất gia theo Phật giáo, cũng thuộc vào hàng Tăng bảo, thay Phật hoằng dương chánh pháp. Bao gồm: Tỳ Khưu, Tỳ Khưu Ni, Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di. Tỳ-khưu: chỉ cho người nam xuất gia.Tỳ- khưu là dịch âm của chữ Phạn Bhikkhu (sanscrik là Bhiksu) ý nghĩa chủ yếu là khất sĩ. Khất sĩ có nghĩa trên thì theo Như Lai khất cầu Phật pháp để dưỡng dục huệ mạng của pháp thân, dưới thì hướng về thế gian xin cầu cơm áo để nuôi sống sinh mạng của mình, của pháp thân vì thế gọi là khất sĩ.
Tỳ-khưu-ni : là dịch âm của Phạn văn Bhiksuni. Tỳ-khưu-ni có nghĩa là nữ Tỳ khưu hoặc nữ khất sĩ. Ni giới ở đây chỉ cho người nữ xuất gia gồm nữ tập sự, Sa-di-ni, Thức-xoa-ma-na và Tỳ-khưu-ni. Ưu-bà-tắc và Ưu-bà-di ( Cận sự nam và Cận sự nữ) : “Người sống đời sống gia đình không phải là vị tu sĩ của Giáo hội, gọi là người tại gia (gahaṭṭha) hay cư sĩ (Gihi)”.
Ngoài việc thực hành giáo pháp với cương vị là người tại gia, họ còn là người hộ trì đắc lực của Tăng đoàn, cúng dường tứ sự là ăn, mặc, chỗ ở và thuốc men cho Tăng chúng.2 Sự hình thành Ni giới Ấn Độ được xem là một trong những nền văn minh lớn của nhân loại, với những thành tựu mang đậm nét Tôn giáo, là nơi nguồn cội chính thống ủa các tôn giáo lớn như Ấn Độ giáo, Phật giáo, đạo Jaina và đạo Sikh. Dù là một quốc gia có nền văn minh lớn và sớm, nhưng với những thành tựu đó cũng không làm Ấn Độ thoát khỏi cái khung nói chung của các quốc gia phương Đông, một mô-típ của cư dân nông nghiệp - địa vị và vai trò của người phụ nữ vẫn luôn đứng sau người đàn ông. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phật giáo với khẳng định : “ Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” [ 30;tr 201] đã có một cái nhìn chung về nhân sinh cũng như khả năng của mỗi con người. Nhìn lại lịch sử Ấn Độ hơn 2500 về trước, khi mà giai cấp được phân định rất rõ trong xã hội, phụ nữ yếu thế trong mọi lĩnh vực, đặc biệt là về các nghi lễ và nghi thức đọc tụng Tôn giáo, người nữ càng không được quyền chạm đến.
Tôn giáo cổ của Ấn Độ cho rằng phụ nữ không có khả năng giác ngộ, và Ấn Độ giáo coi phụ nữ là thấp hèn, ô uế… Từ khi Phật giáo xuất hiện thì phụ nữ đã bước lên một nấc thang mới theo tinh thần “ai cũng được quyền để hạnh phúc”, với sự kiện nổi bật là việc thành lập Ni đoàn Phật giáo, phụ nữ đã được đặt chân vào ngôi nhà Tôn giáo, mà ở đây chính là Phật giáo, cũng tham gia vào tổ chức Giáo hội, là một phần quan trọng của Tăng đoàn. Đến nay vẫn còn nhiều tranh luận về sự thành lập Ni đoàn Phật giáo và ai là Tỳ- khưu-ni đầu tiên, nhưng nhìn chung, mọi người đã ngấm ngầm chấp nhận thời gian thành lập Ni đoàn là lúc Đức Phật chấp nhận sự xuất gia của Di mẫu Mahaprajapati* và 500 phụ nữ trong dòng họ Thích xuất gia, sự kiện này đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng - giải phóng nữ giới. Với sự chấp thuận của Đức Phật, Tăng đoàn Tỳ-khưu-ni được thành lập khoảng 5 năm sau khi Phật thành đạo.