PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Ngày nay, sự phát triển của nền kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã tạo nên những thay đổi tích cực trong đời sống kinh tế- xã hội. Bên cạnh những thành tựu về kinh tế, chính trị, xã hội,…lĩnh vực y tế cũng được quan tâm phát triển, trong đó có vấn đề về SKTT. Sức khỏe thể chất và SKTT là hai khía cạnh không thể tách rời, trong đó SKTT đóng một vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống trong một xã hội phát triển.
Tuy nhiên, những gánh nặng gây ra bởi các vấn đề về SKTT đối với xã hội rất lớn. Theo WHO (2020), có gần 1 tỷ người sống chung với chứng rối loạn tâm thần, hằng năm có gần 3 triệu người chết do lạm dụng chất kích thích và cứ sau 40 giây lại có một người chết do tự sát. Trong năm 2014, Bệnh viện Tâm thần Trung ương 1 đã công bố tỷ lệ mắc 10 chứng rối loạn tâm thần phổ biến là 14,2%, riêng rối loạn trầm cảm chiếm 2,45%. Tỷ lệ tự sát trong năm 2015 là 5,87 trên 100.
Hiện nay, các cơ sở điều trị cho bệnh nhân tâm thần đã triển khai nhiều mô hình cung cấp dịch vụ nhằm hỗ trợ giải quyết các vấn đề liên quan đến SKTT. Bộ Y tế ban hành Thông tư số 43/TT-BYT ngày 26 tháng 11 năm 2015 quy định về nhiệm vụ và hình thức thực hiện nhiệm vụ CTXH của bệnh viện là cơ sở pháp lý cho nghề CTXH phát triển trong ngành y tế trong thời gian tới. Bên cạnh đó, đề án 1215 của Chính phủ về “Trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011-2020” đã cho thấy sự quan tâm của nhà nước về lĩnh vực SKTT trong việc mang lại những hiệu quả tích cực trong việc hỗ trợ bệnh nhân tâm thần. Người tâm thần có rất nhiều nhu cầu cần được hỗ trợ nhưng thực tế các chính sách hỗ trợ là chủ yếu là trợ giúp xã hội trực tiếp bằng nguồn lực tài chính đối với người tâm thần có hoàn cảnh khó khăn.
Vì vậy, các hoạt động vẫn chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu của người tâm thần. Tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Bến Tre, hoạt động CTXH còn rất mới mẻ cả trong nhận thức cũng như trong hoạt động thực tiễn. Bệnh viện đã thành lập tổ CTXH với sự tham gia của các bác sĩ và điều dưỡng ở vị trí kiêm nhiệm nên vẫn chưa triển khai 1 được hết các vai trò NVCTXH trong trợ giúp người tâm thần. Từ những khó khăn trên, vai trò của NVCTXH đối với người tâm thần chưa được quan tâm, đánh giá và phát huy một cách có hiệu quả, trong đó phải kể đến vai trò tham vấn của NVCTXH.
Phát huy được vai trò tham vấn của NVCTXH sẽ đáp ứng được rất nhiều nhu cầu của người bệnh, giúp ích trong việc điều trị và hỗ trợ các vấn đề tâm lý xã hội cho bệnh nhân. Đã có nhiều công trình nghiên cứu đánh giá cao về vai trò tham vấn của NVCTXH trong việc hỗ trợ bệnh nhân tâm thần như: vai trò của NVCTXH là người tham vấn, đánh giá và can thiệp cho bệnh nhân với hình thức phỏng vấn tạo động lực, kích hoạt hành vi (Mann CC và cộng sự, 2016); nghiên cứu đánh giá thực trạng vai trò của NVCTXH và đề xuất thúc đẩy vai trò hỗ trợ tâm lý bằng các hình thức tham vấn tâm lý cá nhân và gia đình (Nguyễn Thị Nguyệt, 2016). Các nghiên cứu về phát triển các dịch vụ CTXH như tư vấn, tham vấn dành cho người tâm thần (Nguyễn Hải Hữu, 2011); dịch vụ chăm sóc SKTT cộng đồng như phòng ngừa, giáo dục và tham vấn về vấn đề SKTT (Harris MR, 1966). Đây chỉ là những nghiên cứu đổi mới lĩnh vực chăm sóc SKTT theo hướng phát triển các dịch vụ xã hội, trong đó nhấn mạnh về vai trò tham vấn để hỗ trợ bệnh nhân tâm thần.
Tuy nhiên, chưa có những nghiên cứu đề xuất một mô hình dịch vụ tham vấn cụ thể nhằm phát triển hệ thống dịch vụ CTXH trong lĩnh vực SKTT, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện nâng cao chất lượng của dịch vụ CTXH trong bệnh viện. Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài “Vai trò của NVCTXH trong việc tham vấn cho bệnh nhân tâm thần tại Bệnh viện Tâm thần tỉnh Bến Tre” làm nghiên cứu luận văn tốt nghiệp của mình và phù hợp với nhu cầu thực tế hiện nay. Tổng quan vấn đề nghiên cứu Các nghiên cứu về CTXH trong lĩnh vực sức khoẻ tâm thần là một chủ đề được các nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam quan tâm. Các nghiên cứu tập trung vào một số chủ đề như tỷ lệ dịch tể và các yếu tố liên quan của RLTT, những nhu cầu hỗ trợ và các nghiên cứu về vai trò của NVCTXH trong việc tham vấn đối với bệnh nhân tâm thần.
Trong phạm vi của nghiên cứu, tôi xin tổng quan một số công trình nghiên cứu, bài báo, tạp chí khoa học tiêu biểu liên quan đến đề tài. Những nghiên cứu trên thế giới 2.1 Những nghiên cứu về rối loạn tâm thần Để nghiên cứu tổng quan về chủ đề rối loạn tâm thần trên thế giới và làm bằng chứng cho nghiên cứu về bệnh nhân tâm thần ở Bến Tre, tôi sẽ tập trung vào nghiên cứu tỷ lệ dịch tể của nhóm đối tượng này. Nghiên cứu về độ tuổi khởi phát của các rối loạn tâm thần nói chung cho thấy rằng tuổi khởi phát đầu tiên của rối loạn tâm thần thường xảy ra ở thời thơ ấu hoặc thanh thiếu niên (Kessler RC, 2007). Một cuộc điều tra tại Bangkok của tác giả Thavichachart (2001) về bệnh tâm thần phân liệt cho thấy tỷ lệ mắc bệnh này là 1,3%.
Cũng trong nghiên cứu này đã nêu lên về tỷ lệ mắc phải của các nhóm bệnh khác như: trầm cảm: 19,9%, rối loạn lo âu: 10,2%, chậm phát triển tâm thần: 1,8%, động kinh:1,3%, lạm dụng rượu: 18,4%, rối loạn do nghiện các chất: 11,2%. Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO, 2004) tỷ lệ chắc chắn bị rối nhiễu tâm trí lên tới 26,4% (đi từ 24,7% đến 80% với khoảng tin cậy 95%). Còn trong năm 2005, Tổ chức Y tế thế giới cũng nhận định tỷ lệ bị rối nhiễu tâm trí là phổ biến trên thế giới, chỉ tính riêng ở trẻ em, tỷ lệ bị rối nhiễu tâm trí ở các nước phát triển là 15% đến 22% và ở các nước đang phát triển là 13% đến 20% (WHO, 2005). Theo Whiteford HA và cộng sự (2010), rối loạn tâm thần chiếm tỷ lệ lớn nhất là 56,7%, tiếp theo là rối loạn thần kinh chiếm 28,6% và rối loạn sử dụng chất gây nghiệm chiếm 14,7%.
Một cuộc điều tra tại Nam Phi cho thấy các rối loạn phổ biến nhất là mất trí nhớ (4,8%), rối loạn trầm cảm nặng (4,9%) và lạm dụng hoặc lệ thuộc rượu (4,5%) (Williams DR và cộng sự, 2008). Nghiên cứu của Kessler RC (2005) ước tính tỷ lệ mắc các rối loạn 3 lo âu là 28,8%, rối loạn trầm cảm: 20,8%, rối loạn kiểm soát xung động: 24,8%, rối loạn sử dụng chất gây nghiện: 14,6% và bất kỳ các rối loạn khác là 46,4%. Bên cạnh tỷ lệ dịch tể, nghiên cứu cũng tìm ra những yếu tố liên quan đến rối loạn tâm thần như nghiên cứu của Coulibaly SP và cộng sự (2022) cho thấy những người nhập viện vì rối loạn tâm thần từ năm 2014 đến 2018 chủ yếu là nam thanh niên có tiền sử rối loạn tâm thần. Theo các nghiên cứu trước đây, phụ nữ phương Tây dễ gặp các vấn đề đau khổ về tâm lý, trầm cảm và lo lắng hơn nam giới (Suvisaari J và cs, 2009).
Nguy cơ mắc rối loạn tâm thần như trầm cảm và các rối loạn lo âu ở nữ giới cao hơn nam giới. Nghiên cứu của Rega A và cộng sự (2022) cho rằng có sự khác biệt về giới tính và tuổi tác của các vấn đề đau khổ tâm lý, trong đó nữ giới và thanh thiếu niên sẽ gặp những nguy cơ cao mắc các rối loạn tâm thần. Một nghiên cứu về yếu tố liên quan khác cho thấy các bậc cha mẹ có trình độ học vấn cao sẽ gặp những xung đột giữa công việc và gia đình, vì vậy sẽ gia tăng những nguy cơ đau khổ về tâm lý hơn những người trình độ học vấn thấp (Marchand A và cs, 2005). Về yếu tố kinh tế, nghiên cứu của tác giả August Hollingshead và Frederick Redlich (2007) đã đưa ra kết luận rằng tỷ lệ bệnh tâm thần ở người thuộc các tầng lớp kinh tế xã hội thấp sẽ cao hơn những người có điều kiện kinh tế xã hội cao.
Theo Pulkki-Råback L và cộng sự (2012) cho rằng những người độc thân có nguy cơ gặp các vấn đề về SKTT cao hơn. Ở một nghiên cứu khác cũng cho rằng sự cô đơn là một yếu tố nguy cơ đáng kể của bệnh trầm cảm (Erzen E và cs, 2018). Sau khi tổng quan lại phần nghiên cứu này, nhận thấy chủ đề về rối loạn tâm thần xoay quanh 2 chủ đề chính là tỷ lệ dịch tể và những yếu tố liên quan của các RLTT. Về tỷ lệ dịch tể tập trung vào những nghiên cứu về độ tuổi khởi phát cho thấy các rối loạn tâm thần có độ tuổi khởi phát rất sớm.
Bên cạnh đó, nhiều công trình nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ mắc các RLTT tại cộng đồng có xu hướng ngày càng cao trên thế giới và có sự khác biệt về các yếu tố liên quan đến RLTT ở mỗi quốc gia như: giới tính, trình độ học vấn, tình trạng hôn nhân, kinh tế. Những nghiên cứu về những nhu cầu hỗ trợ của bệnh nhân tâm thần 2. Nhu cầu điều trị 4 Trong nghiên cứu này, tôi sẽ phân tích những nhu cầu được điều trị của bệnh nhân tâm thần, trong đó nhận thấy có 3 nhóm nhu cầu điều trị bao gồm: điều trị bằng thuốc, điều trị bằng liệu pháp tâm lý và điều trị bằng các phương pháp của CTXH. Các nghiên cứu tập trung vào điều trị tại cộng đồng, bệnh viện và các phòng khám.
Nhóm nghiên cứu thứ nhất tập trung vào điều trị bằng thuốc cho thấy bệnh nhân tâm thần phân liệt có nhu cầu được điều trị bằng thuốc và khoảng 20%, bệnh nhân giảm hẳn các triệu chứng khi dùng thuốc (Flyckt, 2008). Nghiên cứu của Topor (2001) đưa ra kết quả khoảng 60 -70% bệnh nhân tâm thần phân liệt thuyên giảm một chút khi sử dụng thuốc nhưng vẫn còn các triệu chứng còn lại trong suốt cuộc đời.