phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu gồm 3 chương, 8 tiết. 6 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. Những công trình nghiên cứu ngoài nƣớc về xung đột xã hội và vai trò của nhà nƣớc trong việc giải quyết xung đột xã hội Lý thuyết xung đột xã hội mặc dù với tư cách là một lý thuyết xã hội học thịnh hành vào những năm 50 của thế kỷ XX, nhưng thực ra, ở những mức độ khác nhau, một số nội dung cụ thể của lý thuyết này đã được manh nha từ thời kỳ cổ đại trong các lý thuyết triết học và các lý thuyết chính trị - xã hội nói chung ở cả phương Đông và phương Tây. Quan điểm của các nhà tư tưởng phương Đông Trong triết học phương Đông, những tư tưởng về chính trị xã hội nói chung và về XĐXH nói riêng được phản ánh chủ yếu trong triết học Trung Quốc cổ - trung đại.
Tư tưởng triết học của Trung quốc cổ đại phát triển nhất vào thời kỳ Xuân Thu Chiến quốc. Đây là thời kỳ tan rã của chế độ chiếm hữu nô lệ và hình thành chế độ phong kiến. Vì vậy, việc tranh giành, cướp bóc, chiếm đoạt, thôn tính lẫn nhau đã trở thành phổ biến. Trật tự, kỷ cương của xã hội bị đảo lộn.
Xung đột xã hội xảy ra liên miên gây nên tình trạng: “Đánh nhau tranh thành, giết người thây chết đầy thành, đánh nhau giành đất, giết người thây chất đầy đồng” [13]. Các trường phái triết học tiêu biểu của Trung Quốc thời kỳ này là Nho giáo, Lão giáo, Mặc gia, Pháp gia … Những nét chung của các trường phái triết học này là đều nhìn thấy những tác động tiêu cực của xung đột xã hội đến cuộc sống hàng ngày của người dân. Mặc dù tư tưởng của họ còn chứa nhiều yếu tố duy tâm, nhưng họ đã nhận thấy xung đột xã hội chủ yếu là sản phẩm của xã hội, nhất là của nền chính trị quốc gia. Các nhà tư tưởng nổi tiếng như Khổng Tử, Mạnh Tử, Tuân Tử đều xem sự rối loạn của xã hội là do tầng lớp vua chúa, quan lại không làm tròn trách nhiệm và bổn phận của mình.
Họ đưa ra những phương thức khác nhau để khắc phục 7 tình trạng này. Những phương thức này, tùy thuộc vào quan điểm của từng nhà triết học về nguồn gốc tạo ra xung đột. Nho giáo, do quan niệm nguyên nhân của XĐXH là do sự suy đồi của đạo đức nên Khổng Tử đã đưa ra học thuyết “Nhân lễ” và thuyết “Chính danh” để giáo dục lòng thương yêu và trách nhiệm, bổn phận xã hội của con người. Cả hai học thuyết đó đều xác định rõ mục tiêu giáo hóa con người trong đó có những nhà cầm quyền trong xã hội.
Để thực hiện được sự giáo hóa này, Khổng Tử yêu cầu các bậc vương giả cũng phải “đạt được nhân đạo và thiên đạo” [13, tr. Đồng thời, ông cũng xác định rõ: “Nhà cầm quyền cần ba điều, lương thực dồi dào, binh lực mạnh mẽ và được lòng tin của dân” [13, tr. Đặc biệt ông kêu gọi các bậc đế vương phải biết lấy đạo đức để giáo hóa dân, làm gương sáng cho dân. Những quan niệm này tuy mang tính duy tâm nhưng vẫn có giá trị cho đến ngày nay.
Cùng thời với Khổng Tử là Lão Tử, người sáng lập đạo giáo. Lão Tử lên án sự áp bức, bóc lột của giai cấp địa chủ, phong kiến và ông cũng phản đối việc dùng bạo lực để trấn áp hay dập tắt các cuộc đấu tranh của nhân dân. Để ổn định xã hội, theo ông giai cấp thống trị phải tuân thủ các quy luật của tự nhiên. Điều này cũng có thể hiểu là phải tuân theo các quy luật khách quan không được áp đặt ý muốn chủ quan của mình vào xã hội.
Khác với tư tưởng đề cao giáo dục, trường phái Pháp gia mà Hàn Phi Tử (280-233) là một đại biểu điển hình, chủ trương phải sử dụng pháp luật, lấy pháp luật làm công cụ, một phương tiện cơ bản để thống trị xã hội. Hàn Phi Tử đã kế thừa, phát triển lý luận về “tính ác” của Tuân Tử và cho rằng “ích kỷ” là bản tính của con người. Từ đó, Hàn Phi Tử đã nêu lên một luận điểm quan trọng: “Lợi ích vật chất là cơ sở của tất cả các quan hệ xã hội và hành vi con người” [13, tr. Từ đó Hàn Phi Tử thấy cần thiết phải sử dụng pháp luật, nội dung chủ yếu của pháp luật đó là “thưởng” và “phạt”.
Ông xem đó là “hai đòn bẩy giúp nhà vua để giữ chính quyền [13, tr. Tuy nhiên, việc đề cao quá mức vai trò của pháp luật cũng là một hạn chế. 8 Như vậy, triết học Trung Quốc cổ - trung đại không đề cập trực tiếp đến các nội dung cụ thể của lý thuyết XĐXH nhưng những phân tích đánh giá và những phương thức để ngăn chặn, xử lý các trường hợp bất ổn trong xã hội là những điều cần được tiếp thu một cách có chọn lọc trong quá trình giải quyết XĐXH hiện nay. Quan điểm của các nhà tư tưởng Phương Tây Thời cổ đại Các nhà triết học phương Tây, trước hết phải nói đến tư tưởng của các nhà triết học Hy Lạp cổ đại.
Một trong những nhân vật nổi tiếng của thời kỳ này là Platon (khoảng 427 - 437 TCN), người được xem là thiên tài trên nhiều lĩnh vực. Platon có 3 tác phẩm lớn đó là: “Chính trị”, “Cộng hòa” và “Quy luật”. Ở thời kỳ này, nhà nước Aten là một nhà nước điển hình của Hy Lạp cổ đại. Nền dân chủ Aten mang tính cạnh tranh cao.
Con người chính trị của quốc gia này luôn chứa đựng những mâu thuẫn bên trong. Vì vậy các cuộc đấu tranh chính trị thường mang nặng dấu ấn của các xung đột cá nhân (PGS,TS Nguyễn Văn Vĩnh, chủ biên, Aristotle và Hàn Phi Tử con người chính trị và thể chế chính trị, Nxb Lý luận chính trị, 2007, tr. Trong thời kỳ tồn tại của mình, Aten đã chinh phục được nhiều quốc gia khác và chiếm được nhiều của cải cho các tầng lớp dân cư khác nhau. Nhưng sự ổn định xã hội không duy trì được lâu dài.
Một nền chính trị của những tham vọng đã dẫn tới sự bất ổn định xã hội triền miên và trong tình hình đó có thể vai trò của một bạo chúa lại được nhiều người lựa chọn. Tuy nhiên, theo Platon, phẩm chất hàng đầu của con người phải là trí tuệ. Ông xác định chính trị thực chất là cai trị. Nguyên tắc tối cao của một tổ chức chính quyền chính là sự thống trị, sự chuyên chế trong đó tất cả các cá nhân đều phải phục tùng một quyền uy, nên chính trị cũng là sự thống trị của trí tuệ tối cao.
Nhưng một xã hội không thể tránh khỏi sự suy đồi do những nguyên nhân tâm lý và điều đó đã gây nên sự hỗn loạn trong xã hội. Những khuyết tật của xã hội hiện hành là 9 do các kiểu nhà nước đã và đang tồn tại đều có tính tiêu cực. Ở các nhà nước này, những sự đồng thuận và nhất trí đã được thay bằng sự bất hòa, bạo lực và cưỡng bức. Sự phân phối nghĩa vụ một cách công bằng đã được thay bằng sự tham vọng quyền lực.
Khát vọng vươn tới những mục tiêu cao nhất và chân chính nhất đã được thay bằng những mục tiêu thấp hèn, thói hám lợi, bon chen và đua tranh tiền bạc. Những quan niệm đúng mực về lợi ích và nhu cầu vật chất đã được thay bằng thói tham lam cùng với những mâu thuẫn giữa giàu và nghèo. Từ đó, trong mỗi nhà nước hầu như đều có sự phân đôi thành hai nhà nước thù địch nhau. Đó là nhà nước của những người nghèo và nhà nước của những người giàu.
Dưới con mắt của ông mọi sự xấu xa, thối nát của xã hội đều từ nhà nước ấy mà ra. Từ đó, ông mong có được những nhà nước lý tưởng. Nhà nước ấy phải do những nhà triết học, nhà thông thái, luôn luôn hướng tới trật tự phúc lợi tối cao, tới sự thật và công lý, đảm nhận được vai trò lãnh đạo, trị vì xã hội. Các tầng lớp xã hội khác đều làm việc theo những bản tính vốn có của mình mà ông gọi là những người có linh hồn mang tính đặc thù.
Mỗi tầng lớp xã hội đều có những chức năng xác định và đảm bảo những phần việc cụ thể của xã hội. Như vậy, Platon đã thấy vai trò quan trọng, thậm chí có ý nghĩa quyết định của nhà nước với việc giữ gìn trật tự, kỷ cương của một xã hội, trong đó vai trò của những thành viên trong bộ máy nhà nước là quan trọng nhất. Nhân vật thứ hai phải kể đến ở đây là Arixtốt (384 - 322 TCN). Arixtốt cũng là một nhà triết học, một nhà bác học có đầu óc bách khoa.
Ông đã nhìn rõ sự bất công của xã hội đương thời và đặc biệt chú ý đến vai trò nhà nước trong việc quản lý xã hội. Theo Arixtốt, trong thời kỳ Hy Lạp cổ đại, quyền công dân chỉ được dành cho các tầng lớp thượng đẳng còn tầng lớp nô lệ và nông dân, do đời sống nghèo khổ, bị buộc phải lao động và bị lệ thuộc. Vì vậy, chỉ có các tầng lớp thượng đẳng là được hưởng cuộc sống thư nhàn và có thể hoạt động nghiên cứu chính trị, khoa học, triết học… Họ mới có cơ hội để 10 được hạnh phúc. Mục tiêu cơ bản của nhà nước là tạo điều kiện cho mỗi công dân (thượng đẳng) được hưởng một cuộc sống thư nhàn, có cơ hội nhận thức được giá trị tối thượng của con người, được hưởng các giá trị văn hóa, nghệ thuật, tôn giáo, chính trị, khoa học và trên tất cả là triết học.
Theo Arixtốt, có hai hình thức của thể chế nhà nước là dân chủ và quả đầu. Nhưng nền chính trị quả đầu thường dễ dẫn đến những thay đổi mang tính cách mạng. Nguồn gốc của cách mạng, được ông lý giải chịu ảnh hưởng của 3 yếu tố: Tình cảm cách mạng; động cơ cách mạng; những xáo trộn và bất đồng. Arixtốt còn phân tích trạng thái tinh thần dẫn tới các cuộc cách mạng.
Đó là tình trạng mọi người trong xã hội đều có mong muốn được thực sự bình đẳng về địa vị xã hội căn cứ vào việc họ tự đánh giá bản thân mình và cảm thấy địa vị của mình không tương xứng so với những người khác. Sự nổi loạn, theo Arixtốt cũng có thể xảy ra do thái độ coi thường, khinh rẻ đối với những người không có quyền lực hoặc nghèo khó.