Tổng quan nghiên cứu

Thị trường khởi nghiệp đổi mới sáng tạo toàn cầu đang chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ, đóng vai trò đòn bẩy cho tăng trưởng kinh tế. Tại Mỹ, các doanh nghiệp dưới 5 năm tuổi tạo ra gần như toàn bộ số lượng việc làm mới trong khu vực tư nhân suốt 25 năm qua. Tại Việt Nam, làn sóng khởi nghiệp phát triển nhanh chóng với hơn 1.500 doanh nghiệp khởi nghiệp vào năm 2016. Trước thực tế đó, Chính phủ đã ban hành hàng loạt chủ trương quan trọng như Nghị quyết 35/NQ-CP năm 2016 và Quyết định 844/QĐ-TTg năm 2016 nhằm phê duyệt Đề án hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo quốc gia đến năm 2020. Tuy nhiên, các nhà hoạch định chính sách vẫn gặp nhiều lúng túng trong việc lựa chọn mô hình can thiệp vào thị trường đầu tư mạo hiểm.

Vấn đề nghiên cứu cốt lõi của luận văn tập trung vào việc giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu thúc đẩy vốn mạo hiểm và rủi ro thất thoát ngân sách khi Nhà nước can thiệp trực tiếp. Mục tiêu cụ thể của đề tài là phân tích các bài học thành công và thất bại từ kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng chính sách tại Việt Nam, từ đó xác định phương thức can thiệp tối ưu của khu vực công. Phạm vi nghiên cứu bao quát quá trình phát triển của hoạt động đầu tư mạo hiểm từ năm 1991 đến năm 2017 tại Việt Nam và các quốc gia tiêu biểu như Mỹ, Israel, Đức, Úc, Pháp, Thụy Điển, Malaysia. Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc khi cung cấp luận cứ khoa học giúp tối ưu hóa hệ số đòn bẩy tài chính công, hướng tới tỷ lệ thu hút 3 đến 4,5 USD vốn tư nhân trên mỗi 1 USD vốn mồi ngân sách, đồng thời hạn chế tối đa nguy cơ lãng phí nguồn lực quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên ba trụ cột lý thuyết kinh tế học công hiện đại:

Thứ nhất, Lý thuyết Thất bại thị trường và Ngoại tác tích cực (Market Failure and Positive Externalities). Hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D) của các doanh nghiệp khởi nghiệp tạo ra giá trị lan tỏa tri thức rất lớn. Nghiên cứu của Josh Lerner năm 2009 chỉ ra rằng khi một doanh nghiệp thu được 10% lợi nhuận từ hoạt động đổi mới sáng tạo thì xã hội có thể thụ hưởng từ 15% đến 20% lợi ích ngoại tác. Do đó, sự can thiệp của Nhà nước là cần thiết nhằm bù đắp khoảng trống thị trường và giảm thiểu tổn thất phúc lợi xã hội.

Thứ hai, Lý thuyết Người ủy quyền - Người thừa hành (Principal-Agent Theory) và Lý thuyết Lựa chọn công "cứng" (Hard Public Choice). Khi Nhà nước giao quyền quản lý tài sản công cho một nhóm cá nhân đại diện, tình trạng bất đối xứng thông tin sẽ dẫn đến rủi ro đạo đức. Những người thừa hành có xu hướng tối đa hóa lợi ích cá nhân hoặc phục vụ các nhóm lợi ích cục bộ thay vì theo đuổi mục tiêu xã hội, dẫn đến thất bại của Nhà nước khi trực tiếp điều hành quỹ đầu tư.

Thứ ba, Lý thuyết về Chức năng tích cực của Nhà nước do Ngân hàng Thế giới (World Bank) công bố năm 1997, nhấn mạnh Nhà nước cần đóng vai trò đối tác kiến tạo, phối hợp cùng khu vực tư nhân nuôi dưỡng thị trường thay vì trực tiếp can thiệp bằng biện pháp sở hữu.

Khung phân tích gắn liền với 3 khái niệm cốt lõi: Đầu tư mạo hiểm (đầu tư cổ phần kiên nhẫn, chấp nhận rủi ro cao vào doanh nghiệp đổi mới sáng tạo chưa có lãi), Hệ sinh thái khởi nghiệp (mạng lưới tương tác giữa doanh nghiệp, trường đại học, định chế tài chính và cơ chế chính sách) và Vốn mồi đối ứng (nguồn vốn công kích hoạt dòng vốn tư nhân).

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định tính kết hợp phân tích so sánh thể chế và nghiên cứu trường hợp điển hình (case studies). Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia và các công trình nghiên cứu quốc tế trong giai đoạn 1991–2017.

Về cỡ mẫu và phương pháp chọn mẫu: Tác giả áp dụng phương pháp chọn mẫu có chủ đích (purposive sampling) với 7 quốc gia đại diện cho các mô hình can thiệp khác nhau trên thế giới và 5 nhóm quỹ đầu tư mạo hiểm tiêu biểu đang hoạt động tại Việt Nam gồm IDG Ventures, Mekong Capital, VinaCapital, Dragon Capital và FPT Ventures. Ngoài ra, nghiên cứu thực hiện phỏng vấn sâu các chuyên gia chính sách thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ cùng Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Lý do lựa chọn phương pháp này là vì chính sách đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam đang ở giai đoạn định hình thể chế, đòi hỏi phương pháp tiếp cận đa chiều, so sánh bối cảnh thực tiễn để tìm ra nguyên nhân sâu xa của các rào cản hành chính thay vì chỉ sử dụng các mô hình kinh tế lượng đơn thuần.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, can thiệp trực tiếp bằng ngân sách nhà nước có tỷ lệ thất bại rất cao do trục trặc ủy quyền tác nghiệp. Trường hợp điển hình là chương trình BITS của Chính phủ Úc năm 1999 với quy mô 158 triệu USD đã bị biến tướng thành chi phí hành chính và lương cho bộ máy quản lý. Tương tự, dự án thung lũng công nghệ Brittany của Pháp cũng thất bại do nguồn vốn bị nhóm lợi ích chi phối. Ngoại lệ duy nhất là Quỹ Yozma của Israel thành lập năm 1993 với 100% vốn nhà nước ban đầu, sau đó lập ra 10 quỹ con và nhanh chóng tư nhân hóa, giúp vốn đầu tư mạo hiểm của Israel đạt mức kỷ lục 2% GDP vào năm 2000.

Thứ hai, mô hình can thiệp gián tiếp và quỹ bán công mang lại hiệu quả đòn bẩy tài chính vượt bậc. Chương trình Ohio Third Frontier tại Mỹ quy mô 2,1 tỷ USD đã chứng minh tính ưu việt khi 1 USD hỗ trợ của chính quyền bang thu hút được 3 USD đầu tư từ khu vực tư nhân (đạt tỷ lệ đòn bẩy 300%). Tại bang Massachusetts, Quỹ Phát triển Công nghệ thành lập năm 1978 ghi nhận mức đầu tư của tư nhân bình quân gấp 4,5 lần số tiền đầu tư của Nhà nước (tỷ lệ 450%). Tại Đức, chương trình tài trợ đổi mới sáng tạo cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ đã tăng nguồn vốn từ 460 triệu Euro năm 2006 lên hơn 670 triệu Euro năm 2009, tương ứng mức tăng trưởng 45,6%.

Thứ ba, thị trường đầu tư mạo hiểm Việt Nam còn tồn tại nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng. Từ 5 quỹ đầu tư với số vốn cam kết 303 triệu USD cho 56 công ty vào năm 1995, đến nay phần lớn thị trường vẫn do các quỹ ngoại nắm giữ và chủ yếu rót vốn vào các doanh nghiệp đã trưởng thành để đảm bảo an toàn. Thời gian nắm giữ vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam kéo dài tới 10 năm, cao hơn đáng kể so với mức bình quân từ 5 đến 7 năm của các thị trường quốc tế do thị trường chứng khoán chưa thực sự là kênh thoái vốn thuận tiện.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi khiến can thiệp trực tiếp thất bại tại Việt Nam xuất phát từ sự xung đột pháp lý. Các quy định về "bảo toàn vốn nhà nước" trong Luật Ngân sách nhà nước 2015 và Luật Quản lý, sử dụng vốn nhà nước đầu tư vào sản xuất, kinh doanh tại doanh nghiệp 2014 hoàn toàn mâu thuẫn với bản chất chấp nhận rủi ro mất vốn của đầu tư mạo hiểm.

Để minh họa rõ nét các phát hiện, dữ liệu nghiên cứu có thể được hệ thống hóa qua Bảng so sánh 3 mô hình can thiệp của Nhà nước:

Tiêu chí so sánh Can thiệp trực tiếp (Quỹ công) Mô hình bán công (Đối tác công - tư) Can thiệp gián tiếp (Thể chế, ưu đãi)
Cơ chế quản lý Cơ quan nhà nước trực tiếp điều hành Tư nhân chuyên nghiệp quản lý Thị trường tự điều tiết theo luật
Rủi ro ủy quyền tác nghiệp Rất cao (Rủi ro đạo đức, tư lợi) Thấp (Có kiểm toán và giám sát độc lập) Không phát sinh rủi ro trực tiếp
Hiệu số đòn bẩy vốn tư nhân Kém (Nguy cơ chèn lấn vốn tư nhân) Đạt từ 1:3 đến 1:4,5 lần vốn nhà nước Thúc đẩy toàn diện dòng vốn thị trường
Trường hợp thực tiễn BITS (Úc - 158 triệu USD), Brittany (Pháp) Third Frontier (Mỹ - 2,1 tỷ USD), Yozma (Israel) SBIR (Mỹ), KfW / Grunderfunds (Đức)

Bên cạnh đó, các số liệu về mức độ đòn bẩy tài chính có thể được trực quan hóa qua Biểu đồ cột so sánh hiệu quả thu hút vốn tư nhân giữa các mô hình, thể hiện rõ mức vượt trội từ 300% đến 450% của các quỹ bán công so với các quỹ thuần túy sử dụng ngân sách.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu thực chứng và bài học quốc tế, luận văn đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm thúc đẩy thị trường đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam:

Thứ nhất, dừng ngay việc xây dựng các đề án thành lập quỹ đầu tư mạo hiểm 100% vốn ngân sách nhà nước. Chính phủ và Bộ Khoa học và Công nghệ cần chuyển giao hoàn toàn chức năng quản lý danh mục đầu tư sang khu vực tư nhân, tránh nguy cơ lãng phí ngân sách và các sai phạm quản lý tài sản công tương tự như bài học của Vinashin hay Vinalines. Mục tiêu là chuyển dịch 100% định hướng chính sách sang vai trò kiến tạo và hỗ trợ gián tiếp.

Thứ hai, hoàn thiện khung pháp lý đồng bộ về đầu tư mạo hiểm trong giai đoạn 2018–2022. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cùng Bộ Tư pháp cần khẩn trương ban hành các thông tư hướng dẫn chi tiết về quy chế thành lập quỹ, làm rõ cơ chế huy động và bảo hộ tài sản cho nhà đầu tư mạo hiểm. Đồng thời, cần sửa đổi các rào cản trong Luật Công nghệ cao 2008 và hoàn thiện Luật Chứng khoán để rút ngắn chu kỳ thoái vốn từ 10 năm xuống mức chuẩn 5 đến 7 năm, tăng tính thanh khoản cho thị trường.

Thứ ba, thiết lập một tổ chức điều phối bán công độc lập có thời hạn hoạt động xác định. Học tập mô hình Third Frontier của bang Ohio, Nhà nước đóng góp vốn mồi và giữ vai trò hoạch định chiến lược, nhưng trao toàn quyền xét duyệt đầu tư cho hội đồng gồm các chuyên gia tư nhân độc lập. Tổ chức này phải có cơ chế giải trình minh bạch và tự giải thể khi thị trường đạt mức trưởng thành, hướng tới mục tiêu tối thiểu 1 USD vốn mồi ngân sách thu hút được 3 USD vốn tư nhân đối ứng.

Thứ tư, tập trung nguồn lực phát triển hai trung tâm khởi nghiệp sáng tạo hạt nhân tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025. Nâng cấp hiệu quả vận hành của Quỹ Phát triển Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh (quy mô vốn 50 tỷ đồng) theo hướng tài trợ vốn mồi tối đa 2 tỷ đồng cho mỗi dự án khởi nghiệp công nghệ cao có tiềm năng thương mại hóa lớn, tạo sức lan tỏa mạnh mẽ ra các tỉnh thành lân cận.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách tại Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính. Luận văn cung cấp khung lý thuyết kinh tế học công vững chắc cùng phân tích thực chứng từ 7 quốc gia, giúp các chuyên gia thiết kế chính sách hỗ trợ khởi nghiệp chuẩn xác, ngăn ngừa các sai lầm can thiệp trực tiếp gây thất thoát ngân sách.

Thứ hai, các nhà quản lý quỹ đầu tư và chuyên gia tài chính mạo hiểm. Tài liệu cung cấp bức tranh toàn cảnh về môi trường pháp lý Việt Nam, các phương thức thoái vốn tối ưu và cơ chế hợp tác công - tư (PPP), hỗ trợ xây dựng chiến lược phân bổ vốn mạo hiểm hiệu quả.

Thứ three, giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học chuyên ngành Chính sách công, Quản lý kinh tế và Tài chính công. Công trình là nguồn tài liệu học thuật giá trị, làm sáng tỏ cách vận dụng lý thuyết người ủy quyền - người thừa hành và lý thuyết lựa chọn công vào thực tiễn phân tích thị trường tài chính công nghệ.

Thứ tư, các nhà sáng lập doanh nghiệp khởi nghiệp (Founders). Luận văn giúp các startup hiểu rõ cấu trúc vận hành của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, từ đó chủ động tiếp cận các nguồn vốn tài trợ mồi từ các chương trình hỗ trợ như Đề án 844 để mở rộng quy mô kinh doanh.

Câu hỏi thường gặp

Vì sao Nhà nước không nên trực tiếp thành lập và quản lý quỹ đầu tư mạo hiểm? Theo lý thuyết kinh tế học công, Nhà nước trực tiếp quản lý quỹ sẽ làm nảy sinh vấn đề ủy quyền tác nghiệp và rủi ro đạo đức. Cán bộ công quyền thường thiếu chuyên môn thị trường và dễ đưa ra quyết định phục vụ tư lợi, dẫn đến lãng phí ngân sách như trường hợp chương trình BITS của Úc làm thất thoát phần lớn trong 158 triệu USD tiền vốn.

Mô hình Quỹ Yozma của Israel thành công nhờ những yếu tố then chốt nào? Yozma thành công nhờ cơ chế Nhà nước chỉ bỏ 100% vốn mồi ban đầu năm 1993 để lập 10 quỹ con, bắt buộc liên kết với các định chế tài chính quốc tế giàu kinh nghiệm. Đồng thời, Israel trao quyền cho tư nhân mua lại cổ phần nhà nước với giá gốc cộng lãi suất thấp, giúp vốn mạo hiểm đạt 2% GDP năm 2000.

Chương trình Ohio Third Frontier của Mỹ đã áp dụng tỷ lệ đòn bẩy tài chính như thế nào? Chính quyền bang Ohio thành lập quỹ 2,1 tỷ USD nhưng giao toàn quyền vận hành cho hội đồng chuyên gia độc lập ngoài nhà nước. Cơ chế này đạt hiệu quả đòn bẩy ấn tượng khi mỗi 1 USD ngân sách bang bỏ ra hỗ trợ khởi nghiệp đã kéo theo 3 USD vốn đầu tư từ khu vực tư nhân.

Rào cản lớn nhất đối với thoái vốn đầu tư mạo hiểm tại Việt Nam là gì? Rào cản lớn nhất là thị trường chứng khoán hoạt động kém thanh khoản và thiếu các sàn giao dịch chuyên biệt cho doanh nghiệp công nghệ vừa và nhỏ. Điều này khiến thời gian thoái vốn tại Việt Nam bị kéo dài tới 10 năm, làm giảm mạnh sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế.

Chính sách ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp giai đoạn đầu có thực sự hiệu quả cho startup? Ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp giai đoạn đầu ít mang lại hiệu quả thực tế vì hầu hết các doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo đều không có lãi, thậm chí chịu lỗ trong những năm đầu hoạt động. Thay vào đó, chính sách trợ cấp trực tiếp cho R&D hoặc tín dụng thuế cho nhà đầu tư thiên thần mang lại tác động rõ rệt hơn.

Kết luận

Tổng kết lại, công trình nghiên cứu đã làm sáng tỏ 5 luận điểm then chốt:

  • Đầu tư mạo hiểm là mắt xích sống còn của hệ sinh thái khởi nghiệp, tạo ra giá trị ngoại tác tích cực từ 15% đến 20% cho toàn xã hội.
  • Can thiệp trực tiếp bằng quỹ công thường dẫn đến thất bại do rủi ro đạo đức và xung đột pháp lý về bảo toàn vốn nhà nước.
  • Can thiệp gián tiếp và mô hình bán công giúp tối ưu hóa nguồn lực, đem lại tỷ lệ đòn bẩy vốn tư nhân từ 300% đến 450%.
  • Thị trường Việt Nam cần giải quyết ngay nút thắt về khung pháp lý quỹ mạo hiểm và kéo giảm chu kỳ thoái vốn từ 10 năm xuống 5 đến 7 năm.
  • Thành lập tổ chức điều phối bán công độc lập, có thời hạn là giải pháp đột phá thay thế vai trò điều hành trực tiếp của Nhà nước.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là tái định vị vai trò của Nhà nước: từ người chơi trực tiếp chuyển sang chất xúc tác kiến tạo thể chế. Để hiện thực hóa các mục tiêu của Đề án 844, các cơ quan quản lý cần khẩn trương bãi bỏ tư duy bao cấp trong đầu tư công nghệ, đẩy mạnh hợp tác công - tư và hoàn thiện thị trường vốn mạo hiểm ngay từ hôm nay.