Chương 1: Những vấn đề chung về người bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự; Chương 2: Thực trạng người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam; Chương 3: Một số giải pháp nâng cao vai trò của người bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ NGƢỜI BÀO CHỮA TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ 1.1 Khái niệm và đặc điểm của ngƣời bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự 1. Khái niệm người bào chữa trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Thứ nhất, về khái niệm người bào chữa. Bào chữa theo từ điển tiếng Việt là việc một người dùng lý lẽ, chứng cứ để bênh vực cho ai đó đang bị coi là phạm pháp hoặc bị lên án [68].
Hay bào chữa là gạt bỏ lý lẽ khác để chữa tội mình hoặc chữa cho người khác [69]. Đây có thể coi là khái niệm chung nhất về thuật ngữ “bào chữa”. Tuy nhiên, “Người bào chữa” theo tố tụng hình sự Việt Nam có những đặc điểm cụ thể, chuyên biệt cần phải xem xét dưới góc độ lý luận và thực tiễn. Hiện nay trong các văn bản pháp luật của nước ta không có quy định cụ thể về khái niệm người bào chữa.
Nhưng qua nghiên cứu, có nhiều quan điểm khác nhau khi đưa ra khái niệm người bào chữa. Cụ thể là: NBC là người giúp Tòa án trong việc xác định tất cả các tình tiết cần thiết về vụ án để cuối cùng Tòa án ra một bản án có căn cứ và đúng pháp luật [24, tr. Khái niệm này chưa chỉ ra được đối tượng được bảo vệ là ai và dễ dẫn đến việc hiểu lầm rằng NBC là người tham gia tố tụng để giúp cơ quan tiến hành tố tụng. NBC là người thực hiện việc bảo vệ các quyền và lợi ích của người bị tình nghi và bị can và giúp họ về mặt pháp lý trong quá trình tố tụng đối với vụ án [63] theo quy định của pháp luật.
Khái niệm này chỉ rõ hơn đối tượng 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com được bào chữa nhưng chỉ dừng lại ở người bị tình nghi và bị can. Chúng tôi cho rằng cần phải mở rộng hơn nữa, tức là bị cáo cũng phải là đối tượng được bào chữa. NBC là người tham gia tố tụng với mục đích làm sáng tỏ những tình tiết liên quan đến sự thật của vụ án nhằm chứng minh về sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lý cần thiết [70, tr. So với khái niệm trên, khái niệm này chỉ rõ hơn đối tượng được bảo vệ là bị can, bị cáo và mục đích của việc bào chữa là làm sáng tỏ những tình tiết liên quan đến sự thật của vụ án nhằm chứng minh về sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lý cần thiết.
Tuy nhiên, đối tượng bào chữa theo quan điểm này lại quá hẹp và mới dừng lại ở hai chủ thể là bị can và bị cáo. NBC trong TTHS là người tham gia tố tụng để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ TNHS của người bị buộc tội, giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ, đồng thời thông qua đó góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa [3]. So với hai quan điểm trên thì, những người theo quan điểm này đã chỉ ra tương đối đầy đủ và khái quát hơn nhưng chưa giải thích rõ người bị buộc tội là những người nào. NBC trong TTHS là người có bằng cử nhân luật hoặc có trình độ tương đương, tham gia tố tụng theo yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ hay theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng, nhằm mục đích làm sáng tỏ những tình tiết liên quan đến sự thật của vụ án, chứng minh về sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ họ về mặt pháp lý [24, tr.
Khái niệm này cũng giống một số khái niệm trên là nêu được đối tượng bào chưa, mục đích bào chữa nhưng cụ thể hơn về điều kiện tham gia tố tụng của NBC. Tuy 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nhiên, chúng tôi cho rằng đối tượng bào chữa cũng cần phải được mở rộng hơn chứ không chỉ dừng ở người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Theo chúng tôi, người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp cũng là đối tượng được bào chữa. Những người tham gia tố tụng thuộc đối tượng được NBC tham gia với bốn tư cách tố tụng khác nhau là: người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can và bị cáo và gọi là “người bị buộc tội”.
Người bị buộc tội là người mà cơ quan tiến hành tố tụng coi là người đã thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, mà BLHS quy định là tội phạm. Những người này chưa có bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực kết tội nên họ không bị coi là có tội. Đây là nguyên tắc cơ bản, là điều được khẳng định trong Hiến pháp năm 2013, cụ thể tại khoản 1, Điều 31 Hiến pháp năm 2013 quy định Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật [45]. Họ là những người bị tình nghi phạm tội, có thể đó là những người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử trong quá trình tố tụng hình sự.
Theo pháp luật tố tụng hình sự thì những người bị tình nghi là phạm tội được xác lập địa vị pháp lý tùy theo các giai đoạn tố tụng khác nhau, qua đó có các chủ thể được định danh thành các khái niệm cụ thể. Trước nay, chưa có một khái niệm chỉ ra được người bị buộc tội mang tính pháp lý, ngay cả trong Bộ luật tố tụng hình sự 2003 với các quy định về từng người bị buộc tội khác nhau cũng nêu quy định mang tính chỉ định, liệt kê từng chủ thể mà theo luật trong từng trường hợp khác nhau với tư cách khác nhau trong hoạt động tố tụng hình sự. Người bị buộc tội trong tố tụng hình sự là người bị xác định bởi quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền với tư cách là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo theo quy định của pháp 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com luật khi có căn cứ rằng người đó đã thực hiện hành vi có dấu hiệu phạm tội, hoặc đã thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong Bộ luật hình sự. Căn cứ vào quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 56, 57) thì người bào chữa có thể là: Luật sư; người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; bào chữa viên nhân dân.
Như vậy, theo quy định của Luật thì người được quyền bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo rất đa dạng. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện chức năng bào chữa của các chủ thể nêu trên không đồng đều, thậm chí có những chủ thể không được quy định cụ thể trong các văn bản pháp lý, dẫn đến không có cơ sở để thực hiện và thực tế ít khi tham gia thực hiện chức năng bào chữa do Bộ luật tố tụng hình sự quy định. Hiện nay, khi nói đến NBC, người ta thường nghĩ ngay đến luật sư. Đúng vậy, bởi luật sư là chủ thể bào chữa chủ yếu trong các vụ án hình sự, đặc biệt là kể từ khi nhà nước xây dựng và ban bành Bộ luật tố tụng hình sự; Pháp lệnh luật sư và Luật luật sư.
Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật luật sư, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư. Người có đủ tiêu chuẩn trên đây, để được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư. Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là bố mẹ đẻ, bố mẹ nuôi, anh, chị em ruột và những người theo quy định của pháp luật đối với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần.
Người đại diện hợp pháp của người bị 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com tạm giữ, bị can, bị cáo nếu họ tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa thì họ có quyền và nghĩa vụ như đối với người bào chữa. Đối với trường hợp người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người đã thành niên, không có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần nhưng vẫn yêu cầu người đại diện hợp pháp (không phải là luật sư hoặc bào chữa viên nhân dân) làm người bào chữa cho mình. Vậy những người này có được bào chữa cho họ không? Có rất nhiều ý kiến trái chiều về điều này, tuy nhiên nếu áp dụng theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì họ vẫn có thể trở thành người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và trong thực tiễn xét xử đã có nhiều trường hợp Tòa án đã cấp giấy chứng nhận người bào chữa cho họ để thực hiện quyền bào chữa. Bào chữa viên nhân dân được hiểu là người được tổ chức, đoàn thể xã hội cử ra để bào chữa cho bị can, bị cáo.
Căn cứ vào hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao tại Nghị quyết số 03/2004/NQ-HĐTP ngày 02-10-2004 về quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật tố tụng hình sự thì một người được coi là bào chữa viên nhân dân khi người đó được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử NBC cho thành viên của tổ chức mình [56].