Luận văn thạc sĩ: Vai trò của Nghị viện Châu Âu trong tiến trình dân chủ hóa ở Liên minh Châu Âu

Luận văn thạc sĩ phân tích vai trò của Nghị viện Châu Âu trong tiến trình dân chủ hóa Liên minh Châu Âu, luật văn ThS luật 60 38 01.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ luật học

2006

115
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH VẼ

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: NGHỊ VIỆN CHÂU ÂU TRONG HỆ THỐNG THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU

1.1. Sự ra đời và phát triển của Nghị viện châu Âu

1.2. Quá trình phát triển của Nghị viện châu Âu trong hệ thống chính trị ở Liên minh châu Âu

1.3. Cơ cấu và chức năng của Nghị viện châu Âu

1.4. Nghị viện châu Âu - Sự ảnh hưởng của mô hình nghị viện ở các nước thành viên

1.5. Nghị viện châu Âu trong mối quan hệ với các thể chế chính trị ở Liên minh châu Âu

1.6. Quan hệ giữa Nghị viện châu Âu với các thể chế khác ở Liên minh châu Âu

1.7. Quan hệ giữa Nghị viện châu Âu với Nghị viện quốc gia

1.8. Quá trình dân chủ hoá ở Liên minh châu Âu và vai trò của Nghị viện châu Âu

1.8.1. Quá trình dân chủ hoá ở Liên minh châu Âu

1.8.2. Tham gia của người dân vào các quá trình xã hội ở Liên minh châu Âu

1.8.3. Thúc đẩy và bảo đảm các quyền con người – quyền công dân ở Liên minh châu Âu

1.8.4. Xây dựng và hoàn thiện các thể chế, đảm bảo cân bằng quyền lực giữa nước lớn - nhỏ ở Liên minh châu Âu

1.8.5. Vai trò của Nghị viện châu Âu trong việc thúc đẩy quá trình dân chủ ở Liên minh châu Âu

1.8.6. Nghị viện châu Âu trong việc đảm bảo tham gia của người dân các quá trình xã hội ở Liên minh châu Âu

1.8.7. Nghị viện châu Âu trong việc bảo đảm các quyền con người - quyền công dân EU

1.8.8. Nghị viện châu Âu trong việc giám sát hoạt động của các thể chế và bảo vệ nước nhỏ ở Liên minh châu Âu

1.9. Những vấn đề đặt ra và xu hướng phát triển của Nghị viện châu Âu trong tiến trình dân chủ hoá ở Liên minh châu Âu

1.9.1. Những vấn đề đặt ra cho Nghị viện châu Âu trong tiến trình dân chủ hoá ở Liên minh châu Âu

1.9.2. Nghị viện châu Âu chưa phải là cơ quan lập pháp hoàn chỉnh

1.9.3. Hạn chế của Nghị viện châu Âu trong thực hiện giám sát

1.9.4. Những hạn chế trong quan hệ giữa Nghị viện châu Âu và Nghị viện quốc gia – Nhân tố đảm bảo thực thi các giá trị chung ở Liên minh châu Âu

1.9.5. Xu hướng phát triển của Nghị viện châu Âu trong tiến trình thực hiện dân chủ hoá ở Liên minh châu Âu

1.9.5.1. Nghị viện có quyền thực hiện phân bổ số ghế ở Nghị viện cho các nước thành viên
1.9.5.2. Thực hiện nguyên tắc bầu cử thống nhất tự do, bỏ phiếu kín
1.9.5.3. Mở rộng thủ tục lập pháp cho Nghị viện châu Âu
1.9.5.4. Mở rộng chức năng giám sát ngân sách cho Nghị viện
1.9.5.5. Mở rộng vai trò của Nghị viện trong hoạt động giám sát các thể chế, thẩm quyền của Nghị viện từ “phê chuẩn” sang “bỏ phiếu” Chủ tịch Uỷ ban châu Âu
1.9.5.6. Tăng cường mối quan hệ giữa Nghị viện châu Âu và Nghị viện quốc gia

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về vai trò của Nghị viện Châu Âu trong dân chủ hóa EU

Nghị viện Châu Âu (EP) đóng vai trò quan trọng trong tiến trình dân chủ hóa của Liên minh Châu Âu (EU). Với tư cách là cơ quan đại diện cho công dân EU, Nghị viện không chỉ tham gia vào quá trình lập pháp mà còn giám sát các thể chế khác trong EU. Sự phát triển của Nghị viện Châu Âu từ một cơ quan có quyền hạn hạn chế đến một cơ quan có ảnh hưởng lớn trong chính sách EU là một minh chứng cho sự tiến bộ trong việc thực hiện dân chủ hóa. Nghị viện Châu Âu đã khẳng định vai trò của mình thông qua các cuộc bầu cử trực tiếp và việc mở rộng quyền hạn trong các lĩnh vực lập pháp và ngân sách.

1.1. Nghị viện Châu Âu và sự phát triển của dân chủ hóa

Nghị viện Châu Âu đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, từ khi thành lập cho đến nay. Sự ra đời của Nghị viện Châu Âu gắn liền với các hiệp ước quan trọng như Hiệp ước Rome và Hiệp ước Maastricht. Những thay đổi này đã giúp Nghị viện có được quyền lực lớn hơn trong việc tham gia vào các quyết định chính trị và lập pháp của EU.

1.2. Cơ cấu và chức năng của Nghị viện Châu Âu

Nghị viện Châu Âu có cơ cấu đa dạng với các nhóm chính trị khác nhau, đại diện cho các quan điểm và lợi ích khác nhau trong EU. Chức năng chính của Nghị viện bao gồm lập pháp, giám sát ngân sách và giám sát các thể chế khác trong EU, từ đó đảm bảo tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý.

II. Những thách thức trong tiến trình dân chủ hóa của Nghị viện Châu Âu

Mặc dù Nghị viện Châu Âu đã đạt được nhiều thành tựu trong việc thúc đẩy dân chủ hóa, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải đối mặt. Một trong những vấn đề lớn nhất là sự thiếu đồng nhất trong quy trình lập pháp giữa các quốc gia thành viên. Điều này dẫn đến việc Nghị viện không thể thực hiện đầy đủ quyền hạn của mình trong việc giám sát và quyết định các chính sách quan trọng.

2.1. Hạn chế trong quyền lực lập pháp của Nghị viện

Nghị viện Châu Âu vẫn chưa hoàn toàn trở thành một cơ quan lập pháp độc lập. Quyền lực của Nghị viện trong việc phê duyệt các quyết định của Hội đồng Bộ trưởng vẫn còn hạn chế, điều này ảnh hưởng đến khả năng thực hiện các chính sách dân chủ hóa.

2.2. Sự tham gia của công dân trong quá trình ra quyết định

Mặc dù Nghị viện Châu Âu đã có những bước tiến trong việc đảm bảo sự tham gia của công dân, nhưng tỷ lệ cử tri tham gia bầu cử vẫn còn thấp. Điều này cho thấy cần có những biện pháp hiệu quả hơn để khuyến khích công dân tham gia vào các quá trình chính trị.

III. Phương pháp thúc đẩy dân chủ hóa qua Nghị viện Châu Âu

Để nâng cao vai trò của Nghị viện Châu Âu trong tiến trình dân chủ hóa, cần có những phương pháp và giải pháp cụ thể. Việc mở rộng quyền hạn và chức năng của Nghị viện là một trong những giải pháp quan trọng. Điều này không chỉ giúp Nghị viện có thể thực hiện tốt hơn vai trò của mình mà còn tạo ra một môi trường chính trị minh bạch và hiệu quả hơn.

3.1. Mở rộng quyền hạn lập pháp của Nghị viện

Việc mở rộng quyền hạn lập pháp cho Nghị viện Châu Âu sẽ giúp cơ quan này có thể tham gia sâu hơn vào các quyết định chính trị. Điều này bao gồm việc cho phép Nghị viện có quyền phê duyệt các hiệp ước quốc tế và các chính sách quan trọng khác.

3.2. Tăng cường giám sát và trách nhiệm

Nghị viện cần tăng cường vai trò giám sát các thể chế khác trong EU, đảm bảo rằng các quyết định được đưa ra đều có sự tham gia và đồng thuận của công dân. Điều này sẽ giúp nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý.

IV. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về Nghị viện Châu Âu

Nghiên cứu về vai trò của Nghị viện Châu Âu trong tiến trình dân chủ hóa đã chỉ ra rằng Nghị viện không chỉ là một cơ quan lập pháp mà còn là một diễn đàn quan trọng cho sự tham gia của công dân. Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sự tham gia của công dân vào các quyết định chính trị có thể được cải thiện thông qua các chương trình giáo dục và nâng cao nhận thức.

4.1. Kết quả từ các cuộc bầu cử Nghị viện Châu Âu

Các cuộc bầu cử Nghị viện Châu Âu đã cho thấy sự thay đổi trong cách thức mà công dân tham gia vào chính trị. Tỷ lệ cử tri tham gia đã tăng lên trong những năm gần đây, cho thấy sự quan tâm ngày càng cao của công dân đối với các vấn đề chính trị.

4.2. Các chương trình nâng cao nhận thức về dân chủ

Nghị viện Châu Âu đã triển khai nhiều chương trình nhằm nâng cao nhận thức của công dân về vai trò của mình trong tiến trình dân chủ hóa. Những chương trình này không chỉ giúp công dân hiểu rõ hơn về quyền lợi của mình mà còn khuyến khích họ tham gia tích cực hơn vào các hoạt động chính trị.

V. Kết luận và tương lai của Nghị viện Châu Âu trong dân chủ hóa

Nghị viện Châu Âu đã có những bước tiến quan trọng trong việc thúc đẩy dân chủ hóa trong EU. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Tương lai của Nghị viện Châu Âu sẽ phụ thuộc vào khả năng của nó trong việc mở rộng quyền hạn và tăng cường sự tham gia của công dân. Việc này không chỉ giúp Nghị viện khẳng định vai trò của mình mà còn đảm bảo rằng các giá trị dân chủ được thực hiện một cách hiệu quả.

5.1. Xu hướng phát triển của Nghị viện Châu Âu

Trong tương lai, Nghị viện Châu Âu có thể sẽ tiếp tục mở rộng quyền hạn của mình, đặc biệt trong các lĩnh vực lập pháp và giám sát. Điều này sẽ giúp Nghị viện có thể thực hiện tốt hơn vai trò của mình trong việc thúc đẩy dân chủ hóa.

5.2. Tầm quan trọng của sự tham gia công dân

Sự tham gia của công dân sẽ tiếp tục là yếu tố quyết định trong tiến trình dân chủ hóa của Nghị viện Châu Âu. Các biện pháp khuyến khích công dân tham gia vào chính trị sẽ cần được triển khai để đảm bảo rằng tiếng nói của họ được lắng nghe và tôn trọng.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnu ls vai trò của nghị viện châu âu trong tiến trình dân chủ hóa ở liên minh châu âu luật văn ths luật 60 38 01

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1. Nghị viện châu Âu trong hệ thống thể chế chính trị của Liên minh châu Âu. Quá trình dân chủ hoá ở Liên minh châu Âu và vai trò của Nghị viện châu Âu. Những vấn đề đặt ra và xu hƣớng phát triển của Nghị viện châu Âu trong tiến trình dân chủ hoá ở Liên minh châu Âu.

7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NGHỊ VIỆN CHÂU ÂU TRONG HỆ THỐNG THỂ CHẾ CHÍNH TRỊ CỦA LIÊN MINH CHÂU ÂU 1. Sự ra đời và phát triển của Nghị viện châu Âu. Quá trình phát triển của Nghị viện châu Âu trong hệ thống thể chế chính trị ở Liên minh châu Âu. Nghị viện châu Âu (EP) là thể chế chính trị quan trọng của Liên minh châu Âu (EU), đƣợc công dân EU bầu cử trực tiếp 5 năm một lần.

Cùng với Hội đồng Bộ trƣởng, Uỷ ban châu Âu, Nghị viện châu Âu là một trong ba cơ quan tham gia vào quá trình lập pháp và ngân sách của Liên minh châu Âu. Để khẳng định đƣợc vị thế trong hệ thống thể chế chính trị EU, Nghị viện châu Âu đã có những bƣớc tiến không ngừng trong lịch sử hơn 50 năm tồn tại và phát triển của mình [8,19,22,31,41,44]. Tổ chức tiền thân của Nghị viện châu Âu ngày nay là Quốc hội chung (Common Assembly) ra đời dựa trên Hiệp ƣớc Cộng đồng Than và Thép Châu Âu. Quá trình phát triển của Nghị viện châu Âu có thể chia thành những giai đoạn sau: 1.

Cộng đồng than và thép Châu Âu ra đời (1951) trên cơ sở Tuyên bố Schuman vào ngày 9 tháng 5 năm 1950, với mục đích gạt bỏ những bất đồng chính trị giữa nƣớc Đức và Pháp, phục hồi kinh tế sau chiến tranh. Thể chế chính trị của Cộng đồng than và thép châu Âu gồm có các thể chế nhƣ Hội đồng Bộ trƣởng, Uỷ ban cấp cao (tiền thân của Uỷ ban châu Âu ngày nay), 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quốc hội chung và Toà án châu Âu. Trong đó, Uỷ ban cấp cao là cơ quan đƣa ra các quyết định bắt buộc đối với các nƣớc thành viên. Quốc hội chung ra đời có vai trò làm tăng tính chất dân chủ trong cơ chế ra quyết định của Cộng đồng than và thép, đặc biệt nhằm kiểm soát hoạt động Uỷ ban cấp cao.

Tuy nhiên, Quốc hội chung không trở thành một “đối trọng” với cơ quan Uỷ ban cấp cao và vai trò của Quốc hội chung trong giai đoạn này chƣa đƣợc đề cao trong Cộng đồng than thép châu Âu. Quyền giám sát đối với các thể chế khác rất mờ nhạt, chỉ có chức năng tham vấn các quyết định của Hội đồng Bộ trƣởng. Quốc hội chung không có thẩm quyền lập pháp mà chỉ có quyền phê duyệt chƣơng trình hoạt động thƣờng niên do Uỷ ban cấp cao đệ trình. Chƣơng trình thƣờng niên đƣợc thông qua với đa số phiếu tuyệt đối của 2/3 số phiếu của Nghị sỹ Quốc hội chung.

Tuy nhiên, trong giai đoạn này Quốc hội chung là cơ quan có quyền phê chuẩn các thành viên của Uỷ ban cấp cao. Theo quy định của Hiệp ƣớc Paris (1951), thành viên của Quốc hội chung đƣợc chỉ định từ Nghị sỹ Nghị viện của các nƣớc thành viên. Cơ cấu của Quốc hội chung trong giai đoạn này gồm sáu Uỷ ban và một Chủ tịch Quốc hội. Đây là giai đoạn Quốc hội chung phát triển trong bối cảnh Cộng đồng Kinh tế châu Âu ra đời.

Những nỗ lực mở rộng Cộng đồng than và thép châu Âu thành Cộng đồng Chính trị châu Âu và Cộng đồng Phòng thủ châu Âu thất bại, khiến các thành viên trong Cộng đồng phải tìm kiếm những kế hoạch liên kết mới và chuyển hƣớng đi sâu vào liên kết kinh tế. Cộng đồng Năng lƣợng nguyên tử châu Âu và Cộng đồng Kinh tế châu Âu đã ra đời trong bối cảnh đó. Năm 1957, các nhà lãnh đạo châu Âu đã quyết định thành lập một Cơ quan Nghị viện duy nhất cho cả ba Cộng đồng. Quốc hội chung giải tán và 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nghị viện châu Âu đƣợc thành lập với số Nghị sỹ nghị viện đƣợc mở rộng từ 78 lên 142 Nghị sỹ.

Nghị sỹ Nghị viện vẫn chỉ định từ Nghị sỹ Nghị viện các quốc gia. Nghị viện châu Âu họp phiên đầu tiên vào ngày 19 tháng 3 năm 1958, Chủ tịch đầu tiên của Nghị viện châu Âu là ông Robert Schuman, ngƣời đƣa ra Kế hoạch Monnet thành lập Cộng đồng than và thép châu Âu. Luật thủ tục hoạt động của Quốc hội chung vẫn đƣợc Nghị viện mới áp dụng, điều này khiến cho quá trình chuyển đổi không gây xáo trộn nhiều. Tuy nhiên, theo quy định của Hiệp ƣớc Rome (1957) Nghị viện mới có những điểm khác về cơ bản so với Quốc hội chung.

Đó là Nghị sỹ của Quốc hội chung có thể đƣợc bầu cử trực tiếp và Nghị sỹ của Nghị viện châu Âu được bầu cử trực tiếp. Khác biệt thứ hai thể hiện ở sự lớn mạnh về thẩm quyền chính trị của Nghị viện châu Âu, cụ thể là Nghị viện có thẩm quyền phê duyệt không chỉ các báo cáo thƣờng niên, mà tất cả các vấn đề khác nữa của Uỷ ban châu Âu. Những diễn biến trên cho thấy Nghị viện đã có những bƣớc tiến so với Quốc hội chung cho dù quyền hạn của Nghị viện đã tăng đáng kể so với tổ chức tiền thân của nó. Nghị viện châu Âu vẫn không có ảnh hƣởng trực tiếp đến quá trình lập pháp, không có thẩm quyền kiểm soát ngân sách hạn hẹp của Cộng đồng.

Một trong những mục tiêu đầu tiên của Nghị viện châu Âu là tiến hành bầu cử trực tiếp từ các công dân các nƣớc thành viên cho dù vấn đề này đƣợc quy định tại điều 138 của Hiệp ƣớc Rome (1957) nhƣng vẫn chƣa đƣợc thực hiện ở cấp độ Cộng đồng. Để đạt đƣợc điều đó, vào tháng 5 năm 1961, Nghị viện châu Âu đã soạn thảo bản đề án đầu tiên về vấn đề bầu cử trực tiếp (kế hoạch Dehouse). Bản kế hoạch vạch ra thủ tục bầu cử thống nhất chung cho cả 6 quốc gia thành viên. Tuy nhiên, Hội đồng Bộ trƣởng đã không để tâm và trì hoãn xem xét đến bản kế hoạch này cũng nhƣ hai bản báo cáo tiếp theo vào 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Gặp trở ngại trong thủ tục tiến hành bầu cử trực tiếp, Nghị viện châu Âu nỗ lực tăng cƣờng vị thế của Nghị viện bằng cách mở rộng một số quyền hạn đƣợc quy định trong Hiệp ƣớc Rome. Cụ thể, yêu cầu Uỷ ban châu Âu đệ trình chƣơng trình hoạt động thƣờng niên cho Nghị viện và Hội đồng phải báo cáo thƣờng xuyên những hoạt động của Cộng đồng cho Nghị viện châu Âu. Sang thập kỷ 70 của thế kỷ XX, Nghị viện đã đạt đƣợc nhiều thành công hơn. Thứ nhất, vấn đề bầu cử trực tiếp Nghị sỹ Nghị viện.

Tuy nhiên, trong 5 năm sau đó, Nghị viện vẫn không đạt đƣợc thoả thuận trong việc tiến hành bầu cử trực tiếp. Năm 1974, tại Hội nghị Thƣợng đỉnh Paris, vấn đề bầu cử trực tiếp lại đƣợc nhắc đến nhƣ một cách cân bằng hợp tác chính trị trong khu vực. Đạo luật bầu cử châu Âu theo chế độ phổ thông đầu phiếu trực tiếp đã đƣợc ký kết tại Brussels vào 20 tháng 9 năm 1976. Sau khi đƣợc các Nghị sỹ Nghị viện thông qua, văn bản có hiệu lực vào 1 tháng 7 năm 1978.

Cuối cùng, từ ngày 7 đến ngày 10 tháng 6 năm 1979, bầu cử ở Nghị viện châu Âu đƣợc tiến hành theo chế độ phổ thông, đầu phiếu, trực tiếp. Đây là dấu mốc quan trọng đánh dấu thời kỳ chuyển đổi từ một Quốc hội chung với Nghị sỹ do chỉ định sang Nghị viện thành Nghị sỹ đƣợc bầu cử trực tiếp. Thứ hai, bắt đầu từ 1 tháng 1 năm 1975, Nghị viện châu Âu đạt đƣợc thẩm quyền đặc biệt trong việc quyết định ngân sách. Nghị viện cùng với Hội đồng Bộ trƣởng xem xét dự thảo ngân sách.

Cụ thể, Nghị viện có quyền thông qua hoặc bác bỏ bản ngân sách do Uỷ ban châu Âu đề xuất. Tuy nhiên, Nghị viện châu Âu vẫn chỉ giữ một vai trò khiêm tốn đối với quá trình thực hiện ngân sách của Cộng đồng châu Âu, trong khi Hội đồng Bộ trƣởng vẫn là thể chế có thẩm quyền quyết định trong vấn đề này. Năm 1973, với việc gia nhập Cộng đồng châu Âu của Anh, Ailen và Đan Mạch đã làm số Nghị sỹ tăng từ 142 lên 198 ngƣời. Tuy số Nghị sỹ tăng 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lên và đã đạt đƣợc những thành công nhất định nhƣng Nghị viện vẫn chƣa thể tăng quyền Lập pháp của mình.

Trong thập kỷ 70 của thế kỷ XX, một loạt báo cáo đƣợc soạn thảo với nội dung tập trung vào cải cách các thể chế của Cộng đồng, đặc biệt là Nghị viện. Một trong số đó là Báo cáo Vedel (1972) với nội dung nhấn mạnh đến vấn đề tăng quyền hạn của Nghị viện, đó là Nghị viện có quyền “đồng quyết định” về lập pháp với Hội đồng Bộ trƣởng. Đây là giai đoạn bƣớc ngoặt quan trọng của Nghị viện châu Âu, Nghị sỹ Nghị viện châu Âu đƣợc bầu cử trực tiếp theo hình thức phổ thông, đầu phiếu. Cuộc bầu cử trực tiếp các Nghị sỹ Nghị viện đã diễn ra vào 4 ngày từ 7 đến ngày 10 tháng 7 năm 1979.

Mặc dù các nƣớc thành viên đã chuẩn bị kỹ lƣỡng, vận động tích cực và đƣợc báo chí quan tâm cho cuộc bầu cử đầu tiên ở Cộng đồng nhƣng số cử tri bỏ phiếu lại thấp hơn nhiều so với dự kiến. Ví dụ, tỷ lệ cử tri bỏ phiếu thấp nhất là ở Anh với 33% cử tri, cao nhất là ở Italia với 85%. Dù vậy, những Nghị sỹ mới của Nghị viện vẫn tiếp nhận cƣơng vị của mình với tinh thần phấn khởi và đầy nhiệt huyết. Rất nhiều Nghị sỹ Nghị viện trƣớc đây đƣợc chỉ định nay đã trúng cử qua cuộc bầu cử trực tiếp.

Điều này cho phép Nghị viện tiếp tục phát triển cho dù phần lớn Nghị sỹ chƣa có kinh nghiệm chính trị ở cấp độ châu Âu. Một trong những nhiệm vụ đầu tiên của Nghị viện là tổ chức lại cơ cấu. Cuộc bầu cử trực tiếp đã tăng gấp đôi số Nghị sỹ Nghị viện từ 198 lên 410 Nghị sỹ. Do vậy, cơ cấu tổ chức của Nghị viện đƣợc chỉ định trƣớc đây có thể không đƣợc duy trì.

Điều đó dẫn tới Luật Thủ tục mới của Nghị viện đƣợc thông qua vào năm 1981.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ