CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ VỀ VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG VỤ ÁN DÂN SỰ, VIỆC DÂN SỰ 1. Khái quát thực hiện pháp luật về vai trò của luật sư trong vụ án dân sự, việc dân sự 1. Khái quát vai trò luật sư trong vụ án dân sự, việc dân sự Trong tiến trình toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã chủ động, tích cực hội nhập KT quốc tế và khu vực, cũng như mở rộng HTQT trên nhiều lĩnh vực. Qua đó, đã tạo ra những hiệu quả tích cực, thúc đẩy nền kinh tế-xã hội phát triển nhanh chóng, tác động mạnh mẽ đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội, trong đó có lĩnh vực tư pháp nói chung và đội ngũ LS, cũng như hoạt đông nghề nghiệp của LS nói riêng.
Ở Việt Nam, chế định LS có những thăng trầm khác nhau qua những giai đoạn của lịch sử nhất định, bản thân khái niệm luật sư cũng có những thuật ngữ khác nhau để thể hiện, chẳng hạn như LS, người bào chữa, trạng sư, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự… Tuy những thuật ngữ này được sử dụng trong những giai đoạn khác nhau của lịch sử hay trong những trường hợp khác nhau của pháp luật, nhưng chúng đều thể hiện bản chất của một loại chủ thể thực hiện nghề luật. Đó là người họat động trong lĩnh vực pháp luật (PL), có tư cách tư pháp độc lập; và là một nghề thuộc danh mục nghề nghiệp VN. Nghề LS ở VN đã trải qua một quá trình phát triển lâu dài: - Sau khi CM tháng 8 thành công, nước VN Dân chủ cộng hòa ra đời. Từ đó, các quy định về LS, về tổ chức đoàn thể LS được xây dựng và hình thành; 8 - Pháp lệnh tổ chức LS ra đời năm 1987, nhưng không có khái niệm về LS cụ thể mà chỉ quy định điều kiện trở thành LS, điều kiện gia nhập Đoàn luật sư.
- Pháp lệnh LS năm 2001 mới đưa ra khái niệm về luật sư. Đó là người có đủ điều kiện hành nghề theo quy định của Pháp lệnh và tham gia hoạt động tố tụng, tư vấn PL và cung cấp dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân; được bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định PL. [12] Và Luật LS đã quy định tại Điều 2: “LS là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật LS, và thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức”. Tiêu chuẩn LS là một điểm mới của Luật LS.
Điều 10 Luật LS quy định về tiêu chuẩn LS như sau: “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và PL, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề LS, đã qua thời gian tập sự hành nghề LS, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề LS thì có thể trở thành LS”.[26] Theo quy định của Luật LS năm 2006, khái niệm LS có nhiều cách hiểu khác nhau, cụ thể như: - Theo cách hiểu 1: LS là người có chứng chỉ hành nghề LS và thẻ LS. Nhưng những người đó phải thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng (Điều 2, Luật LS 2006); - Theo cách hiểu 2: khái niệm LS có nội hàm tương tự như điều kiện hành nghề LS. Đó là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của PL; được CQNN cấp chứng chỉ hành nghề. Họ có quyền và tự nguyện gia nhập Đoàn luật sư - tổ chức xã hội nghề nghiệp.
Và khi họ đã đáp ứng đủ tiêu chuẩn 9 theo quy định của PL, được cấp chứng chỉ nghề LS thì mới có quyền đăng ký hành nghề; hành nghề và gia nhập Đoàn luật sư. Theo quan điểm này, LS là người có đủ tiêu chuẩn theo quy định tại Điều 10 Luật LS và đã được Bộ Tư pháp cấp Chứng chỉ hành nghề LS. Như vậy, LS là người có trình độ chuyên môn trong lĩnh vực pháp lý, có đạo đức nghề nghiệp. Đồng thời người đó phải có chứng chỉ hành nghề LS, thẻ LS và cung cấp dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của khách hàng phù hợp với quy định PL và đạo đức nghề nghiệp.
VADS là những vụ việc có có tính chất dân sự, đồng thời có dấu hiệu trái PL (tranh chấp giữa các chủ thể PL) được đưa ra TA hoặc cơ quan trọng tài để giải quyết. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được gọi là đương sự trong VADS. Ngoài ra, một thành phần quan trọng khác trong việc giải quyết VADS là CQTHTT và người tiến hành tố tụng (điều 68, Bộ luật TTDS 2015) - CQTHTT là CQNN thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết vụ việc dân sự, thi hành án dân sự hoặc giám sát việc tuân theo PL trong TTDS, bao gồm (điều 46, Bộ luật TTDS 2015): + TA nhân dân; + Viện kiểm sát nhân dân; + Cơ quan thi hành án dân sự. - Người tiến hành tố tụng là người thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết VADS, thi hành án dân sự hoặc kiểm sát việc tuân theo PL trong tố tụng dân sự như: Chánh án, Thẩm phán, Thẩm tra viên, Thư ký, Kiểm sát 10 viên, Viện trưởng viện kiểm sát, Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên.(chương IV, Bộ luật TTDS 2015) Trong VADS còn có những người tham gia tố tụng khác: - Người đại diện của đương sự có thể là người đại diện theo PL, hoặc theo uỷ quyền hoặc do TA chỉ định (điều 75, Bộ luật TTDS 2015) - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự khi đáp ứng đủ các điều kiện mà PL quy định (điều 75, Bộ luật TTDS 2015) - Người làm chứng là người biết các tình tiết liên quan đến vụ án dân sự, tham gia tố tụng theo quy định của PL, để làm rõ các tình tiết, sự việc của vụ án (điều 75, Bộ luật TTDS 2015) - Trong TTDS, ngôn ngữ để giải quyết các vụ việc tại TA là Tiếng việt.
Vì vậy, nếu cần thiết phải có người phiên dịch - người tham gia tố tụng, dịch ngôn ngữ khác ra Tiếng Việt và ngược lại (điều 75, Bộ luật TTDS 2015) - Người giám định là người tham gia tố tụng sử dụng kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn theo quy định PL về lĩnh vực cần giám định để làm rõ các tình tiết, sự việc của VADS.(điều 75, Bộ luật TTDS 2015) VADS được giải quyết theo trình tự, thủ tục quy định tại Luật TTDS, kể từ khi các bên khởi kiện cho đến khi TA ra bản án, quyết định có hiệu lực PL. Từ đó, học viên hiểu khái niệm vụ án dân sự như sau: Vụ án dân sự là những tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động…. giữa cá nhân, tổ chức này với cá nhân, tổ chức khác, và khởi kiện ra TA có thẩm quyền. Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có 11 quyền, vụ án được giải quyết theo quy định của Luật TTDS và được TA thụ lý, giải quyết.
VDS được quy định như sau: “VDS là việc mà cơ quan, tổ chức, cá nhân không có tranh chấp, và yêu cầu TA công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác; yêu cầu TA công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động” (điều 361 Luật TTDS năm 2015) [26] Do vậy, cần xác định VDS không có yếu tố tranh chấp xảy ra giữa các tổ chức, cá nhân về quyền và lợi ích hợp pháp trong lĩnh vực dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động. Nên quy trình, thủ tục giải quyết VDS tại TA sẽ đơn giản hơn so với VADS, TA được giảm bớt gánh nặng, đương sự được giảm bớt phiền hà. Căn cứ từ đó, VDS có những đặc điểm sau: + Thời gian giải quyết VDS ngắn hơn. Tính từ ngày nhận được đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo không quá 03 ngày làm việc.
Chánh án TA chỉ định một Thẩm phán để giải quyết đơn yêu cầu. Thẩm phán sẽ kiểm tra đơn cả về hình thức và nội dung. Trừ những trường hợp Luật TTDS đã có quy định thời hạn giải quyết cụ thể, nếu không thời gian chuẩn bị xét đơn yêu với VDS là 01 tháng, TA phải mở phiên tòa để giải quyết VADS, còn đối với VDS TA chỉ cần mở phiên họp để giải quyết trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp. 12 + Thành phần giải quyết VDS gồm có Thẩm phán, Kiểm sát viên, thư ký phiên họp, không có Hội thẩm nhân dân như trong thành phần xét xử VADS.
Ngoài ra, có sự tham gia người yêu cầu hoặc người đại diện theo PL quy định; người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Khi TA thấy cần thiết cũng có thể triệu tập những trường hợp này, hoặc có thể cả người làm chứng, người giám định, phiên dịch viên… tham gia phiên họp. + Kết quả giải quyết VDS được TA tuyên bằng “Quyết định”, chứ không phải tuyên bằng “Bản án” như trong VADS. + Thời hạn kháng cáo, kháng nghị quyết định giải quyết VDS là 07 ngày ngắn hơn so với thời hạn kháng cáo, kháng nghị bản án bản án dân sự sơ thẩm là 15 ngày.
Từ những phân tích trên, khái niệm VDS được hiểu như sau: “VDS là việc riêng của tổ chức, cá nhân không có tranh chấp xảy ra nhưng có yêu cầu TA công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý. Để lấy đó căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động…”. Như vậy, vai trò của luật sư trong VADS, VDS là rất quan trọng. LS sẽ giúp các đương sự hiểu đúng, hiểu đủ quyền và nghĩa vụ của mình trước PL, tránh bị các CQTHTT lạm quyền, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích của mình.
Cũng như giúp cho đương sự hiểu được bản án, quyết định của các cơ quan tố tụng đã đúng PL hay chưa để tránh những khiếu kiện, khiếu nại kéo dài ảnh hưởng đến thời gian cũng như kinh tế của các đương sự.