Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 1. Tình hình nghiên cứu đề tài Là đề tài hấp dẫn cả về khoa học, lý luận và thực tiễn, hương ước từ lâu đã là đề tài thu hút sự chú ý nghiên cứu của nhiều giới, nhiều thế hệ nghiên cứu trong và ngoài nước với nhiều cấp độ nghiên cứu: sách chuyên khảo, bài báo khoa học, đề tài nghiên cứu các cấp, xuất phát từ những quan điểm khác nhau, nhằm những mục đích khác nhau và đã đạt được nhiều kết quả quan trọng có giá trị. Để phục vụ cho việc nghiên cứu đề tài luận án, tác giả thấy rằng cần tổng quan tình hình nghiên cứu ba nhóm công trình sau đây: Nhóm một: Các công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với thôn, làng; Nhóm hai: Các công trình nghiên cứu về vai trò của hương ước đối với việc tự quản của thôn, làng; và Nhóm ba: các công trình nghiên cứu về vai trò của hương ước trong việc quản lý nhà nước đối với thôn, làng vùng đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam. Nhóm các công trình nghiên cứu về quản lý nhà nước đối với thôn, làng a) Nhóm các công trình nghiên cứu về thôn, làng Để nghiên cứu về việc quản lý nhà nước đối với thôn, làng, trước hết cần phải có cái nhìn tổng quát về thôn, làng với những nội dung cơ bản: tổ chức và cơ cấu xã hội của thôn, làng, vị trí, vai trò của thôn, làng trong đời sống quản lý xã hội của Nhà nước; sau đó tìm hiểu đến sự chuyển mình thay đổi của thôn, làng trong thời kỳ mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa chung của đất nước.
Thứ nhất, để vẽ lên bức tranh khái quát về thôn, làng, không thể không nhắc đến những đề tài nghiên cứu của các nhà sử học, dân tộc học, cụ thể: - Viện Sử học (1977-1978), “Nông thôn Việt Nam trong lịch sử” (tập 1-2), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội. Hai tập sách là kết quả cuộc hai cuộc hội thảo lớn về làng xã, là một bước tiến vượt bậc so với hầu hết các công trình nghiên cứu về nông thôn trước đó, vì đã cung cấp nhiều tư liệu mới, quan điểm mới về nông thôn Việt Nam. Với 47 luận văn khoa học, hai tập “Nông thôn Việt Nam trong lịch sử” đã đem lại một cách đánh giá đúng về vai trò của làng xã, của nông dân trong lịch sử 8 tiến hóa của cách mạng Việt Nam, tiếp cận làng xã Việt Nam về tất cả các mặt: hạ tầng và thượng tầng, kinh tế và chính trị, văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. - Trần Từ (1984), Cơ cấu tổ chức của làng Việt cổ truyền ở Bắc Bộ, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
Tác giả đã cho thấy bức tranh sống động về làng xã, về cơ cấu tổ chức của làng xã Bắc Bộ theo nhiều chiều cạnh khác nhau. Đặc biệt, tác giả phân tích kỹ tính hai mặt, có thể coi là “bộ luật riêng”, và có thể “đứng độc lập” của hương ước trong tổng thể đời sống xã hội của làng xã Việt Nam. - Khoa Lịch sử, Trường Khoa học xã hội và nhân văn (2006), “Làng Việt Nam, đa nguyên và chặt”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội. Cuốn sách là tập hợp các bài viết của GS.
Phan Đại Doãn, PGS.TS Nguyễn Đăng Dung, TS.TS Nguyễn Quang Ngọc, TS. với những nghiên cứu sâu về kết cấu xã hội làng Việt cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ, về chức năng và đặc điểm của gia đình truyền thống Việt, qua đó các tác giả đã phủ nhận đi quan điểm: làng Việt Nam chỉ là tổng số giản đơn của những gia đình cá thể, chỉ là khu vực cộng cư của những người tiểu nông làm lúa nước. Bản thân trong kết cấu xã hội của làng xã cổ truyền ở đồng bằng Bắc Bộ, tác giả cũng đã phân tích và chứng minh rằng “trong làng quê vốn tồn tại hai loại quan hệ huyết thống và địa vực (láng giềng). Tuy nhiên hai loại quan hệ này trong làng xã vùng châu thổ sông Hồng không phải là tách biệt nhau mà thường là hòa nhập với nhau” [88, tr.
Nhưng “trong hai yếu tố cơ bản tạo thành làng thì nhìn chung yếu tố địa vực vẫn có vai trò quan trọng nổi trội hơn huyết thống” [88, tr. Nhưng cũng chính từ sự hòa hợp của hai yếu tố huyết thống và địa vực, cùng với nhiều quan hệ chồng xếp lên nhau, hòa quyện vào nhau khiến cho “tính cộng đồng làng Việt ở châu thổ sông Hồng rất chặt chẽ và vững mạnh; trong làng, vị trí của cá nhân thấp bé” [88, tr. 66], điều này tạo nên nét truyền thống của làng quê đồng bằng sông Hồng. - Nguyễn Quang Ngọc (2009), Một số vấn đề làng xã Việt Nam, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
Cuốn sách đã khái lược lại sự ra đời và những biến đổi của làng xã Việt Nam trong tiến trình lịch sử, sự trở lại vị trí của thôn, làng truyền thống trong nông thôn hiện nay; phân tích về kết cấu kinh tế - xã hội của làng Việt cổ truyền cũng như những văn hóa xóm làng, tín ngưỡng, tôn giáo, diện mạo vật chất của một làng quê. 9 Ngoài ra, liên quan đến vấn đề lý giải về các thuật ngữ “xã”, “thôn”, “làng”, còn có các bài nghiên cứu của các học giả nước ngoài khác như: Sogabe Shizuo (1963), The change of the village types in ancient China and Japan, Tokyo; Shui Ching Chu (Thủy kinh chú) (1988), Taipei, Shijie shuju; Lesonard aurousseaus (1932), An Nam chí nguyên,avec une estude par Emile Gaspardone, Hanoi: Ecole Francaise de extreeme-oirent; Sakurai Yumio (1975), The change in the number of Xa village in medieval Vietnam (chữ Nhật), Tonan ajia, 5, November; Sakurai Yumio (1982), The Cultivation of the Red River delta during the Ly dynastry 1010- 1225, Tonan ajia Kenkyu, 26-3; Chen Ching Ho (1987), Đại Việt sử lược, Tokyo; Monoki Shiro (1985), A student on a Lo system during Vietnam Tran dynastry (chữ Nhật), Shi Rin 65-5 v. Thứ hai, không nên chỉ nhìn nhận thôn, làng cận đại, hiện đại ngày nay với bản tính của làng quê cổ truyền và coi đó như là một chỉnh thể, mà cần phải lưu ý đến sự biến đổi của thôn, làng qua thời gian. Để tìm hiểu về sự đổi thay của thôn, làng trong thời kỳ mới công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có những công trình nghiên cứu sau: - Tác giả Tô Duy Hợp là chủ biên của cuốn sách “Định hướng phát triển làng - xã đồng bằng sông Hồng ngày nay”, Nxb Khoa học xã hội, năm 2003.
Cuốn sách là kết quả phân tích và tổng hợp dựa trên nền số liệu của các nghiên cứu đã tiến hành trước đó, có chọn lọc và lựa chọn theo quan điểm riêng của tác giả để đưa ra định hướng xây dựng mô hình phát triển làng - xã ở đồng bằng sông Hồng. Trong cuốn sách, tác giả đã làm sáng tỏ các đặc điểm truyền thống của lịch sử, mô tả tình trạng thực tế của làng - xã đồng bằng sông Hồng hiện nay, chỉ rõ được nguyên nhân và thấy được xu hướng biến đổi tất yếu của nó. Từ đó, tác giả đúc kết thành mô hình phát triển cho hai loại làng xã phổ biến của nông thôn đồng bằng sông Hồng, đó là: loại hình làng - xã hỗn hợp trọng nông nghiệp (thường được gọi là làng nông nghiệp) và loại hình làng - xã hỗn hợp trọng phi nông nghiệp (còn được gọi là làng nghề hay làng buôn). Việc đưa ra mô hình định hướng phát triển làng - xã đồng bằng sông Hồng này nhằm làm sáng tỏ quan điểm “làng xã đồng bằng sông Hồng nói chung không ưa chuộng mô hình chuyển hóa cực đoan - không tự động chuyển sang xã hội đô thị - công nghiệp hoàn toàn - nhưng chấp nhận quá trình đẩy mạnh đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn với mức độ, nhịp độ khác nhau” [74, tr.
10 - Cũng về mảng đề tài làng quê trong thời đại mới, GS. Phan Đại Doãn với cuốn sách “Làng xã Việt Nam, một số vấn đề kinh tế văn hóa xã hội”, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội ấn bản lần thứ ba năm 2010. Cuốn sách không đi vào nghiên cứu về tổ chức, cơ cấu xã hội làng xã như nhiều công trình nghiên cứu khác, mà tác giả chỉ tập trung phân tích từ kết cấu kinh tế đến kết cấu văn hóa, xã hội của làng xã, từ truyền thống đến hiện đại; đưa đến một cái nhìn tổng thể về các quan hệ kinh tế - xã hội, cái kinh tế và phi kinh tế, cái quyền lực và siêu quyền lực, cái tâm linh và mê tín dị đoan cứ đan chéo, chuyển hóa lẫn nhau. Thông qua cuốn sách, tác giả đã lột tả rõ bản chất của làng Việt trong một giai đoạn thử thách quyết liệt: truyền thống và đổi mới, dân tộc và hiện đại, quốc gia và quốc tế, cung cấp những kiến thức tham khảo bổ ích cho việc nghiên cứu hoạch định chính sách về nông dân và nông thôn.
- Cuốn sách”Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn từ lý luận đến thực tiễn ở Việt Nam hiện nay” của TS. Phạm Ngọc Dũng và các cộng sự (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội năm 2011). Công trình tập trung đánh giá thực trạng và đưa ra các giải pháp khả thi, sát thực tiễn trong quá trình xây dựng nông thôn nước ta thời gian tới. Cũng thuộc đề tài trên, và được đánh giá là công trình vừa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, có tính thời sự trong điều kiện cả nước đang tập trung xây dựng nông thôn mới, đó là cuốn “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn vấn đề và giải pháp”, sách được chủ biên bởi PGS.TS Lê Quốc Lý (Nxb Chính trị quốc gia - Sự thật, Hà Nội, 2012).
Công trình đã lý giải những vấn đề lý luận, thực tiễn và yêu cầu xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong thời gian tới với những giải pháp sát thực, khả thi. Về công trình nước ngoài: nông thôn và nông dân Việt Nam cũng là chủ đề luôn được các nhà nghiên cứu ngoài nước quan tâm. Đặc biệt là những đổi thay của xã hội nông thôn miền Bắc Việt Nam từ sau Cách mạng tháng Tám đến nay, lại càng thu hút sự chú ý của nhiều học giả châu Âu và Bắc Mỹ. Trong đó, đầu tiên phải kể đến chương trình nghiên cứu dài hơi về “Làng xã đồng bằng Bắc Bộ” (được thực hiện và hoàn thiện trong bốn năm: từ năm 1996 đến năm 1999 do Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp tại Hà Nội, hợp tác với Trung tâm Khoa học xã hội và nhân văn Quốc gia, do cố GS.
Lê Bá Thảo và TS.