phần mở đầu, kết luận, nội dung luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1: Những vấn đề lý luận và kinh nghiệm về nâng cao vai trò Hội Phụ nữ trong xóa đói giảm nghèo Chƣơng 2: Thực trạng hoạt động xóa đói giảm nghèo của Hội phụ nữ huyện Quốc Oai Chƣơng 3: Định hướng và giải pháp nâng cao vai trò Hội Phụ nữ huyên Quốc Oai trong xóa đói giảm nghèo đến năm 2020 8 z CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM VỀ NÂNG CAO VAI TRÕ HỘI PHỤ NỮ TRONG CÔNG CUỘC XÓA ĐÓI GIẢM NGHÈO 1. Một số vấn đề chung về nghèo đói và xóa đói giảm nghèo 1. Khái niệm và nguyên nhân của đói nghèo 1. Khái niệm nghèo đói Tại Hội nghị chống nghèo đói khu vực châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan (tháng 9/1993) đã đưa ra định nghĩa như sau: “ nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của địa phương”[15] Theo liên minh châu Âu (EU) thì đánh giá: “ Một gia đình nghèo là gia đình có mức thu nhập không băng nửa so với các gia đình khác trong quốc gia » Từ hai khái niệm trên, có thể hiểu nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương.
Hiện nay, đói nghèo không còn là vấn đề riêng của từng quốc gia, mà là vấn đề mang tính toàn cầu, bởi vì tất cả các quốc gia trên thế giới ngay cả những giàu mạnh thì người nghèo vẫn còn và có lẽ khó có thể hết người nghèo khi trong các xã hội chưa thể chấm dứt những rủi ro về kinh tế, xã hội, môi trường và sự bất bình đẳng trong phân phối của cải làm ra. Rủi ro quá nhiều trong sản xuất và đời sống làm cho một bộ phận dân cư rơi vào tình trạng nghèo. Tháng 3/1995, tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã 9 z hội ở Copenhagen( Đan Mạch), những người đứng đầu các quốc gia đã trịnh trong tuyên bố: Chúng tôi cam kết thực hiện mục tiêu xóa đói, giảm nghèo trên thế giới, thông qua các hành động quốc gia kiên quyết và sự hợp tác quốc tế, coi đây như một đòi hỏi bắt buộc về mặt đạo đức xã hội, chính trị, kinh tế của nhân loại Đói nghèo là một hiện tượng tồn tại ở tất cả các quốc gia dân tộc. Nó là một khái niệm rộng, luôn thay đổi theo không gian và thời gian.
Đến nay, nhiều nhà nghiên cứu và các tổ chức quốc tế đã đưa ra nhiều khái niệm khác nhau, trong đó có khái niệm khái quát hơn cả được nêu ra tại Hội nghị bàn về xóa đói giảm nghèo ở khu vực châu Á Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Thái Lan vào tháng 9/1993. Theo hội nghị này, đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận, tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương. Đây là khái niệm khá đầy đủ về đói nghèo, được nhiều nước trên thế giới nhất trí sử dụng, trong đó có Việt Nam. Để đánh giá đúng mức độ nghèo, người ta chia nghèo thành hai loại: Nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối.
Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản, tối thiểu để duy trì cuộc sống như nhu cầu về ăn, mặc, nhà ở, chăm sóc y tế,…; Còn Nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của địa phương, ở một thời kì nhất định. Những quan điểm trên về đói nghèo phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo là: 1) không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người; 2) có mức sống thấp hơn mức sống cộng đồng; 3) thiếu cơ hội lựa chọn tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng. 10 z Việt Nam cũng nằm trong các quốc gia đang phải đối mặt với vấn đề nghèo đói, và cũng đang nỗ lực đề xóa đói giảm nghèo, song đến nay tình trạng đói nghèo vẫn còn phổ biến, nhất là tại các vùng nông thôn. Nguyên nhân Vấn đề đói nghèo của các quốc gia tuy có những nguyên nhân giống nhau, song do điều kiện cụ thể khác nhau mà mỗi nước lại có nguyên nhân khác nhau.
Tại Việt Nam, đói nghèo là do các nguyên nhân chủ yếu sau: Thứ nhất, do điều kiện tự nhiên: khí hậu khắc nghiệt, thiên tai, bão lụt, hạn hán, sâu bệnh, đất đai cằn cỗi, địa hình phức tạp, giao thông khó khăn đã và đang kìm hãm sản xuất, gây ra tình trạng đói nghèo cho cả một vùng, khu vực. Thứ hai, do người dân thiếu kiến thức về kinh tế thị trường, thiếu vốn kinh doanh, hoặc gia đình đông con, thiếu người làm và không có việc làm, mắc các tệ nạn xã hội, lười lao động, ốm đau, rủi ro. Thứ ba, do cơ chế chính sách. Cụ thể là chính sách thiếu hoặc không đồng bộ.
Thêm vào đó là những khó khăn trong đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các khu vực nông thôn, miền núi. Các chính sách khuyến khích sản xuất, vốn tín dụng, hướng dẫn cách làm ăn, khuyến nông, lâm, ngư, chính sách giáo dục đào tạo, ytế, giải quyết đất đai, định canh định cư, kinh tế mới hiện vẫn chưa có tác động tích cực đến đời sống dân nghèo. Thứ tư, do số hộ nghèo tại các tỉnh thành phố trên cả nước chưa ý thức đầy đủ về việc phải tự giải thoát mình khỏi cảnh nghèo khó cũng như là chưa lo tích góp vốn để đầu tư phát triển kinh tế hộ gia đình. Nhiều tỉnh thành, nơi có đồng bào là người dân tộc thiểu số còn có suy nghi cho rằng đầu tư cho xóa đói giảm nghèo là việc của Nhà nước, của chính quyền các cấp vì thế nên chưa có ý thức hợp tác, bảo vệ và khai thác các công trình hạ tầng cơ sở do nhà nước xây đầu tư xây dựng vì mục tiêu xóa đói giảm nghèo tại địa phương 11 z 1.
Sự cần thiết phải xóa đói giảm nghèo Nghèo đói vừa là vấn đề kinh tế, vừa là vấn đề xã hội. Mục tiêu của Việt Nam đến năm 2020 là xây dựng một xã hội “ Dân giàu, nước mạnh, công bằng, dân chủ, văn minh”, vì vậy xóa đói giảm nghèo là nhiệm vụ cấp bách của toàn Đảng, toàn dân ta. Điều này xuất phát từ các lý do chủ yếu sau: - Nghèo đói sẽ cản trở sự phát triển chung của toàn xã hội. - Nhèo đói làm cho con người mất đi vị tri, vai trò trong xã hội - Ngèo đói làm cho con người ta thiếu thốn về vật chất, ảnh hưởng đến tinh thần - Nghèo đói gây ra các tiêu cực trong xã hội, các tệ nạn xã hội Nghèo đói không chỉ làm con người ta thiếu thốn về vật chất mà còn tạo ra những suy nghi tiêu cực cho con người, con người không lao động sản xuất mà thay vào đó là tham gia vào các tệ nạn xã hội như cờ bạc, số đề.Người nghèo cũng tác động đến quyền bình đẳng, vị trí cá nhận và sự phát triển trong từng xã hội.
Từ những phân tích trên ta thấy việc xóa đói giảm nghèo là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân ta để hương tới một xã hội dân giàu, nước mạnh 1.3 Vai trò của Hội Phụ nữ trong xóa đói giảm nghèo Phụ nữ chiếm một nửa dân số thế giới, nhưng tỷ lệ nghèo đói của phụ nữ lại gấp đôi nam giới. Vì vậy, phụ nữ được xếp vào nhóm “yếu thế” trong xã hội. Theo điều tra của Ngân Hàng Thế giới năm 1997-1998, tỷ lệ dân số nữ 15 tuổi trở lên chưa đến trường tại Việt Nam la 13,4%, nhiều hơn 2 lần tỷ lện nam Phụ nữ Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn khi tiếp cận nguồn vốn vay để xản xuất kinh doanh Phụ nữ Việt Nam có tỷ lệ nữ là đại biểu quốc hội khá cao (khoảng 25%), xếp thứ 2 khu vực châu á, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị 12 z Phụ nữ Việt Nam hiện đang làm chủ 21% trong tổng số hơn 500.000 doaanh nghiệp cả nước, 30 doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán.Doanh nghiệp nữ của Việt Nam cũng có mặt ở hầu hết các lĩnh vực như; dệt may, chế biến nông sản, thủy sản, da dày.v… Rõ ràng những đặc điểm trên của phụ nữ Việt Nam có ảnh hưởng rất lớn vào việc tham gia phát triển kinh tế, xã hội, và cũng là đặc điểm nổi bật bản sắc người phụ nữ Việt Nam. Phụ nữ tuy là “phái yếu” nhưng một khi được tổ chức lại, họ lại có sức mạnh đáng kể.
Điều này được thể hiện rõ khi Hội Phụ nữ các cấp tham gia vào công cuộc xóa đói giảm nghèo. Vai trò của các cấp Hội Phụ nữ trong xóa đói giảm nghèo được thể hiện ở các mặt chủ yếu sau: Thứ nhất, giúp hội viên vay vốn, phát triển kinh tế gia đình - Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam luôn quan tâm đến sự phát triển, tiến bộ, bình đẳng của phụ nữ. Trung ương Hội luôn sát sao hội viên, hỗ trợ chị em phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo, nhất là tại các tỉnh, các khu vực khó khăn. Trong nhiều năm qua, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam với chức năng đại diện chăm lo cho quyền lợi phụ nữ đã tập trung chỉ đạo và triển khai nhiều phong trào tới các cấp hội nhưng chương trình, thiết thực hỗ trợ cho phụ nữ ở các nơi kho khăn phát triển kinh tế, xoá đói giảm nghèo.
- Các cấp Hội phụ nữ trong cả nước đều có vai trò to lớn trong việc hỗ trợ phụ nữ vay vốn phát triển kinh tế gia đình. Các phong trào “Phụ nữ giúp nhau làm kinh tế”, “Ngày tiết kiệm vì phụ nữ nghèo”, “Chương trình hỗ trợ phụ nữ tạo việc làm, tăng thu nhập” đã khơi dậy được tiềm năng to lớn, sức sáng tạo và truyền thống nhân ái, ý thức tự nguyện giúp nhau giống, vốn, kinh nghiệm, ngày công sản xuất trong phụ nữ các khu vực khắp đất nước đặc biệt là vùng sâu vùng xa và đồng bào dân tộc thiểu số.