MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Bình đẳng giới đƣợc coi là một trong những thành tựu nổi bật của Việt Nam trong 20 năm đổi mới vừa qua. Theo Báo cáo của Liên Hợp Quốc năm 2005, Việt Nam chỉ số phát triển giới (GDI) đứng ở vị trí thứ 87 trong tổng số 144 quốc gia trên thế giới [13]. Năm 2005 Liên Hợp quốc đánh giá Việt Nam là điểm sáng về 3 mục tiêu: Xoá mù chữ, xoá đói giảm nghèo, bình đẳng giới.
Vấn đề giới ở Việt Nam đƣợc Đảng và Nhà nƣớc đặc biệt chú trọng, điều này đƣợc thể hiện rõ nhất trong Luật Bình đẳng giới do Quốc hội nƣớc Cộng Hòa xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam khóa XI, kì họp thứ 10 thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2006 và có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 07 năm 2007. Xác định đây vừa là động lực vừa là mục tiêu phát triển của Quốc gia nên ngày 24 tháng 12 năm 2010. Thủ tƣớng chính phủ đã kí Quyết định số 2351/QĐ – TT phê duyệt chiến lƣợc Quốc gia về Bình đẳng giới giai đoạn 2010 – 2020. Nhờ vào sự quan tâm mạnh mẽ của Đảng và Nhà nƣớc mà khoảng cách giữa nam giới và nữ giới trên lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội… đã thay đổi và có xu hƣớng bình đẳng giới.
Các đối tƣợng là phụ nữ và trẻ em gái đã dần khẳng định đƣợc vị thế của mình trong xã hội và có tiếng nói trong gia đình, thực hiện vai trò to lớn của mình trong đời sống kinh tế - xã hội. Theo số liệu thống kê về giới của Việt Nam những năm đầu thế kỷ 21 (2005), tỷ lệ nữ tham hoạt động kinh tế ở nƣớc ta đạt mức cao nhất khu vực, gần cân bằng với nam giới (83% so với 85%), chiếm trên 48% lực lƣợng lao động xã hội đặc biệt ở miền núi phía Bắc và Tây Nguyên đạt tới 85% trong năm 2005. Phụ nữ đang tham gia ở tất cả các loại hình nghề nghiệp và khu vực kinh tế. n 2 Theo đánh giá giữa kỳ kết quả việc thực hiện Chiến lƣợc quốc gia, đến năm 2005 có trên 46% trong tổng số lao động đƣợc giải quyết việc làm là phụ nữ.
Trong đó, phụ nữ chiếm 49,95% lao động trong sản xuất nông-lâm-ngƣ nghiệp; 36,6% lao động trong sản xuất công nghiệp và xây dựng; 70% lao động trong ngành dệt may; 25% phụ nữ đang là chủ doanh nghiệp. Tuy nhiên trên thực tế cho thấy sự đóng góp giữa nam giới và nữ giới chƣa thực sự đảm bảo đƣợc công bằng, bởi vì nữ giới vẫn là phái yếu, họ vẫn phải chịu thiệt thòi hơn về cơ hội việc làm, thu nhập, cơ hội thăng tiến…. Hơn thế nữa những phụ nữ và trẻ em gái nghèo sống ở những vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, những ngƣời tàn tật thì cơ hội tiến đến bình đẳng giới dành lại quyền lợi cho bản thân là rất thấp. Sự đóng góp của họ cho xã hội không hề nhỏ vì vậy nhà nƣớc ta phải có những chính sách bổ sung, tạo mọi điều kiện để đem lại sự bình đẳng giới cho những con ngƣời nơi đây.
Nền nông nghiệp Việt Nam chỉ phát triển bền vững, có hiệu quả khi có sự bình đẳng giới. Thị trấn Tân Yên là trung tâm của huyện Hàm Yên, nằm tại trục Quốc lộ 2 cách thành phố Tuyên Quang về phía Bắc 40km, phía Bắc giáp xã Yên Phú và sông Lô, phía Nam giáp xã Thành Long, phía Đông giáp xã Thái Sơn và phía Tây giáp xã Nhân Mục. Đƣợc sự quan tâm của Đảng và Nhà nƣớc cùng với sự cố gắng nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong toàn thị trấn nên nền kinh tế đã có nhiều chuyển biến tích cực đặc biệt là công tác xóa đói giảm nghèo và các vấn đề liên quan tới bình đẳng giới. Hiện nay kinh tế hộ gia đình đã và đang đóng vai trò rất quan trọng trong ngành nông nghiệp Việt Nam.
Ở hầu hết các vùng nông thôn Việt Nam thì nam giới đƣợc hƣởng nhiều thành quả của việc trao quyền hơn hẳn phụ nữ, vì vậy việc tìm hiểu vai trò của mỗi giới trong phát triển kinh tế hộ gia đình ở TT Tân Yên, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang là rất cấp thiết, để từ đó đề xuất ra một số giải pháp nhằm phát huy hơn nữa vai trò của mỗi giới, giảm khoảng cách về n 3 cơ hội tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực, tạo điều kiện để tất cả mọi ngƣời nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống. Xuất phát từ những thực tế trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:”Nghiên cứu vai trò của giới trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn Thị Trấn Tân Yên, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang”. Mục tiêu nghiên cứu 1.1 Mục tiêu chung Nghiên cứu đƣợc vai trò của mỗi giới trong phát triển kinh tế hộ gia đình, đồng thời đánh giá đƣợc thực trạng bình đẳng giới tai địa phƣơng. Từ đó đƣa ra các biện pháp phù hợp nhằm phát huy tối đa vai trò của từng giới về mọi mặt để góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội chung cho toàn tỉnh.2 Mục tiêu cụ thể Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trên địa bàn TT Tân Yên, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.
Phân tích và đánh giá thực trạng chung của các hộ điều tra trên địa bàn TT Tân Yên. Phân tích và đánh giá thực trạng về vai trò của nam giới và nữ giới trong phát triển kinh tế hộ gia đình trên địa bàn TT Tân Yên. Tìm hiểu các yếu tố ảnh hƣởng đến vai trò của giới trong phát triển kinh tế hộ gia đình. Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm phát huy vai trò của mỗi giới trong phát triển kinh tế hộ trên địa bàn TT Tân Yên.
Ý nghĩa của đề tài 1.1 Ý nghĩa học tập Đề tài giúp hệ thống lại các kiến thức đã học, thực hiện đƣợc phƣơng châm “ học đi đôi với hành”, “ lý thuyết gắn liền với thực tiễn”. Nâng cao trình độ chuyên môn cho ngƣời nghiên cứu. n 4 Rèn luyện các kĩ năng thu thập xử lý số liệu, triển khai một đề tài khoa học, cách viết báo cáo. Là tài liệu tham khảo cho trƣờng Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên, khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn và sinh viên các khóa tiếp theo.2 Ý nghĩa thực tiễn Đề tài có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hết sức thiết thực, làm cơ sở cho TT Tân Yên xây dựng các giải pháp nhằm nâng cao vai trò của giới trong phát triển kinh tế hộ gia đình.
Yêu cầu của đề tài Trong quá trình thực hiện đề tài phải luôn tuân thủ quy định của địa phƣơng. Các số liệu điều tra phải chính xác, trung thực, khách quan. Kiến nghị và đề xuất đƣa ra phải có tính khả thi và phù hợp với điều kiện của địa phƣơng. n 5 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học 2.1 Giới tính và giới 2.1 Khái niệm giới tính và giới * Giới tính Giới tính là một thuật ngữ đƣợc các nhà khoa học xã hội và các nhà sinh học dùng để chỉ một phạm trù sinh học, trong ý nghĩa đó nam và nữ khác nhau về mặt sinh học, tạo nên hai giới giới tính: nam giới và nữ giới.
Theo tổ chức lao động quốc tế: giới tính chỉ sự khác biệt về sinh học giữa nam giới và nữ giới mang tính toàn cầu và không thay đổi [11]. Quốc hội nƣớc Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam chỉ ra rằng: giới tính là một thuật ngữ chỉ sự khác biệt giữa nam giới và nữ giới xét về mặt sinh học, sự khác biệt căn bản về hình dáng bên ngoài của cơ thể, sự khác nhau về chức năng sinh học tạo nên vai trò của giới tính nhƣ: phụ nữ mang thai, sinh con và cho con bú bằng sữa mẹ. Về mặt sinh học nam và nữ không giống nhau trên nhiều phƣơng diện nhƣng chủ yếu nhất là hình dáng, giọng nói và chức năng sinh sản [14]. Giới tính là bẩm sinh và đồng nhất bị quy định và hoạt động theo các cơ chế tự nhiên, di truyền.
Chức năng sinh sản của nam giới hay nữ giới là không thể thay thế, chuyển dịch cho nhau [5]. Nam giới hay nữ giới trên khắp thế giới đều có chức năng, cơ quan sinh sản giống nhau, đều tham gia và mang các yếu tố đóng góp vào quá trình sinh sản nhƣ nhau. Đây đƣợc gọi là tính đồng nhất. Sự khác biệt về giới tính hầu nhƣ bất biến cả về thời gian cũng nhƣ không gian [5].
n 6 * Giới Có rất nhiều khái niệm khác nhau về giới, sau đây là khái niệm của một số tác giả: Giới trƣớc hết không phải là phụ nữ. Giới liên hệ đến vai trò của nam và nữ do xã hội hay do một nền văn hóa xác lập nên. Giới có thể khác nhau giữa nơi này với nơi khác, giữa nên văn hóa này với nền văn hóa khác và có thể thay đổi theo thời gian ( Feldstein H. Giới không nói đến nam hay nữ mà chỉ mối quan hệ giữa họ.
Giới không phải là sự xác định sinh học nhƣ kết quả của những đặc điểm về giới tính của nam hay nữ, mà giới là do xã hội xác lập nên. Nó là một nguyên tắc tổ chức xã hội có thể kiểm soát tiến trình sản xuất, tái sản xuất, tiêu thụ và phân phối (FAO, 1997) [2]. Giới là một thuật ngữ xã hội học bắt nguồn từ môn nhân học, nói đến vai trò, trách nhiệm và quyền lợi mà xã hội quy định cho nam và nữ. Giới đề cập đến việc phân công lao động, các kiểu phân chia nguồn lực và lợi ích giữa nam và nữ trong một bối cảnh cụ thể ( Gendeen, Trần Thị Quế, 1999) [2].
Giới chỉ mối quan hệ xã hội và tƣơng quan giữa địa vị xã hội của nam và nữ trong bối cảnh xã hội cụ thể. Khi nói đến giới là nói đến các điều kiện và các yếu tố xã hội quy định vị trí và hành vi xã hội của mỗi giới trong một hoàn cảnh cụ thể ( Trần Thị Vân Anh, Lê Ngọc Hùng, 1996) [2]. Thuật ngữ giới đƣợc dùng trong nghiên cứu về phụ nữ mang một ý nghĩa khác, không phải để miêu tả các đặc điểm của giới tính sinh học. Giới là một phạm trù khoa học xã hội, đƣợc sử dụng để nói về các vai trò, thái độ và giá trị của giới tính do các cộng đồng xã hội gán cho.