Chương 1, Qui chế trại giam thì “ hạm nhân là người phạm tội bị kết án phạt tù, đang phải chấp hành hình phạt tù trong trại giam 18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Như vậy, một người được coi là phạm nhân khi họ bị kết án phạt (một trong bảy loại hình phạt theo qui định của Bộ luật Hình sự) và bản án của họ đã có hiệu lực pháp luật, họ đang thi hành án trong trại giam. ồng thời với việc trở thành phạm nhân, họ có một địa vị pháp lí (quyền và nghĩa vụ) hoàn toàn khác với mọi công dân bình thường, tại iều 29 Pháp lệnh Thi hành án phạt tù nêu rõ: “ Người đang chấp hành hình phạt tù được hưởng các quyền công dân trừ những quyền bị pháp luật hoặc toà án tước ” [3, tr 64]. Như vậy, phạm nhân không phải đã mất quyền công dân như cách hiểu sai lệch của một số người và thậm chí một số lớn phạm nhân cũng suy nghĩ như vậy.
ọ bị tước, hoặc hạn chế một số quyền tự do cơ bản như: hội họp, biểu tình, tự do cư trú, đi lại, bầu cử, ứng cử, tự do kinh doanh, lập hội, đảm bảo bí mật thư tín, bất khả xâm phạm về chỗ ở. Nhưng họ vẫn còn các quyền và nghĩa vụ chủ yếu như: lao động, học tập, nghiên cứu khoa học, phát minh sáng chế, bình đẳng trước pháp luật, được bảo vệ tính mạng và sức khoẻ, được quyền khiếu nại, tố cáo, quyền được thông tin. Và về quyền con người thì họ hoàn toàn được tôn trọng theo pháp luật quốc tế và Việt nam qui định. Ngoài ra, phạm nhân có một số bổn phận, đó là: phải chấp hành hình phạt tại trại giam; phải lao động, học tập theo qui định; phải tuân theo mọi mệnh lệnh, chỉ dẫn của cán bộ trại giam; không được đưa vào buồng giam những đồ vật thuộc danh mục cấm; không được uống rượu, bia.
Việc Nhà nước tước, hạn chế một số quyền, bảo đảm một số quyền, bắt buộc phạm nhân phải thực hiện một số nghĩa vụ là nhằm làm cho bản án được thực hiện nghiêm chỉnh, tước bỏ mọi khả năng tiếp tục chống phá, gây nguy hại cho xã hội của họ, đồng thời cũng tạo điều kiện để giáo dục họ trở thành người công dân lương thiện. Chính những qui định này là các căn cứ pháp lí nền tảng để cơ quan thi hành án phạt tù tổ chức quản lí, giam giữ giáo dục họ. Những qui định này cũng là những tiêu chí rõ rệt để phân biệt 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trại giam của Nhà nước ta với các nhà tù của chính quyền Sài Gòn, thực dân Pháp và các nhà nước phong kiến trước đây. Về nội dung của khái niệm phạm nhân cũng cần phải được xem xét trên góc độ nhân cách - bộ mặt tâm lí của họ.
hạm nhân trước hết là những người vi phạm pháp luật có thể do cố ý hoặc vô ý. ọ đã thực hiện những hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến những khách thể được Bộ luật Hình sự bảo vệ. Chính vì vậy xã hội đã phản ứng lại, đã tự vệ bằng cách đưa họ vào trại giam, cách li tạm thời (tù có thời hạn) hoặc vĩnh viễn cách li họ với xã hội (tù chung thân). ứng ở góc độ tâm lí học và giáo dục học, xã hội học xem xét thì phạm nhân là người vi phạm những chuẩn mực đạo đức xã hội, họ là những người có nhân cách xấu, nhân cách thấp kém với nhiều thuộc tính tâm lí tiêu cực như tham lam, vụ lợi, ích kỉ, lười lao động, ăn chơi, hung bạo, tàn ác, có quan niệm, quan điểm sai lầm, có triết lí cuộc sống thấp hèn.
Mặc dầu đã vào trại giam, bị cách li khỏi môi trường và điều kiện sống cũ nhưng do tính ổn định tương đối bền vững của các thuộc tính tâm lí cá nhân nên những hiện tượng tâm lí này vẫn còn tồn tại một phần thậm chí toàn bộ trong quá trình ở trại giam, mặc dù trong môi trường trại giam, sự quản lí của cán bộ trại giam không cho phép chúng tiếp tục bộc lộ hoặc thể hiện. Ngoài ra, ở phạm nhân còn xuất hiện những hiện tượng tâm lí mới được hình thành và phát triển thông qua những mối quan hệ tác động qua lại giữa phạm nhân với nhau, giữa bản thân họ với môi trường trại giam. iều này giải thích tại sao một số trở nên xấu đi, học được những ngón nghề tội phạm tinh ranh hơn, thực hiện các tội phạm mới trong trại hoặc sau khi ra trại tàn bạo hơn (nếu hiệu quả quản lí, giáo dục kém). ồng thời cũng phải nhìn thấy một thực tế là ở mỗi con người đều có những mặt tốt và mặt không tốt, mặt tích cực và mặt tiêu cực (chỗ khác giữa 20 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com các con người là ở tỉ lệ nào chiếm vị trí chủ đạo).
Dù là người phạm tội nguy hiểm đến mức nào thì ở họ vẫn còn sót lại những nét nào đó của lương tâm, ẩn tính của con người. Những nét tâm lí tích cực đó là: ăn năn hối lỗi, dày vò lương tâm, yêu thương thân nhân, gia đình; tình cảm đối với quê hương, làng xóm, Tổ quốc. Tóm lại phạm nhân có thể được hiểu là : hạm nhân là một đối tượng quản lí đồng thời là một khách thể đặc biệt của công tác giáo dục. hạm nhân phải chịu sự trừng phạt bằng hình phạt, nhưng mục đích của hình phạt là nhằm giáo dục họ trở thành người lương thiện.
Chúng ta nhìn nhận họ ở cả hai góc độ quản lí và đối tượng giáo dục mà trước hết và chủ yếu là đối tượng giáo dục; ở góc độ pháp lí và tâm lí để có cái nhìn tổng thể, khách quan, toàn diện, cho phép nhà giáo dục lựa chọn tối ưu các biện pháp cưỡng chế và giáo dục đặc thù đối với họ, nhằm mục đích giáo dục họ trở thành người lương thiện. Khái niệm trại giam. Tại iều10 Pháp lệnh Thi hành án phạt tù qui định: Trại giam là nơi chấp hành hình phạt tù của người bị kết án phạt tù. ể quản lí, giam giữ, giáo dục được phạm nhân, các trại giam được xây dựng kiên cố, có lực lượng vũ trang bảo vệ để bắt buộc phạm nhân tuân thủ các qui định pháp luật, trấn áp mọi hành vi chống phá.
Bộ máy tổ chức của trại giam gồm có một hoặc một số phân trại, các đội nghiệp vụ như : trinh sát, giáo dục hồ sơ, hậu cần, tài vụ, kế hoạch sản xuất, tham mưu tổng hợp, y tế, đại đội cảnh sát bảo vệ. Các chức danh trong trại giam gồm có: Giám thị, Phó giám thị, Trưởng phân trại, ại đội trưởng cảnh sát bảo vệ, chuyên viên, quản giáo, nhân viên, kĩ thuật viên, chiến sĩ vũ trang bảo vệ. Căn cứ vào mức án, tính chất tội phạm, trại giam được chia làm ba loại: trại giam loại 1, trại giam loại 2, trại giam loại 3.64] 21 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ứng ở góc độ quản lí, giam giữ, trại giam đã tước bỏ các điều kiện để thực hiện tội phạm, là cơ quan đấu tranh và phòng ngừa tội phạm của lực lượng công an nhân dân. ứng ở góc độ giáo dục, có thể xem trại giam là môi trường giáo dục đặc biệt, là một môi trường tốt cho quá trình phục hồi nhân cách người phạm tội.
Hình phạt tù và trại giam thực chất là sự trừng phạt nghiêm khắc đối với người phạm tội. Tuy nhiên, chỉ riêng bản thân sự trưng phạt này cũng có ý nghĩa tác dụng giáo dục rất lớn. Nếp sống tập thể, kỉ luật chặt chẽ, yêu cầu bắt buộc phải lao động, học tập văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao, sự tác động của cán bộ đã tạo ra những sự thay đổi và phát triển của các phẩm chất tâm lí, ý thức và nhân cách phạm nhân một cách tự giác và không tự giác. Khái niệm công tác giáo dục phạm nhân iều 1 của Pháp lệnh Thi hành án phạt tù quy định: “Thi hành án phạt tù là buộc những người bị kết án tù có thời hạn, tù chung thân chấp hành hình phạt tại trại giam nhằm giáo dục họ trở thành người lương thiện” [ 3, tr.
ây chính là cơ sở pháp lí quan trọng nhất để cơ quan thi hành án phạt tù tiến hành công tác giáo dục phạm nhân và qua đó cũng khẳng định mục đích chính, chủ yếu của hình phạt dưới chế độ ta là nhằm giáo dục người phạm tội trở thành người lương thiện chứ không phải chỉ là trừng phạt. Tuy nhiên giáo dục phạm nhân có nội hàm khác so với cách hiểu thông thường về giáo dục ở ngoài xã hội. Nếu như giáo dục được hiểu theo một nghĩa rộng là có trường, có mục đích đến con người để dào tạo con người có thể hoàn thành một hoặc một số nhiệm vụ đối với xã hội thì công tác giáo dục phạm nhân được hiểu là hoạt động của cơ quan chức năng (trại giam) và các cơ quan tổ chức xã hội, cá nhân có liên quan đến phạm nhân trong quá trình thi hành án phạt tù tác động lên phạm nhân để họ xoá bỏ 22 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com những tư tưởng, nhân thức, hành động xấu, xây dựng nếp nghĩ, thói quen, lối sống mới phù hợp với đạo đức xã hội và luật pháp ngay trong quá trình thi hành án và sau khi ra khỏi trại giam. Vì tính chất đặc biệt của nó gồm cả “chống” và “xây” nên công tác giáo dục phạm nhân còn được coi là công tác giáo dục lại con người.
Kh¸i niÖm vai trß ThuËt ng÷ "vai trß x· héi" xuÊt ph¸t tõ kÞch häc. Vai trß x· héi cña c¸ nh©n ®-îc x¸c ®Þnh trªn c¬ së c¸c vÞ thÕ x· héi t-¬ng øng. Nã chÝnh lµ mÆt ®éng cña vị thế xã hội, vì luôn biến đổi trong xã hội khác nhau thậm chí qua các nhóm xã hội khác nhau. ể thực hiện những quyền và nghĩa vụ của từng vị thế xã hội, mỗi cá nhân cần phải thực hiện những hành động nhất định.
Tức là, tương ứng với từng vị thế sẽ có một mô hình hành vi được xã hội mong đợi nay chính là vai trò tương ứng của vị thế xã hội đó. Như vậy, vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội. Những đòi hỏi này được xác định căn cứ vào các chuẩn mực xã hội. Các chuẩn mực này thường không giống nhau trong các loại xã hội.