Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ tâm lý học với đề tài "Thái độ của phạm nhân với việc chấp hành án phạt tù" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Minh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đặng Thanh Nga, bảo vệ tại Học viện Khoa học Xã hội - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam (năm 2022), thuộc chuyên ngành Tâm lý học (mã số 9.01).
Về mặt lý luận, các nghiên cứu tâm lý học tư pháp và tâm lý học tội phạm tại Việt Nam trước đây chủ yếu tiếp cận người chấp hành án hình sự dưới góc độ khoa học luật học, phòng ngừa tội phạm, hoặc xem xét ở các khía cạnh riêng lẻ như sự thích ứng tâm lý, tự ý thức, nhu cầu tham vấn. Chưa có công trình nào nghiên cứu một cách chuyên sâu và toàn diện về thái độ của phạm nhân đối với việc chấp hành án phạt tù, đặc biệt là thái độ đối với hệ thống các hoạt động giáo dục cải tạo. Do đó, cơ sở lý luận tâm lý học pháp lý gắn với công tác quản lý, giáo dục phạm nhân còn khoảng trống cần được bổ sung.
Về mặt thực tiễn, số liệu báo cáo sơ kết công tác 6 tháng đầu năm 2020 của Cục Cảnh sát quản lý trại giam, cơ sở giáo dục bắt buộc, trường giáo dưỡng (Cục C10 - Bộ Công an) cho thấy, tính đến ngày 14/6/2020, đơn vị đang quản lý 129.138 đối tượng (tăng 2.313 đối tượng so với cùng kỳ năm 2019), trong đó số lượng phạm nhân tại các trại giam chiếm hơn 128.000 người. Tỷ lệ tái phạm tội có xu hướng gia tăng đặt ra yêu cầu phải đánh giá hiệu quả của các hoạt động giáo dục cải tạo (lao động, học tập pháp luật, văn hóa - thể thao, chấp hành nội quy). Thái độ của phạm nhân là yếu tố định hướng và thúc đẩy hành vi; khi phạm nhân có thái độ tích cực thì mới tự giác chấp hành nội quy, nhận thức rõ sai phạm và cải tạo tốt.
Mục đích nghiên cứu của luận án là xây dựng khung lý luận về thái độ của phạm nhân với việc chấp hành án phạt tù, đánh giá thực trạng mức độ biểu hiện và các yếu tố ảnh hưởng, từ đó đề xuất các khuyến nghị nâng cao thái độ tích cực của phạm nhân trong quá trình chấp hành án.
Nhiệm vụ nghiên cứu được xác định gồm 4 nhiệm vụ cụ thể:
- Tổng quan tài liệu về tình hình nghiên cứu thái độ của phạm nhân với việc chấp hành án phạt tù ở trong nước và trên thế giới.
- Xây dựng cơ sở lý luận về thái độ của phạm nhân với việc chấp hành án phạt tù (khái niệm, cấu trúc, tiêu chí đánh giá, các yếu tố ảnh hưởng).
- Nghiên cứu thực tiễn: Đánh giá thực trạng biểu hiện thái độ của phạm nhân trên ba mặt (nhận thức, cảm xúc, hành vi) qua các hoạt động cải tạo và phân tích mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng.
- Đề xuất các khuyến nghị tâm lý - giáo dục nhằm nâng cao thái độ tích cực của phạm nhân trong quá trình chấp hành án.
Giả thuyết nghiên cứu của luận án gồm:
- Phạm nhân có thái độ biểu hiện với việc chấp hành án phạt tù có thời hạn ở mức độ trung bình, thể hiện ở cả ba thành phần: nhận thức, cảm xúc và hành vi.
- Có sự khác biệt về biểu hiện thái độ của phạm nhân với việc chấp hành án phạt tù tại trại giam ở các thành phần và các nội dung biểu hiện khác nhau.
- Các yếu tố gắn với cá nhân và môi trường có ảnh hưởng đến thái độ của phạm nhân với việc chấp hành án phạt tù.
Đối tượng nghiên cứu: Mức độ biểu hiện thái độ của phạm nhân với việc chấp hành án phạt tù và các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ này.
Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi nội dung: Nghiên cứu cấu trúc thái độ gồm 3 thành phần (nhận thức, cảm xúc, hành vi) ở hai chiều hướng tích cực và tiêu cực đối với các quy định chấp hành án phạt tù có thời hạn.
- Phạm vi khách thể: Khảo sát trên 370 phạm nhân đang chấp hành án phạt tù có thời hạn và đội ngũ cán bộ trại giam (Giám thị, Phó Giám thị, cán bộ quản giáo, cán bộ giáo dục, cán bộ trinh sát).
- Phạm vi không gian/địa bàn: Trại giam Phú Sơn 4 - Thái Nguyên, thuộc Cục C10 - Bộ Công an.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã phân tích hệ thống các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước theo các nhóm hướng tiếp cận chính:
Hướng nghiên cứu về lý luận thái độ nói chung
- Về chức năng của thái độ: Các công trình của W. Znaniecki, Reich, Adcock (1918-1920) xác định chức năng cơ bản của thái độ là sự thích nghi của cá nhân với môi trường xã hội. Các lý thuyết chức năng tiếp theo của Katz (1960), Kelman (1961), Smith, Bruner, White (1956), Herek (1986), Shavitt (1989) xem thái độ như phương tiện giúp cá nhân điều chỉnh hành vi theo chủ đích. Nghiên cứu thực nghiệm kinh điển của R. LaPiere (1934) khảo sát 67 khách sạn và 184 nhà hàng chỉ ra thái độ không phải lúc nào cũng dự báo chính xác hành vi (91% cơ sở phản hồi không chấp nhận khách Trung Quốc qua thư nhưng thực tế chỉ từ chối 1 lần). Thuyết hành động hợp lý (TRA) của Martin Fishbein và Icek Ajzen (1975, 1980) cùng thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) của Icek Ajzen (1991) đã giải thích rõ hơn cơ chế thái độ chi phối xu hướng hành vi thông qua chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi. Tại Việt Nam, Phạm Minh Hạc (1988), Trần Trọng Thủy, Nguyễn Quang Uẩn, Võ Thị Minh Chí (2004), Đào Thị Oanh (2004), Lê Văn Hảo và Larsen (2010) đã phân tích thái độ như một thuộc tính nhân cách, một trạng thái tâm lý phản ánh mối quan hệ chủ quan của cá nhân với hiện thực.
- Về cấu trúc của thái độ: Luận án điểm lại mô hình 1 thành phần (Thurstone 1931, Fishbein 1967 - chỉ đo cảm xúc), mô hình 2 thành phần (Calder & Ross 1972, Fishbein & Ajzen 1975 - mong đợi và giá trị), và mô hình 3 thành phần (Smith 1942, McGuire 1969, Rosenberg, Hovland, Pennington 1986) gồm nhận thức, cảm xúc, hành vi. Tại Việt Nam, hướng cấu trúc 3 thành phần được vận dụng trong nghiên cứu của Nguyễn Văn Long (2015) về môn học chính trị, Đỗ Thị Nga (2015) về bạo lực học đường, Đỗ Thị Hồng Minh (2017) về trẻ tự kỷ, Đỗ Thanh Hà (2013) về người nhiễm HIV.
- Về phương pháp đo lường thái độ: Luận án tổng thuật thang đo khoảng cách xã hội của Bogardus (1925), thang đo tổng cộng của Likert (1932), các thông số chỉ báo của Miaxisev, và thực nghiệm đo thái độ nhận thức - cảm xúc của Crites, Fabrigar, Petty (1994) qua đối tượng "con rắn" và "máy hút bụi".
Hướng nghiên cứu về thái độ và tâm lý của phạm nhân
- Trên thế giới: Raymond Corsini (1946) dùng bảng hỏi 12 câu chỉ ra 50% phạm nhân cảm thấy bất hạnh trong tù do suy nghĩ về gia đình; Sobel (1982) nghiên cứu ảnh hưởng của gia đình đối với quá trình cải tạo; MacKenzie và Goodstein (1985) chứng minh thời hạn mức án tác động đến tâm lý (phạm nhân mới vào có hành vi chấp hành nội quy thấp hơn người chấp hành lâu); Lester (1987) chỉ ra xung đột và thái độ trong tù chịu chi phối bởi độ tuổi; Ph. Xundurov khẳng định tình trạng hôn nhân giúp kìm hãm hành vi vi phạm nội quy; Naser (2006) chỉ ra sự hỗ trợ của gia đình là điểm tựa tái hòa nhập; Abdulkarim (2007) khảo sát thái độ của phạm nhân Ả Rập Xê Út với đào tạo từ xa; Larry Brewster (2014) đánh giá chương trình nghệ thuật 30 năm tại các nhà tù California giúp phạm nhân tự điều chỉnh cảm xúc và giảm tái phạm; Ramon Alòs và cộng sự (2014) khảo sát 43,6% cựu phạm nhân tại Catalonia (Tây Ban Nha) tìm được việc làm nhờ lao động trong tù; Konstantinakos Pantelis (2014) so sánh thái độ với thể dục thể thao giữa phạm nhân cải tạo trong nhà và ngoài trời tại Hy Lạp; Yunhan Zhao và cộng sự (2019) nghiên cứu sự tham gia học nghề của phạm nhân tại Trung Quốc.
- Tại Việt Nam: Hoàng Thị Bích Ngọc (2002) nghiên cứu đặc điểm giao tiếp của phạm nhân phạm tội ít nghiêm trọng; Nguyễn Hải Loan và Đặng Thanh Nga (2004) chỉ ra 3 giai đoạn chuyển biến tâm lý của phạm nhân (giai đoạn mới vào trại 3-4 tháng, giai đoạn thích nghi, giai đoạn trước khi trả tự do); Chu Văn Đức (2007, 2009) nghiên cứu sự thích ứng của phạm nhân với chế độ sinh hoạt và lao động, khẳng định niềm tin vào tương lai là yếu tố tác động mạnh nhất; Nguyễn Văn Toàn (2014) nghiên cứu sự tự ý thức về hành vi phạm tội; Phạm Thị Thục Oanh (2019) khảo sát sự thích ứng tâm lý của phạm nhân nữ (thích ứng hành vi cao hơn nhận thức và cảm xúc).
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Các công trình trước đây tại Việt Nam chỉ dừng lại ở các khía cạnh tâm lý đơn lẻ (sự thích ứng, giao tiếp, tự ý thức). Chưa có công trình nào xây dựng hệ thống lý luận và đo lường thực nghiệm toàn diện về thái độ của phạm nhân đối với việc chấp hành án phạt tù trên cấu trúc 3 thành phần thống nhất (nhận thức, cảm xúc, hành vi) gắn liền với các hoạt động cải tạo đặc thù tại trại giam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khung phân tích
- Khái niệm thái độ của luận án: "Thái độ là trạng thái tâm lý thể hiện sự phản ứng tích cực hay không tích cực của chủ thể đối với đối tượng nhất định biểu hiện qua nhận thức, cảm xúc và hành vi".
- Đặc điểm của thái độ: Có tính trạng thái tâm lý diễn ra tương đối dài; có tính tích cực/tiêu cực; có tính ý thức; có tính mức độ (cường độ mạnh/yếu); có tính chi phối các hiện tượng tâm lý khác; có tính bền vững tương đối.
- Cấu trúc 3 thành phần (kế thừa mô hình Smith, 1942):
- Mặt nhận thức: Sự hiểu biết, nhận thức đúng/sai về bản án, nội quy trại giam, mục đích và ý nghĩa của các hoạt động giáo dục cải tạo.
- Mặt cảm xúc: Trạng thái rung cảm, mức độ hài lòng, ăn năn hối hận, cảm xúc tích cực hoặc tiêu cực đối với các hoạt động cải tạo và các mối quan hệ xã hội tại trại giam.
- Mặt hành vi: Xu hướng hành động, mức độ tích cực, tự giác chấp hành các quy định, định mức lao động và hoạt động giáo dục.
- Các nhóm yếu tố ảnh hưởng: Luận án xác định 4 nhóm yếu tố: 1) Cảm nhận của phạm nhân về hành vi phạm tội và mức án phải chấp hành; 2) Mối quan hệ với gia đình; 3) Mối quan hệ giữa phạm nhân với cán bộ trại giam (cán bộ quản giáo, cán bộ giáo dục); 4) Mối quan hệ tương tác giữa các phạm nhân với nhau.
- Nguyên tắc phương pháp luận: Nguyên tắc tiếp cận liên ngành (tâm lý học, luật học, xã hội học, giáo dục học, tội phạm học); Nguyên tắc tiếp cận hoạt động (gắn với lao động cải tạo, giáo dục pháp luật, văn hóa - thể thao); Nguyên tắc tiếp cận hệ thống (tính thống nhất giữa 3 thành phần thái độ và mối quan hệ cá nhân - môi trường).
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp nghiên cứu văn bản, tài liệu: Phân tích các văn bản quy phạm pháp luật, hồ sơ quản lý phạm nhân, chỉ tiêu định mức lao động.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: Công cụ chính thu thập dữ liệu định lượng trên mẫu 370 phạm nhân đang chấp hành án phạt tù có thời hạn tại Trại giam Phú Sơn 4. Thang đo sử dụng định dạng Likert nhiều mức độ để tính điểm trung bình (ĐTB) và độ lệch chuẩn (ĐLC).
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện trên phạm nhân và cán bộ trại giam (Ban Giám thị, cán bộ quản giáo, cán bộ giáo dục, cán bộ trinh sát) nhằm làm rõ động cơ, tâm tư, nguyên nhân sâu xa của thái độ.
- Phương pháp quan sát: Theo dõi trực tiếp hành vi, thái độ biểu hiện của phạm nhân trong giờ lao động, học tập chính trị - pháp luật, sinh hoạt tập thể và các phong trào thể thao, văn nghệ.
- Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình: Phân tích sâu các ca phạm nhân có thái độ chấp hành án ở mức tốt và phạm nhân có thái độ ở mức trung bình - yếu.
- Phương pháp xử lý số liệu: Ứng dụng thống kê toán học để tính toán giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, kiểm định sai biệt và phân tích tương quan giữa các thành phần thái độ và các yếu tố ảnh hưởng.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu về thái độ của phạm nhân với việc chấp hành án phạt tù
Chương này hệ thống hóa các tài liệu khoa học về lý thuyết thái độ (chức năng, cấu trúc, phương pháp đo lường) và các nghiên cứu về tâm lý phạm nhân trong quá trình thi hành án tại các cơ sở giam giữ trên thế giới và ở Việt Nam. Tác giả chỉ ra rằng các công trình quốc tế đã chứng minh vai trò rõ nét của gia đình, giáo dục nghệ thuật, đào tạo nghề và thời hạn mức án đối với hành vi của phạm nhân. Tại Việt Nam, các nghiên cứu đã bước đầu chỉ ra các giai đoạn tâm lý và sự thích ứng của phạm nhân nhưng chưa đi sâu phân tích cấu trúc thái độ 3 thành phần trong mối tương quan với các hoạt động cải tạo thực tế.
Chương 2: Cơ sở lý luận nghiên cứu về thái độ của phạm nhân với việc chấp hành án phạt tù
Tác giả xây dựng khung khái niệm, làm rõ đặc điểm tâm lý của người chấp hành án phạt tù có thời hạn trong môi trường trại giam. Luận án thiết lập hệ thống tiêu chí và các mặt biểu hiện thái độ của phạm nhân gắn với 3 hoạt động cải tạo cụ thể: 1) Hoạt động lao động cải tạo; 2) Hoạt động giáo dục pháp luật; 3) Hoạt động văn hóa, thể thao. Đồng luận án phân tích cơ chế tác động của 4 nhóm yếu tố: nhận thức về mức án, quan hệ gia đình, quan hệ với cán bộ trại giam và quan hệ bạn tù.
| Thành phần thái độ | Hoạt động lao động cải tạo | Hoạt động giáo dục pháp luật | Hoạt động văn hóa, thể thao |
|---|---|---|---|
| Nhận thức | Hiểu ý nghĩa lao động, định mức khoán, tính kỷ luật | Hiểu rõ chính sách pháp luật, nhận thức lỗi lầm phạm tội | Hiểu giá trị rèn luyện thể chất, giải tỏa căng thẳng |
| Cảm xúc | Ăn năn, tự giác, tránh tâm lý ức chế, bị ép buộc | Cảm nhận sự khoan hồng, mong muốn phục thiện | Phấn khởi, hào hứng, giảm lo âu trầm cảm |
| Hành vi | Hoàn thành định mức, tuân thủ an toàn lao động | Lắng nghe, ghi chép, chấp hành giờ giấc học tập | Tích cực tham gia các phong trào tập thể |
Chương 3: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
Trình bày địa bàn Trại giam Phú Sơn 4 - Thái Nguyên và mô tả cơ cấu mẫu 370 phạm nhân chấp hành án có thời hạn. Luận án nêu rõ quy trình 3 giai đoạn nghiên cứu: giai đoạn nghiên cứu lý luận, giai đoạn khảo sát thực tiễn tại trại giam, và giai đoạn xử lý số liệu, viết báo cáo luận án. Quy định chặt chẽ về đạo đức nghiên cứu đối với đối tượng đặc thù là người đang chấp hành án phạt tù được đảm bảo xuyên suốt quá trình thu thập thông tin.
Chương 4: Kết quả nghiên cứu thái độ của phạm nhân với việc chấp hành án phạt tù
Luận án trình bày bức tranh thực trạng thái độ của phạm nhân thông qua các phân tích thống kê mô tả, so sánh và kiểm định tương quan:
| Nhóm yếu tố ảnh hưởng | Thứ bậc tác động đến thái độ của phạm nhân |
|---|---|
| Cảm nhận về hành vi phạm tội và mức án cải tạo | Ảnh hưởng nhiều nhất (chi phối nhận thức và tâm thế cải tạo) |
| Mối quan hệ với gia đình | Ảnh hưởng trực tiếp (chỗ dựa tinh thần, động lực phấn đấu) |
| Mối quan hệ với cán bộ trại giam | Ảnh hưởng quan trọng (định hướng, giải tỏa vướng mắc tâm lý) |
| Mối quan hệ giữa các phạm nhân | Ảnh hưởng môi trường sống (tác động qua lại trong sinh hoạt) |
Các phát hiện chính của chương 4 gồm:
- Đánh giá chung về thực trạng: Đại đa số phạm nhân tại Trại giam Phú Sơn 4 có mức độ biểu hiện thái độ chấp hành án ở mức trung bình.
- Sự lệch pha giữa các thành phần: Trong 3 mặt biểu hiện, mặt nhận thức và hành vi có mức độ tích cực cao hơn mặt cảm xúc. Mặt cảm xúc đạt điểm số thấp nhất; phạm nhân thường mang cảm xúc âm tính (lo lắng, ức chế, mặc cảm) đối với một số hoạt động chấp hành án.
- Biểu hiện qua các hoạt động: Thái độ trong hoạt động văn hóa, thể thao và lao động cải tạo có điểm số tích cực hơn so với hoạt động học tập giáo dục pháp luật.
- Mức độ tác động của các yếu tố: Yếu tố cảm nhận của phạm nhân về hành vi phạm tội, mức án và yếu tố mối quan hệ với gia đình là hai yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất đến thái độ chấp hành án.
- Phân tích điển hình: Nghiên cứu điển hình chỉ ra những phạm nhân nhận được sự quan tâm thường xuyên của gia đình và có nhận thức ăn năn về tội lỗi đạt mức độ thái độ tốt; ngược lại, những phạm nhân có mức án dài, gia đình bỏ rơi hoặc có xung đột với bạn tù thường rơi vào nhóm thái độ trung bình - yếu.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở lý luận về thái độ của phạm nhân đối với việc chấp hành án phạt tù dưới góc độ Tâm lý học tư pháp và Tâm lý học tội phạm.
- Xây dựng định nghĩa, cấu trúc thái độ gồm 3 thành phần (nhận thức, cảm xúc, hành vi) gắn với đặc thù chấp hành án phạt tù có thời hạn.
- Thao tác hóa khái niệm thành hệ thống các tiêu chí, chỉ báo định lượng đo lường thực tiễn biểu hiện thái độ của phạm nhân qua các hoạt động cải tạo cụ thể.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Phác họa bức tranh thực trạng về thái độ chấp hành án của 370 phạm nhân tại Trại giam Phú Sơn 4, chỉ ra điểm nghẽn nằm ở thành phần cảm xúc (thường mang tính âm tính).
- Xác định thứ bậc ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan và khách quan, khẳng định vai trò then chốt của nhận thức mức án và sự hỗ trợ từ gia đình.
- Cung cấp cơ sở khoa học giúp Ban Giám thị, cán bộ quản giáo và cán bộ giáo dục trại giam đổi mới phương pháp giáo dục cải tạo.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Đối với trại giam và cán bộ quản lý: Đổi mới phương pháp giáo dục pháp luật, tránh hình thức khô cứng; chú trọng nắm bắt diễn biến tâm lý, hỗ trợ giải tỏa cảm xúc tiêu cực cho phạm nhân; bố trí định mức lao động phù hợp với sức khỏe và năng lực.
- Đối với gia đình phạm nhân: Tăng cường liên lạc qua thư, điện thoại và thăm gặp định kỳ để tạo điểm tựa tinh thần, củng cố niềm tin phục thiện cho phạm nhân.
- Đối với công tác phối hợp xã hội: Xây dựng các chương trình định hướng nghề nghiệp, chuẩn bị tâm lý tái hòa nhập cộng đồng cho phạm nhân trước khi hết hạn tù.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Nghiên cứu thực nghiệm chỉ tiến hành trên khách thể là phạm nhân chấp hành án phạt tù có thời hạn tại một địa bàn (Trại giam Phú Sơn 4 - Thái Nguyên), chưa khảo sát nhóm đối tượng phạm nhân tù chung thân và chưa mở rộng ra các trại giam ở các vùng miền khác.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng phạm vi khách thể khảo sát trên các nhóm tội danh khác nhau và phạm nhân tù chung thân; nghiên cứu sâu hơn về các biện pháp can thiệp tâm lý lâm sàng nhằm chuyển biến mặt cảm xúc tiêu cực của phạm nhân trong quá trình cải tạo.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho:
- Lãnh đạo, cán bộ quản giáo, cán bộ giáo dục tại các cơ sở giam giữ thuộc Cục C10 (Bộ Công an) trong việc xây dựng kế hoạch quản lý và phân loại phạm nhân.
- Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học chuyên ngành Tâm lý học tư pháp, Tâm lý học tội phạm, Luật hình sự & Tố tụng hình sự, Xã hội học và Công tác xã hội.
- Các nhà hoạch định chính sách thi hành án hình sự và tái hòa nhập cộng đồng. Phần khung lý thuyết (Chương 2), công cụ bảng hỏi đánh giá 3 thành phần (Chương 3) và kết quả phân tích trường hợp điển hình (Chương 4) là những nội dung có giá trị ứng dụng cao.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án định nghĩa khái niệm thái độ của phạm nhân với việc chấp hành án phạt tù như thế nào?
Luận án xác định: Thái độ của phạm nhân với việc chấp hành án phạt tù là trạng thái tâm lý thể hiện sự phản ứng tích cực hay không tích cực của phạm nhân đối với các quy định chấp hành án và các hoạt động giáo dục cải tạo, biểu hiện thông qua nhận thức, cảm xúc và hành vi.
2. Cấu trúc thái độ của phạm nhân được luận án phân tích qua những thành phần nào?
Cấu trúc thái độ gồm 3 thành phần thống nhất: Nhận thức (hiểu biết về bản án, nội quy, ý nghĩa cải tạo), Cảm xúc (rung cảm, mức độ ăn năn, cảm xúc tích cực/tiêu cực) và Hành vi (tính tự giác, mức độ chấp hành nội quy và định mức lao động).
3. Kết quả khảo sát thực trạng cho thấy thái độ của phạm nhân đạt mức độ nào và có đặc điểm gì nổi bật?
Đại đa số phạm nhân có thái độ ở mức độ trung bình. Đáng chú ý, có sự không đồng đều giữa các mặt: nhận thức và hành vi biểu hiện tích cực hơn, trong khi mặt cảm xúc có điểm số thấp nhất và phạm nhân thường mang cảm xúc âm tính đối với việc chấp hành án.
4. Nhóm yếu tố nào ảnh hưởng mạnh nhất đến thái độ của phạm nhân?
Hai yếu tố có ảnh hưởng mạnh nhất là: cảm nhận của chính phạm nhân về hành vi phạm tội và mức án cải tạo, cùng với mối quan hệ gắn kết và sự quan tâm, động viên từ phía gia đình.
5. Luận án kế thừa mô hình 3 giai đoạn chuyển biến tâm lý nào của phạm nhân trong quá trình chấp hành án?
Luận án kế thừa mô hình của Nguyễn Hải Loan - Đặng Thanh Nga (2004) gồm: Giai đoạn mới vào trại (3-4 tháng đầu: lo lắng, chán nản, trầm uất), Giai đoạn thích nghi (ổn định tư tưởng, chấp nhận thực tế), và Giai đoạn trước khi được trả tự do (khao khát tự do xen lẫn căng thẳng, lo lắng cho tương lai).
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Minh đã hoàn thành việc xây dựng khung lý luận và đánh giá thực trạng thái độ của phạm nhân đối với việc chấp hành án phạt tù có thời hạn tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu thực nghiệm trên 370 phạm nhân tại Trại giam Phú Sơn 4 khẳng định thái độ của phạm nhân hiện ở mức trung bình, trong đó thành phần cảm xúc còn nhiều biểu hiện âm tính cần được can thiệp. Công trình đã làm rõ vai trò quyết định của nhận thức mức án và chỗ dựa gia đình, qua đó đề xuất hệ thống khuyến nghị khoa học nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục cải tạo và giảm thiểu tỷ lệ tái phạm tội.