Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 1. CÁC CÔNG TRÌNH LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC NỮ TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA 1. Những công trình liên quan đến đội ngũ trí thức Có rất nhiều công trình ở trong nước và ngoài nước bàn đến khái niệm trí thức. Từ giác độ tiếp cận của chuyên ngành, các tác giả đã bàn đến cụ thể: Trước đó, tác giả Đỗ Thị Thạch (1999) trong Luận án tiến sĩ “Trí thức nữ Việt Nam trong công cuộc đổi mới hiện nay - tiềm năng và phương hướng xây dựng” cho rằng khi nhận thức về trí thức không nên quá nhấn mạnh vào một đặc trưng nào đó.
Tiếp cận khái niệm trí thức không nên tách rời đặc trưng này hay đặc trưng khác ra khỏi chỉnh thể những đặc trưng cơ bản; hơn thế nữa những đặc trưng cơ bản về người trí thức còn được xem xét cụ thể ở từng dân tộc, từng quốc gia trong những thời đại khác nhau. Theo tác giả, người trí thức hiện nay có một số đặc trưng cơ bản là: lao động chủ yếu bằng trí óc, có trình độ học vấn từ cao đẳng, đại học trở lên, có khả năng sáng tạo, tham gia lao động ở tất cả các lĩnh vực khoa học, công nghệ, lãnh đạo, quản lý, văn học, nghệ thuật [46]. Gắn người trí thức với tiêu chí về phẩm chất đạo đức cũng là một hướng nghiên cứu khá phổ biến. Theo đó, tác giả Phạm Tất Dong (2001) trong cuốn “Định hướng phát triển đội ngũ trí thức Việt Nam trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [5] cho rằng, để có thể được coi là trí thức thì cần phải thỏa mãn những tiêu chí, bao gồm: tiêu chí về trình độ chuyên môn, năng lực cống hiến nhằm cải biến trong thực tiễn và có những phẩm chất đạo đức tốt đẹp.
Vì vậy, việc nảy sinh những “nhân tài tiềm tàng” là bẩm sinh, vì nó gắn với di truyền học và sinh học, nhưng nếu thiếu nhân cách, không cống hiến trong thực tiễn xã hội thì cũng không phải là trí thức. Tác giả nhấn mạnh chỉ có trí thức chân chính mới được nhân dân ta thừa nhận, tôn trọng. Sự khác 8 nhau giữa trí thức chân chính và người có học vấn hoặc người nắm giữ tri thức khoa học, nghệ thuật nói chung là ở chỗ có giữ được “thiên chức” của người trí thức hay không. Người trí thức chân chính luôn hướng sự nghiệp của bản thân chủ yếu bằng lao động trí tuệ hoặc bằng tư duy sáng tạo mang tính cá thể và thường có cá tính.
Thứ nữa, trong bối cảnh phát triển hiện nay, trí thức không chỉ là người có học vấn cao tương xứng với thời đại, mà là người bằng lao động trí tuệ sáng tạo của mình gắn nghề nghiệp hay sự nghiệp của mình với nhân dân, với dân tộc và với lý tưởng mà mình theo đuổi. Hay nói cách khác, người trí thức chân chính không thể thiếu nhân cách hướng thiện, hướng về nhân dân và dân tộc mình. Sự kết hợp giữa hiểu biết và lương tri chính là tính trí thức - đó là tiêu chí căn bản để phân biệt giữa trí thức chân chính và trí thức không chân chính. Tác giả Nguyễn Văn Sơn (2002) trong cuốn “Trí thức giáo dục đại học Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” [45] có cách tiếp cận nhấn mạnh đến tính sáng tạo như là đặc trưng gắn liền với người trí thức.
Theo đó, tác giả cho rằng, với điều kiện phát triển của lực lượng sản xuất xã hội hiện nay, chỉ những người đã qua đào tạo hoặc tự học mà đạt trình độ đại học hoặc tương đương mới có thể tiếp cận được kiểu lao động của người trí thức. Nhưng việc nhận biết người trí thức cần căn cứ vào việc đánh giá tính sáng tạo của họ trong quá trình lao động trí óc phức tạp, ở giá trị của những sản phẩm khoa học, và vì vậy, những người có bằng cấp cũng chưa phải là trí thức đúng nghĩa nếu trong thực tế lao động nghề nghiệp của họ không có yếu tố trí tuệ sáng tạo mà chỉ là một dạng lao động trí óc khác, là lao động trí óc giản đơn, thừa hành [45, tr. Tác giả Phan Thanh Khôi (2003) trong cuốn “Phát huy vai trò của nguồn lực trí thức khoa học xã hội và nhân văn trong Quân đội nhân dân Việt Nam hiện nay” cũng cho rằng học vấn chỉ là một điều kiện cần chứ chưa đủ. Chỉ những người nào có trình độ cao đẳng, đại học, những người lao động trí óc nhưng là quá trình lao động sáng tạo khoa học thì mới được coi là trí thức.
Những sản phẩm lao động sáng tạo ngày càng được xã hội hóa, ứng dụng sâu 9 sắc vào trong quá trình thực tiễn, có khả năng đem đến sự cải tiến trong hoạt động thực tiễn thì đó mới thực sự là sự sáng tạo của người trí thức. Sự sáng tạo của tư duy là sự trăn trở, tìm tòi của bản thân người trí thức mà có chứ không chỉ là những sự bắt chước, sự thỏa hiệp với ý kiến của số đông. Trí thức chân chính phải là những người có thực học, thực lực và thực tài, có năng lực tự đào tạo một cách chủ động, sáng tạo, có cấu trúc nhân cách đức - tài hoàn chỉnh, có phương pháp và bản lĩnh của một nhân cách khoa học, là những chủ thể của sự sáng tạo có tính độc lập cá nhân, biểu hiện cá tính của người trí thức. Trí thức là những người tôn trọng chân lý và tôn trọng đạo lý [19].
Đồng quan điểm như vậy có tác giả Nguyễn Đắc Hưng (2005) trong cuốn “Trí thức Việt Nam trước yêu cầu phát triển đất nước [14] và (2009) trong cuốn “Trí thức Việt Nam bước vào thời kỳ hội nhập” [16] đã nhấn mạnh, “với cách hiểu như vậy thì những người tuy chưa có bằng cấp cao nhưng lao động bằng trí tuệ và có tính sáng tạo thì cũng có thể coi là trí thức. Vì vậy, văn bằng chỉ là chứng nhận về mặt trình độ học vấn, còn để được công nhận là trí thức thì phải được xã hội kiểm định chất lượng thông qua lao động sáng tạo trong hoạt động thực tiễn” [14, tr. Tác giả Ngô Huy Tiếp (chủ biên) (2009) trong cuốn “Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với trí thức nước ta hiện nay” [56] và tập thể tác giả Viện Khoa học giáo dục Việt Nam (2008) trong cuốn “Kinh nghiệm của một số nước về phát triển giáo dục đào tạo khoa học và công nghệ gắn với xây dựng đội ngũ trí thức” [61] cùng khẳng định người được coi là trí thức phải đạt những chuẩn mực cơ bản như là dấu hiệu đặc trưng để nhận biết và phân biệt họ với các giai tầng khác trong xã hội. Đó là những người có lượng kiến thức lớn, đồng thời có khả năng sáng tạo và là những người có đạo đức.
Có nhiều cách tiếp cận trí thức khác nhau nhưng dù tiếp cận theo khía cạnh nào thì dấu hiệu nhận biết cơ bản là lao động trí tuệ có chuyên môn sâu và có học vấn cao. Tuy nhiên, theo các tác giả, đó không thể là tất cả các dấu hiệu cần thiết mà trí thức phải là những người vừa có trình độ học vấn, chuyên môn cao, có đạo đức, có khả năng lao động sáng tạo và phải có khả năng ứng 10 dụng những tri thức khoa học góp phần quan trọng thúc đẩy mọi mặt của sự phát triển xã hội. Với tác giả Đặng Quang Định (2010) trong cuốn “Quan hệ lợi ích kinh tế giữa công nhân, nông dân và trí thức ở Việt Nam hiện nay” đã đưa ra quan niệm khá khác biệt của mình về trí thức. Trên cơ sở tổng kết thành sáu thuộc tính cơ bản của trí thức - với tư cách là một tầng lớp xã hội (những người lao động trí óc phức tạp, sản xuất tinh thần là chủ yếu; có trình độ học vấn cao, cao hơn mặt bằng dân trí; hình thức lao động của trí thức mang tính đặc thù cao, có tính cá nhân rõ rệt; là tầng lớp xã hội được hình thành từ nhiều giai cấp, tầng lớp; tâm lý, lối sống của trí thức có biểu hiện đặc thù và thành phần của tầng lớp trí thức rất đa dạng), tác giả đưa ra quan niệm riêng về trí thức: Trí thức là một tầng lớp xã hội có trình độ học vấn cao, lao động sản xuất tinh thần là chủ yếu, nhằm sáng tạo tri thức khoa học mới, truyền bá và thực nghiệm khoa học, góp phần đẩy nhanh sự phát triển của xã hội [8].
Tác giả Đàm Đức Vượng và các cộng sự (2010) trong Đề tài nghiên cứu cấp nhà nước với chủ đề “Xây dựng đội ngũ trí thức Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020”. Đây là công trình nghiên cứu công phu và có hệ thống về trí thức. Trên cơ sở đánh giá tổng thể về thực trạng đội ngũ trí thức Việt Nam, đề tài đã đưa ra định nghĩa của mình về trí thức với nhiều tiêu chí, cụ thể: Trí thức là một lực lượng xã hội, gồm những người lao động trí óc có học vấn chuyên môn cần thiết cho ngành của mình, có trình độ phát triển về trí tuệ, nhạy bén với cái mới và quan tâm đến đổi mới và phát triển; thông thường có trình độ đại học và tương đương trở lên. Đề tài đã làm rõ thêm nội hàm của khái niệm trí thức trên bình diện rộng.
Không những chỉ ra tính chất lao động trí óc cùng với những yêu cầu về sự hiểu biết, trình độ, khát vọng dân chủ, công bằng, tự do và kết quả sáng tạo trong việc truyền bá, phổ biến, ứng dụng vào đời sống xã hội của trí thức, các tác giả đề tài còn xác định rõ thiên chức, phẩm chất, tính cách của người trí thức Việt Nam. Đồng thời đề tài đã đi sâu phân tích, kiến nghị những giải pháp nhằm xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước [65]. 11 Tác giả Đặng Hữu (2008) trong bài viết “Đội ngũ trí thức trong thời kỳ CNH, HĐH và phát triển kinh tế tri thức” [17] lại nhấn mạnh về trách nhiệm xã hội của người trí thức. Ông cho rằng, đặc điểm của trí thức không đơn thuần chỉ là có trình độ học vấn cao và năng lực sáng tạo, mà quan trọng là có bản lĩnh, phẩm chất tốt đẹp, luôn đem tri thức phục vụ nhân dân, đấu tranh cho tiến bộ xã hội, hạnh phúc của nhân loại.