Chương 1 10 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN 1. Các khái niệm liên quan đề tài 1. Vai trò Theo từ điển mở Wiktionary thì vai trò là tác dụng, chức năng trong sự hoạt động, sự phát triển của cái gì đó, có thể hiểu vai trò chính là tác dụng, chức năng của ai hoặc cái gì trong sự hoạt động, sự, phát triển chung của một tập thể, một tổ chức. Có thể nhận định chung rằng vai trò thường là tính từ chỉ tính chất của sự vật, sự việc hiện tượng, dùng để nói về vị trí chức năng, nhiệm vụ mục đích của sự vật, sự việc, hiện tượng trong một hoàn cảnh, bối cảnh và mối quan hệ nào đó.
Khái niệm vai trò bắt nguồn từ khái niệm vai diễn trên sân khấu. Vai diễn trên sân khấu đòi hỏi diễn viên phải nhập tâm, bắt chước và học tập đóng vai của những nhân vật được đạo diễn phân đóng. Theo nhà xã hội học người Mỹ -Robertsons, vai trò là một tập hợp các chuẩn mực, hành vi, quyền lợi và nghĩa vụ được gắn liền với một vị thế xã hội nhất định… Khi đề cập đến vai trò của một ổ chức là sự tác động của tổ chức đó đến tiến trình phát triển của lịch sử và cách mạng, được phản ánh trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa tư tưởng mà tổ chức đó tồn tại và phát triển. Ví dụ như, Công đoàn khi chưa giành được chính quyền, Công đoàn có vai trò là trường học đấu tranh giai cấp, Công đoàn vận động, tổ chức công nhân, lao động đấu tranh chống lại giai cấp tư sản, bảo vệ quyền, lợi của công nhân, lao động.
Cuộc đấu tranh của Công đoàn ngày càng phát triển, từ đấu tranh kinh tế sang đấu tranh chính trị với mục đích lật đổ giai cấp thống trị xoá bỏ chế độ người bóc lột người, giành chính quyền về tay giai cấp công nhân. “Vai trò của Công đoàn là tác dụng của Công đoàn trong hoạt động thực tiễn; hay nói cách khác, hiệu quả hoạt động thực tiễn của Công đoàn là thể hiện vai trò của Công đoàn” [25, tr. Vai trò của tổ chức Công đoàn Điều 10 Hiến pháp (2013) Nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam quy định: Công đoàn Việt Nam là tổ chức chính trị - xã hội của giai cấp công nhân và của người lao động, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, đại diện cho người lao động 11 chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế- xã hội; tham gia kiểm tra, thanh tra, giám sát hoat động của cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, giáo dục cán bộ, công nhân viên chức, và những người lao động khác xây dựng và bảo vệ tổ quốc [54, tr. Điều 1, Luật Công đoàn Việt Nam năm 2012 khẳng định: Công đoàn là tổ chức chính trị- xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và của người lao động Việt Nam, được thành lập trên cơ sở tự nguyện, là thành viên trong hệ thống chính trị của xã hội Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác (sau đây gọi chung là người lao động), cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; tuyên truyền, vận động người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành pháp luật, xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã hội Chủ nghĩa [53, r.
Công đoàn là thành viên của hệ thống chính trị, là trung tâm tập hợp đoàn kết, giáo dục, rèn luyện, xây dựng giai cấp công nhân, viên chức, lao động; là chỗ dựa vững chắc của Đảng; là sợi dây chuyền nối liền giữa Đảng với Công nhân viên chức lao động; là người cộng tác đắc lực của Nhà nước; là nguồn cung cấp cán bộ cho Đảng và Nhà nước; Công đoàn thu hút tất cả những người lao động vào tổ chức, để tập hợp, giáo dục, giác ngộ họ trở thành những người lao động tự giác [52, tr. Khi nói tới vai trò của tổ chức Công đoàn là nói tới tác dụng và tác động của nó đối với quyền và lợi ích của công nhân, đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Vai trò của Công đoàn được thể hiện thông qua hoạt động thực tiễn, chỉ thể hiện tác dụng thông qua hoạt động thực tiễn, được xã hội xác nhận và thừa nhận hiệu quả của các hoạt động đó. Ngày nay, trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, vai trò của Công đoàn Việt Nam ngày càng được khẳng định và mở rộng.
Thực tế, trong chặng đường lịch sử của đất nước những năm qua, Công đoàn Việt Nam đã trưởng thành nhanh chóng, thể hiện rõ vai trò của mình đối với xã hội, Công đoàn đã thu hút, vận 12 động giáo dục, tổ chức công nhân, viên chức và lao động tham gia tích cực vào sự nghiệp cách mạng. Trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, Công đoàn đã tỏ rõ sự tham gia tích cực, tác động mạnh mẽ của mình thông qua hệ thống tổ chức từ trung ương đến địa phương, ngành, cơ sở, thông qua lực lượng đoàn viên, công nhân, viên chức và lao động đã đạt được những thành tựu to lớn góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của Đảng. Qua đó cho thấy, vai trò của tổ chức Công đoàn có tầm quan trọng đặc biệt, Công đoàn ra đời vì yêu cầu lợi ích của công nhân, lao động và để thống nhất lực lượng giai cấp công nhân, đấu tranh cho sự phát triển xã hội. Và ngày nay, ở hầu hết các quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển, có rất nhiều tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức từ thiện hoạt động nhưng chỉ có tổ chức Công đoàn mới trực tiếp tham gia giải quyết quan hệ lao động.
Ở Việt Nam, trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, các doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài, các doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài ngày càng nhiều. Đây là cơ hội để tổ chức Công đoàn hoạt động nhưng cũng đòi hỏi tổ chức Công đoàn phải đổi mới nội dung và phương pháp hoạt động cho phù hợp, phải tập hợp được nhiều đoàn viên, bám sát cơ sở để giữ vững vị trí, phát huy vai trò tích cực của mình. Bên cạnh đó, vị thế, vai trò, chức năng của tổ chức Công đoàn còn được quy định trong rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành như: Hiến pháp; Bộ Luật lao động; Luật Công đoàn; Luật Doanh nghiệp. Từ đó, tạo ra những điều kiện pháp lý - xã hội cho toàn bộ hoạt động của Công đoàn mà đặc biệt vai trò này thể hiện rất rõ trong quan hệ lao động ở các doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp vốn đầu tư nước ngoài mà không phải bất cứ tổ chức chính trị-xã hội nào cũng có được.
Đời sống văn hóa tinh thần Thuật ngữ “đời sống văn hóa” đã có ở nước ta trong mấy thập kỷ qua và được sử dụng khá phổ biến trong nghiên cứu khoa học cũng như trong các văn kiện của Đảng, trên các phương tiện truyền thông đại chúng. Nhưng hiện nay vẫn chưa có một khái niệm chuẩn về đời sống đời sống văn hoá được chính thức công nhận, trong thực tế nghiên 13 cứu về đời sống văn hoá ở nước ta thường được dựa trên một số quan điểm của một số tác giả sau: Trước tiên phải nhắc đến tư tưởng của Hồ Chí Minh - Người đã đúc kết quan điểm của mình về văn hoá cũng như đời sống văn hoá; Năm 1947, với bút danh Tân Sinh, Hồ Chí Minh đã viết trong cuốn Đời sống mới: “Làm thế nào cho đời sống của dân ta vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn. Đó là mục đích đời sống mới”. Hồ Chí Minh luôn coi đời sống văn hoá gồm hai lĩnh vực vật chất và tinh thần và dù nói, viết hay khi hành động, Người đều coi trọng cả hai lĩnh vực này, coi đây là mục đích cuối cùng của việc xây dựng đời sống mới làm cho dân ta vật chất được đầy đủ hơn, tinh thần được vui mạnh hơn.
Trong quan niệm của Hồ Chí Minh, đời sống văn hóa được hiểu là đời sống tinh thần.Tuy nhiên việc phân định hai lĩnh vực văn hoá trên đây chỉ là tương đối vì mỗi kết quả của những hoạt động này đều hàm chứa trong mình nó cả hai giá trị, giá trị vật chất và giá trị tinh thần. Theo quan niệm của tác giả Hoàng Vinh: Đời sống văn hóa là một bộ phận của đời sống xã hội, bao gồm các yếu tố văn hóa tĩnh tại (Các sản phẩm văn hóa vật thể, các thiết chế văn hóa) cũng như các yếu tố văn hóa động thái (con người và các dạng hoạt động văn hóa của nó). Xét về một phương diện khác, đời sống văn hóa bao gồm các hình thức văn hóa hiện thực và cả các hình thức sinh hoạt văn hóa tâm linh [56, tr. Theo quan điểm trên, Giáo sư Hoàng Vinh đã khẳng định đời sống văn hoá là một bộ phận của đời sống xã hội, mà đời sống xã hội là phức thể những hoạt động sống của con người nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần.
Nói cách khác, đời sống văn hóa là bộ phận đặc biệt bao trùm mọi lĩnh vực của đời sống con người, từ việc sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần đến việc giữ gìn, trao đổi và tiêu dùng những sản phẩm đó. Từ hoạt động sáng tạo nhằm tạo ra các giá trị tinh thần đến việc hưởng thụ các giá trị tinh thần. Từ cảnh quan, môi trường xung quanh mà ở đó con người hoạt động sáng tạo với mọi mối quan hệ xã hội phức tạp và tinh tế. Có thể nói, đời sống văn hóa không chỉ bó hẹp trong những hoạt động thường nhật mang tính chủ quan của con người mà bao trùm toàn bộ phương thức sinh hoạt văn hóa của đời sống tinh thần xã hội.